Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THUẬN BẮC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2024/HSST.

Ngày: 03-6-2024.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Phước Trí.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Ngọc Ngân, bà Mai Thị Hồng Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Duy Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Huệ - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 6 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận mở phiên tòa xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2024/HSST ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HS ngày 20/5/2024 đối với bị cáo:

LÊ THANH H, sinh năm 1967 tại Bình Định.

Nơi đăng ký thường trú: khu phố A, phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.

Chỗ ở hiện nay: khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thanh H - sinh năm 1937 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị C - sinh năm 1937. Vợ: Trần Thị Mỹ D - sinh năm 1970. Con: có 02 con, lớn nhất 27 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi.

Tiền án; Tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 30/12/2021 bị Ủy ban nhân dân phường P, thành phố P - T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu với số tiền 2.000.000₫.

Bị cáo bị đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thanh H1 - sinh năm 1967, tạm trú tại khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận (nơi đăng ký thường trú tại khu phố A, phường P, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận).

Khoảng đầu năm 2022, H1 có quen biết một người tên P (không rõ nhân thân, lai lịch cụ thể) và P nói có thuốc lá điếu nhập lậu hiệu JET muốn bán, nếu H1 cần mua thì P sẽ bán lại cho H1, H1 đồng ý. Sau đó, H1 cho P số zalo 0916.203.499 của H1 để khi nào có thuốc lá thì P sẽ gọi vào zalo của H1 báo cho H1 biết để mua (P nói chỉ liên lạc qua số zalo để không bị Công an theo dõi và sau khi mua thuốc lá xong thì xóa nhật ký cuộc gọi trên zalo). Khoảng 09 giờ 00 ngày 10/01/2024, P gọi điện thoại vào zalo của H1 nói có 160 cây (1600 bao) thuốc lá điếu hiệu JET bán với giá 200.000đ/01 cây, H1 đồng ý mua. P nói H1 đi ra khu vực đường Q đoạn qua xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận để nhận thuốc lá. Khoảng 09 giờ 10 phút ngày 10/01/2024, H1 điều khiển xe mô tô biển số 85B1-484.64 của con gái là chị Lê Thanh N - sinh năm 1999 cùng trú tại khu phố A, phường P đi một mình từ thành phố P - T theo đường Q ra hướng xã C, huyện T. Khi đến địa phận thôn H, xã C, huyện T, H1 dừng xe mô tô ở lề đường của phần đường hướng N đi P để chờ nhận thuốc lá. Khi đang đứng chờ thì có 01 xe ô tô tải loại nhỏ, khoảng 3,5 tấn, màu trắng, không rõ biển số chạy từ hướng N vào P và dừng lại tại chỗ H1 đang đứng chờ. Trên xe có 01 người đàn ông khoảng 40 tuổi (không rõ tên, tuổi, lai lịch) đi xuống xe và bốc từ trên thùng xe xuống 02 thùng giấy cacton và 01 bao tải màu xanh chứa tổng cộng 160 cây (1.600 bao) thuốc lá điếu hiệu JET giao cho H1. Sau khi kiểm tra thuốc lá, H1 đưa số tiền 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng) cho người này rồi H1 bỏ 02 thùng giấy cacton và 01 bao tải màu xanh chứa thuốc lá điếu hiệu JET lên xe mô tô 85B1-484.64 rồi chở về P theo đường Q. Khi chạy xe mô tô đến đoạn đường thuộc thôn G, xã B thì H1 bị tổ tuần tra Công an huyện T phối hợp với Công an xã B kiểm tra. Khi kiểm tra, H1 không xuất trình được hóa đơn, chứng từ mua bán số thuốc lá trên nên tổ công tác lập biên bản vụ việc và đưa H1 cùng tang vật về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc, H1 đã khai nhận diễn biến hành vi như trên.

Tại công văn số 26/CV-2024HHTLVN ngày 19/01/2024 của H2 đã kết luận mẫu cây thuốc lá điếu nhãn hiệu JET do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đề nghị giám định là thuốc lá điếu nhập lậu.

Tại Bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS, ngày 25 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, tỉnh Ninh Thuận truy tố bị cáo Lê Thanh H1 về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự (BLHS);

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm b khoản 1 và khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thanh H1 từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”; xử phạt bổ sung từ 20.000.000₫ đến 30.000.000đ. Đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo. Đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh H1 khai nhận toàn bộ hành vi của mình. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản sự việc vào lúc 10 giờ 30 phút ngày 10/01/2024, biên bản khám xét vào lúc 15 giờ 00 phút ngày 10/01/2024, công văn số 26/CV-2024 HHTLVN ngày 19/01/2024 của H2 và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, có đủ căn cứ xác định: Với mục đích mua thuốc lá điếu nhập lậu để bán lại kiếm lời, ngày 10/01/2024, Lê Thanh H1 đã mua của một người đàn ông tên P 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu nhãn hiệu JET. Hành vi của bị cáo Lê Thanh H1 đã xâm phạm trật tự quản lý của Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh và lưu thông hàng hóa nên cần phải xử lý nghiêm minh để răn đe và phòng ngừa chung. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo Lê Thanh H1 về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[3] Hành vi trên của bị cáo Lê Thanh H1 là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quản lý đối với các loại hàng hoá Nhà nước cấm lưu hành, mặc dù trước đó đã bị xử phạt hành chính nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học. Vì vậy phải xử lý nghiêm minh nhằm giáo dục răn đe và phòng ngừa tội phạm.

Xét về nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thì thấy:

Bị cáo Lê Thanh H1 là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu ngoại nhập lậu với mục đích kiếm lời. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước về buôn bán hàng cấm, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế. Do đó, cần có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả và hành vi của bị cáo đã thực hiện để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo là quân nhân, tham gia quân đội từ năm 1986, xuất ngũ năm 1989, hiện đang nuôi dưỡng người mẹ già yếu. Do đó, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo chưa nhận thức được đầy đủ đây là hàng hóa Nhà nước cấm lưu hành, trường hợp vi phạm sẽ bị xử lý hình sự. Sau khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội đã bị phát hiện, ngăn chặn xử lý kịp

thời, chưa phát sinh hậu quả xấu. Xét, nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng đến an ninh trật tự. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa và thể hiện được tính nhân đạo của pháp luật. Ngoài ra, theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Xét bị cáo làm nghề buôn bán có thu nhập nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[4] Đối với người đàn ông tên P đã bán thuốc lá và người đàn ông trên xe ô tô đã giao thuốc lá cho bị cáo H1: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được họ tên, tuổi, địa chỉ của người đàn ông tên P và người đàn ông đã giao thuốc lá cho bị cáo H1 và phương tiện xe ô tô chở thuốc lá. Khi nào xác định được nhân thân, lai lịch và phương tiện xe ô tô thì sẽ xử lý sau.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Quá trình điều tra đã tạm giữ đối với 1.600 (Một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu JET: Quá trình điều tra xác định, đây là thuốc lá điếu nhập lậu bị Nhà nước Việt Nam cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy vì không có giá trị sử dụng.
  • - Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision màu đen, biển số 85B1-484.64, số khung: 5814GY603994, số máy: JF66E0604061 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng kí xe mô tô số 031578, tên chủ xe Lê Thanh N của xe mô tô biển số 85B1-484.64: Quá trình điều tra xác định, đây là xe mô tô thuộc sở hữu của chị Lê Thanh N là con ruột của bị cáo H1. Vào ngày 10/01/2024, chị N cho bị cáo H1 mượn xe mô tô này để sử dụng, chị N không biết việc bị cáo H1 sử dụng xe mô tô này để đi chở thuốc lá điếu nhập lậu nên không có cơ sở để tịch thu. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị Lê Thanh N xe mô tô và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 85B1-484.64 là có căn cứ.
  • - Đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng Iphone 7 plus màu đen, có gắn ốp lưng nhựa màu trắng, gắn thẻ sim điện thoại số 0916.203.xxx: Quá trình điều tra xác định, đây là tài sản thuộc sở hữu của bị cáo H1, điện thoại di động và thẻ sim này bị cáo H1 sử dụng vào mục đích liên lạc để buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu nên phải tịch thu, sung công quỹ Nhà Nước.

Về trách nhiệm dân sự: Không phát sinh.

[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào: điểm b khoản 1, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh H1 phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thanh H1 15 (mười lăm) tháng tù, cho bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án (03/6/2024).

Giao Bị cáo Lê Thanh H1 cho Ủy ban nhân dân phường P, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Xử phạt bổ sung Bị cáo Lê Thanh H1: 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu, tiêu hủy đối với 1.600 (Một nghìn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu JET.
  • - Tịch thu, sung công quỹ nhà nước đối với đối với 01 (một) điện thoại di động cảm ứng Iphone 7 plus màu đen, có gắn ốp lưng nhựa màu trắng, gắn thẻ sim điện thoại số 0916.203.xxx.
  • (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/4/2024 giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuận Bắc).

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thanh H1 phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, có mặt Bị cáo, quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 03/6/2024).

(đã giải thích chế định án treo cho bị cáo).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Thuận Bắc;
  • - Công an huyện Thuận Bắc;
  • - Chi cục THADS huyện Thuận Bắc;
  • - Thi hành án phạt tù;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nình Thuận;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Phước Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2024/HSST ngày 03/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN về buôn bán hàng cấm

  • Số bản án: 09/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN BẮC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh H phạm tội mua bán hàng cấm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger