Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/LĐPT.

Ngày: 19/02/2025.

V/v kiện: Đơn phương chấm

dứt hợp đồng lao động.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Hữu Nhân

Các Thẩm phán:

  1. Bà Phan Thị Út
  2. Ông Phan Nguyên Nguyên

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Thái - Thư ký Tòa án nhân dân, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Sen - Kiểm sát viên

Ngày 19/02/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án lao động thụ lý số: 91/LĐPT ngày 04/12/2024 về “Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.

Do Bản án lao động sơ thẩm số: 28/2024/LĐST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7 bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 6597/2024/QĐXXPT-LĐ ngày 13/12/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1991. Vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn Á, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ liên hệ: 1 Đ, Phường G, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Bùi Trần Nhật V, sinh năm: 1992. Có mặt.

Địa chỉ: C N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Văn bản ủy quyền số công chứng 4298 quyển số 07/2024TP/CC-SCC/HĐGD ngày 19/7/2024).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Nguyễn Thị Q - Công ty L – Đoàn luật sư Thành phố H.

Địa chỉ: Số C đường N, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Công ty TNHH K2;

Địa chỉ: Số H đường số A KDC H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Kim P; chức vụ: Giám đốc Công ty TNHH K2.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Từ Thái H1, sinh năm: 1973. Có mặt.

Địa chỉ: Số A Chung cư H, G T, phường H, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Văn bản ủy quyền ngày 23/12/2024).

Người kháng cáo: Bà Bùi Trần Nhật V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn thì:

Ngày 28/10/2023, bà H nhận được mời thử việc vị trí Nhân viên thiết kế trong vòng 01 tháng tại Công ty TNHH K2 (gọi tắt là công ty) từ ngày 01/11/2023 với mức lương thử việc là 16.000.000 đồng/tháng. Sau khi hết hạn thử việc, ngày 01/12/2023 bà H và Công ty ký kết Hợp đồng lao động số: 002/HĐLĐ-VT/2023, thời hạn của hợp đồng là 01 năm (bắt đầu từ ngày 01/12/2023 đến ngày 30/11/2024) với mức lương hàng tháng là 16.000.000đồng.

Tuy nhiên, vào ngày 09/02/2024 ông Nguyễn Văn K - đại diện Công ty liên hệ với bà H yêu cầu bà H không cần phải đến Công ty làm việc nữa mà không có bất kỳ lý do chính đáng nào để chấm dứt Hợp đồng với bà H và Công ty không chốt số ngày lao động đối với bà H trong tháng 02/2024 để trả lương. Mặc dù bà H đã gửi Công văn đến Công ty để có thể nhận được phương án giải quyết phù hợp, nhưng Công ty vẫn giữ thái độ im lặng và không có bất kỳ sự phản hồi nào cho bà H.

Ngày 28/02/2024 bà H đã có đơn gửi đến Phòng L1 với mong muốn Công ty có thể cùng hòa giải, thỏa thuận và tìm ra phương án giải quyết theo đúng quy định, nhưng Công ty vắng mặt không tham gia hòa giải.

Dù bà H đã rất thiện chí liên hệ yêu cầu Công ty giải quyết vụ việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật theo trình tự thủ tục quy định, nhưng Công ty không có trách nhiệm và thiện chí để giải quyết, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H vì bị đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái luật. Vì vậy, bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

Buộc Công ty thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc của bà H trong tháng 02/2024 với tổng số tiền công là 2.000.000 đồng; buộc Công ty trả cho bà H một khoản tiền bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do hành vi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động là 16.000.000 đồng x 2 tháng = 32.000.000 đồng; buộc Công ty phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà H không được làm việc, tạm tính từ 03/02/2024 đến ngày 18/9/2024 là: 145.100.000 đồng; buộc Công ty phải nhận bà H trở lại làm việc cho đến khi hết hạn Hợp đồng lao động. Trường hợp Công ty không muốn nhận bà H trở lại làm việc thì phải bồi thường cho bà H thêm ít nhất 02 tháng tiền lương là: 32.000.000 đồng.

Trường hợp Công ty nhận bà H trở lại làm việc công ty phải chi trả cho bà hiền số tiền 178.720.000 đồng; trường hợp Công ty không nhận bà H trở lại làm việc công ty phải chi trả cho bà H số tiền 212.720.000 đồng

Bị đơn có bà Nguyễn Thị Kim P trình bày:

Công ty ký hợp đồng lao động với bà H vào ngày 01/12/2023 đến ngày 30/11/2024 thời hạn 01 năm. Sau 02 tháng làm việc tại công ty từ ngày 01/12/2023 đến 03/02/2024, bà H đã không hoàn thành nhiệm vụ được giao theo Hợp đồng lao động, cụ thể:

Không đạt chỉ tiêu yêu cầu thiết kế; không tuân thủ làm việc theo yêu cầu của cấp trên, tự làm theo ý gây thiệt hại ảnh hưởng hợp đồng kinh doanh; khách hàng phàn nàn và hủy hợp đồng thiết kế - thi công; đồng nghiệp phàn nàn về văn hóa ứng xử trong công ty; thường xuyên đi trễ, về sớm, nghỉ phép (không lương) liên tục gây ảnh hưởng đến tiến độ dự án. Mặc dù đã được nhắc nhở nhiều lần, và yêu cầu khắc phục tình trạng trên. Tuy nhiên, đến ngày 03/02/2024, bà H vẫn không khắc phục tình trạng trên nên ngày 9/2/2024 ông K có trao đổi với bà H về công việc với nội dung sau :

“ Việc này anh không muốn trao đổi vào năm tới nên trao đổi em luôn. Liên quan một số cách làm không phù hợp, sau thời gian bắt đầu đã lộ rõ tính chất không phù hợp, liên quan em có con nhỏ nên anh đã ko dừng việc sớm hơn. Anh thông báo để em chuẩn bị nhé. Việc dừng lại sẽ tốt cho em tìm môi trường mới. Chúc em và nhỏ vui Tết nhé. Hiện tại công ty ít dự án, cuối năm (tháng2) em có làm mấy ngày. Anh B làm lương tròn tháng 2 gửi em.”

Ngày 12/2/2024, bà H có đề nghị được làm hết tháng 2 và kết thúc công việc và tôi đã phản hồi không cần làm việc lý do đầu năm công ty chưa có dự án và nhắc lại về thái độ năng lực của bà H.

“ Thực sự vấn đề của em A không nói hết Em làm việc không được tốt, Anh mất 1 khách K1 nói rất nhiều về thái độ của em và từ chối làm việc tiếp theo Anh nói em làm việc trên group để anh xử lý, em lại không làm và nhắn riêng K1 gọi phàn nàn Anh, anh vì em mới vào nên không gây áp lực bỏ qua. Anh đã chuyển hồ sơ em cho nhân sự Chị P sẽ làm việc. Em đến văn phòng xử lý nhé. Thanks em!

Ngày 16/3/2024, bà P - Trưởng phòng nhân sự công ty đã liên hệ với bà H để yêu cầu bà H đến công ty làm việc và xem xét kết thúc hợp đồng lao động nhưng bà H vẫn tự ý bỏ việc không đến công ty cho đến nay. Căn cứ theo Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019: Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên, người lao động tự đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Trong trường hợp này, Công ty có thể đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động hoặc xử lý kỷ luật người lao động theo quy định tại khoản 4 Điều 125 Bộ luật lao động.

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:

Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.

Căn cứ theo quy định trên, Sau 30 ngày kể từ ngày thông báo yêu cầu bà H quay trở lại công ty, Bà H tự ý bỏ việc không có bất kỳ lý do, vào ngày 18/4/2024 Công ty chúng tôi tổ chức cuộc họp bàn về việc Quyết định chấm dứt HĐLĐ lý do "người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật” và ra quyết định thôi việc đối với bà kể từ ngày 19/4/2024 (Chi tiết theo biên bản cuộc họp số Số: 02/CV-VT/BBCH ngày 18/04/2024). Như vậy, sau 30 ngày, kể từ ngày ra thông báo yêu cầu người lao động đến công ty, người lao động vẫn tự ý không đến công ty.

Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với Bà Lê Thị H căn cứ vào:

Căn cứ theo theo Khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 : người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên. Người lao động đơn phương tự chấm dứt HĐLĐ trái quy định.

Điều 40. Nghĩa vụ của người lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

  1. Phải bồi thường cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
  2. Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này."

Như vậy, bà H phải bồi thường cho công ty nửa tháng tiền lương tương ứng: 16.000.000/2 = 8.000.000 đồng. Khoản tiền bồi thường những ngày không báo trước từ ngày 18/3/2024 đến 18/4/2024 : 30 ngày, tương ứng số tiền : 16.000.000 đồng. Tổng số tiền bà H đền bù cho công ty T 24.000.000 đồng. Công ty sẽ khởi kiện bà H bằng một vụ án khác.

Tôi yêu cầu bà H không phải làm việc nữa vì đầu năm công ty chưa có công trình, liên quan đến thủ tục bà H sẽ làm việc với bà P bộ phận nhân sự làm việc theo đúng quy định. Hơn nữa, công ty chúng tôi KHÔNG nhận được bất kì công văn yêu cầu nào của bà H gửi đến công ty như đã nêu trong đơn. Về phía bộ phận nhân sự đã liên hệ nhiều lần nhưng bà H vẫn từ chối và tự ý bỏ việc ở nhà không đến công ty cho đến khi chúng tôi ra cuộc họp để ra quyết định về việc tự ý bỏ việc, tự đơn phương chấm dứt HĐLĐ với công ty chúng tôi.

Nội dung thứ 2 trong đơn kiện như sau : “ Ngày 28/02/2024 tôi đã có gửi đơn đến Phòng L1 với mong muốn tôi và Công ty K2 có thể cùng hoà giải, thoả thuận và tìm ra phương án giải quyết theo đúng quy định...

Tôi không nhận được bất kì thông báo nào của Phòng L1 cho tới khi nhận được giấy triệu tập của Toà Án Nhân Dân Quận 7.

Về yêu cầu khởi kiện của bà H:

  1. Yêu cầu công ty K2 thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc của bà H trong tháng 2/2024 là 2.000.000 đồng.

Theo biên bản cuộc họp ngày 18/04/2024, chúng tôi có nêu rõ Công ty TNHH K2 có trách nhiệm thanh toán đầy đủ cho bà Lê Thị H các khoản lương như thỏa thuận trong hợp đồng lao động, cũng như tất cả các quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Việt Nam sau khi bà H đền bù vi phạm HĐLĐ đối với công ty.

  1. Buộc Công ty K2 phải trả tiền đóng BHXH, BHYT, BHTN trong những ngày không được làm việc, tạm tính từ 03/02/2024 đến 18/03/2024 là 32.320.000 đồng “

Sau khi ký HĐLĐ chính thức với công ty, Bà H từ chối không cung cấp thông tin sổ BHXH cho phòng nhân sự vì lý do đang nhận bảo hiểm thất nghiệp ở công ty cũ. Trong HĐLĐ công ty chúng tôi kí mức lương chưa bao gồm BHXH. Sau 02 tháng làm việc vẫn không cung cấp thông tin BHXH của Bà cho phòng nhân sự công ty. Việc Bà H yêu cầu đền bù là không có cơ sở

  1. Buộc Công ty K2 phải nhận tôi trở lại làm việc cho đến khi hết hạn HĐLĐ, Trường hợp không muốn nhận lại thì phải bồi thường cho tôi thêm ít nhất 02 tháng tiền lương là: 32.000.000 đồng”

Điều này Bà H nêu trong đơn là không có cơ sở, trên thực tế bà H đã tự ý bỏ việc, đơn phương tự chấm dứt HĐLĐ trái pháp luật.

Tại Bản án lao động sơ thẩm số: 28/2024/LĐ-ST ngày 18/9/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7 đã xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Buộc Công ty TNHH K2 thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc của bà H trong tháng 02/2024 với tổng số tiền công là 2.000.000 đồng.

Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chi trả số tiền 14.000.000 đồng tiền lương tháng 02/2024 cho bà H.

Tổng số tiền Công ty TNHH K2 thanh toán cho bà H là 16.000.000 đồng.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với các yêu cầu:
  • Buộc Công ty TNHH K2 trả cho bà H một khoản tiền bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do hành vi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động = 16.000.000 đồng x 2 tháng = 32.000.000 đồng.
  • Buộc Công ty TNHH K2 phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà H không được làm việc, tạm tính từ 03/02/2024 đến ngày 18/09/2024 là: 145.120.000 đồng.
  • Buộc Công ty TNHH K2 phải nhận bà H trở lại làm việc cho đến khi hết hạn Hợp đồng lao động. Trường hợp Công ty TNHH K2 không muốn nhận bà H trở lại làm việc thì phải bồi thường cho bà H thêm ít nhất 02 tháng tiền lương là: 32.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về nghĩa vụ thi hành án, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 26/9/2024, bà Bùi Trần Nhật V1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị H có đơn kháng cáo tàon bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V là người đại diện cho bà H đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; ông Từ Thái H1 đại diện theo ủy quyền của bị đơn đề nghị bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

  • Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình thụ lý Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm; tại phiên tòa Hội đồng xét xử và các đương sự đã chấp hành đúng quy định về phiên tòa phúc thẩm.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Bùi Trần Nhật V là người đại diện theo ủy quyền của bà H hợp lệ và trong thời hạn luật định nên có căn cứ để xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về kháng cáo của đương sự:

[2.1] Xét Hợp đồng lao động số 002/HĐLĐ-VT/2023 ngày 01/12/2023.

Bà H ký kết Hợp đồng lao động số: 002/HĐLĐ-VT/2023 ngày 01/12/2023 có thời hạn 01 năm với Công ty TNHH K2 (gọi tắt là Công ty) từ tháng 01/12/2023 đến ngày 30/11/2024 với mức lương chính 13.000.000 đồng và phụ cấp 3.000.000 đồng có nội dung và hình thức không trái với quy định do đó Hợp đồng có giá trị về mặt pháp lý.

Ngày 17/4/2024, Công ty đã ra Thông báo chấm dứt hợp đồng lao động với bà H. Ngày 09/02/2024, thông qua zalo, ông Nguyễn Văn K – đại diện Công ty N1 liên hệ với bà H yêu cầu không cần phải đến Công ty làm việc nữa. Ngày 12/02/2024, bà H có nhắn tin cho ông K về việc chưa nhận được phản hồi về việc sẽ đi làm hết tháng 2 và kết thúc công việc.

Ngày 12/2/2024, bà H có đề nghị được làm hết tháng 02 và kết thúc công việc và ông K đã phản hồi tin nhắn có nội dung: “Không cần làm em. Anh sẽ sắp xếp các plan lại”.Đến ngày 13/3/2024, ông K thông báo cho bà H. Tới thời điểm này, công ty chưa chính thức chấm dứt lao động với bà H.

Ông K có nhắn tin: “Công ty giờ khó khăn giảm nhân sự Anh gọi cố gắng gửi tròn tháng để em kiếm việc khác với tinh thần trách nhiệm. Anh cần sức lực vượt qua khó khăn lúc này. Đó việc cuối cùng mà anh có thể làm được cho nhau”

“ Thực sự vấn đề của em A không nói hết.Em làm việc không được tốt, Anh mất 1 khách. Khách nói rất nhiều về thái độ của em và từ chối làm việc tiếp theo. Anh nói em làm việc trên group để anh xử lý, em lại không làm và nhắn riêng. Khách gọi phàn nàn Anh, anh vì em mới vào nên không gây áp lực bỏ qua. Anh đã chuyển hồ sơ em cho nhân sự. Chị P sẽ làm việc. Em đến văn phòng xử lý nhé.”

Tin nhắn zalo của bà P phụ trách hành chính nhân sự của công ty ngày 16/3/2024 có nội dung: “ 1.Qua bảng đánh giá công việc trong quá trình em làm việc ở công ty từ quản lý trực tiếp: không đạt chất lượng và thái độ trong công việc, không phù hợp văn hóa làm việc của công ty. Làm ảnh hưởng đến tiến độ chốt dự án và sự không hài lòng từ phía khách hàng. 2. Anh K quyết định ngưng HĐLĐ với em có lý do chính đáng. Đối với trường hợp của em chỉ cần báo trước 03 ngày (HĐLĐ dưới 1 năm) Thời hạn thông báo trước Tết: 03/02/2024”.Vì vậy sau Tết em nên có mặt ở C để làm thủ tục ngưng HĐLĐ. Cty có trách nhiệm thnah toán các khoản còn lại sau đó. Vì vậy đê xử lý thỏa đáng vấn đề trên, công ty yêu cầu em có mặt ở cty vào lúc 10h ngày 18/3/2024 để hoàn tất các thủ tục còn lại cho em”.

[2.2] Tại bút lục 102-103 thể hiện việc bà H đã phản hồi tin nhắn của ông K với nội dung đồng ý thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động: “ Dạ em sẽ làm hết tháng 2 và nghị ạ, em cảm ơn anh”.

Đại diện nguyên đơn cho rằng tin nhắn ngày 09/02/2024 và tin nhắn ngày 13/3/2024 là Công ty đã chấm dứt Hợp đồng lao động với bà H. Tuy nhiên, nội dung tin nhắn không có nội dung nào xác định cụ thể thời gian chấm dứt lao động với bà H. Sau khi nhận được tin nhắn, bà H đã không tới công ty làm việc. Bà H không xuất trình được chứng cứ chứng minh bà H tới công ty làm việc sau ngày 09/02/2024 cho đến ngày xét xử đồng thời bà H cũng không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông K có nhận được thư bà H có gửi thư cho Công ty cụ thể là gửi cho ông K. Tuy nhiên, bà H không tới làm việc như thông báo. Căn cứ khoản 6 Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2005 thì tin nhắn zalo nêu trên được xem là chứng cứ.

Theo nội dung tin nhắn, khi ông K là giám đốc công ty thông báo cho bà H, ông K không xác định cụ thể ngày nào bà H chấm dứt các công việc ở công ty. Đối với lương tháng 02, bà H có đi làm được 03 ngày, ông K có thông báo trả đủ lương cho bà H. Tại thời điểm thông báo cho bà H không cần đi làm hết tháng 02, công ty vẫn xác định trả lương cho bà H.

Mặc dù đại diện công ty thông báo ngày 09/02/2024 cho bà H không cần đến công ty làm việc nhưng sau đó ngày 16/3/2024 đại diện công ty thông báo cho bà H yêu cầu ngày 18/3/2024 đến công ty làm việc hoàn tất thủ tục liên quan đến Hợp đồng lao động. Công ty căn cứ vào việc thông báo cho bà H qua các tin nhắn và căn cứ vào việc từ ngày 01/3/2024 bà H không tới công ty làm việc.

Theo quy định tại Điều 36 Bộ Luật lao động về quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động thì trường hợp của bà Hiền từ ngày thông báo 09/02/2024 đến ngày 16/3/2024, công ty mới thông báo chính thức cho bà H là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 2 Điều 36 nên công ty không vi phạm về thời hạn báo trước. Từ tháng 02/2024, bà H không đến công ty nhưng công ty thông báo trả lương đầy đủ cho bà H. Tuy nhiên, đến nay bà H vẫn chưa nhận được tiền lương tháng 02/2024.

Đến ngày 18/4/2024, công ty tiến hành họp lập biên bản về việc bà H không đến công ty làm việc quá 05 ngày là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động. Đến ngày 19/4/2024, công ty ban hành quyết định số 01-2024/QĐTV-VT chấm dứt hợp đồng lý do “người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng”. Quyết định này công ty chưa giao cho bà H vì bà H đang khởi kiện tại Tòa án.

Tại Điều 36 Bộ luật Lao động 2019định như sau: Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động:

1.Người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp sau đây:...

e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;

3. Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động”.

Việc bà H không đến công ty làm việc từ ngày 03/02/2024 là vi phạm hợp đồng lao động đã ký kết, bà H không tới Công ty làm việc khi chưa có Quyết định thôi việc của Công ty thuộc điểm “e) Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên” được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Đến ngày 19/4/2024, Công ty ra quyết định số 01/2024 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với bà H với lý do nghỉ việc quá 05 ngày liên tục không có lý do và không được sự đồng ý của Công ty.

[2.3] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V cũng xác nhận bà H kề từ thời điểm ngày 03/02/2024, bà H nghỉ tết nguyên đán thì không đến Công ty làm việc nữa là dựa vào sự thỏa thuận tin nhắn hai bên trao đổi giữa ông K và bà H; bà H cũng đồng ý sẽ làm việc hết tháng 02/2024 rồi nghỉ việc tại công ty, nhưng bà H không vào công ty làm việc là hành vi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.

Tại khoản 4.10 Điều 4 Hợp đồng lao động cũng quy định: “Trường hợp người lao động nghỉ việc mà không có quyết định bằng văn bản của bên sử dụng lao động thì được xem là “đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động” thì sẽ bồi thường thiệt hại và công ty không có trách nhiệm thanh toán lương cho người lao động trong trường hợp này”.

Do Công ty không vi phạm thời gian báo trước, bà H vi phạm không đến công ty làm việc các ngày sau tháng 02/2024 cho tới thời điểm này vì vậy việc bà H cho rằng Công ty chấm dứt Hợp đồng lao động với bà H trái quy định của pháp luật là không có căn cứ. Do đó, các yêu cầu khởi kiện của bà H không được chấp nhận.

[2.4] Đối với yêu cầu: Buộc Công ty thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc của bà H trong tháng 02/2024 với tổng số tiền công là 2.000.000 đồng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 90 Bộ luật lao động 2019 quy định về tiền lương: "1. Tiền lương là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động theo thỏa thuận để thực hiện công việc, bao gồm mức lương theo công việc hoặc chức danh, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác...", của bà H là căn cứ giải quyết các tranh chấp theo hợp đồng lao động. Các bên đều xác nhận bà H làm việc tại Công ty K2 trong 03 ngày của tháng 02/2024, Công ty K2 xác định bà H không tới công ty làm việc bà H khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc trong tháng 02/2024 tổng số tiền 2.000.000 đồng, là có cơ sở chấp nhận.

Công ty chính thức chấm dứt Hợp đồng lao động với bà H là ngày 18/4/2024. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lương 03 ngày làm việc của tháng 02/2024 số tiền 2.000.000 đồng, nhưng Công ty đồng ý trả hết số tiền lương tháng 02/2024 cho bà H là 16.000.000 đồng là sự tự nguyện của công ty nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận là phù hợp.

[2.5] Đối với các yêu cầu: Buộc Công ty TNHH K2 trả cho bà H một khoản tiền bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do hành vi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động = 16.000.000 đồng x 2 tháng = 32.000.000 đồng; buộc Công ty TNHH K2 phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà H không được làm việc, tạm tính từ 03/02/2024 đến ngày 18/09/2024 là: 145.120.000 đồng và buộc Công ty TNHH K2 phải nhận bà H trở lại làm việc cho đến khi hết hạn Hợp đồng lao động. Trường hợp Công ty TNHH K2 không muốn nhận bà H trở lại làm việc thì phải bồi thường cho bà H thêm ít nhất 02 tháng tiền lương là: 32.000.000 đồng thì:

Theo quy định tại khoản 3 Điều 3 của hợp đồng lao động, quy định Công ty sẽ đóng bảo hiểm cho những nhân viên làm việc tại Công ty G, BHYT, BHTN sau khi ký hợp đồng lao động. Đại diện công ty trình bày có yêu cầu bà H gửi thông tin số BHXH để Công ty tiếp tục đóng BHXH cho bà H. Tuy nhiên, bà H không cung cấp thông tin vì lý do đang chờ nhận bảo hiểm thất nghiệp.

Kết quả xác minh tại công văn số: 803 ngày 23/7/2024 của Bảo hiểm xã hội Quận G: Công ty TNHH K2 không tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn lao động bệnh nghề nghiệp cho bà Lê Thị H, sinh năm 1991, căn cước [...], hộ khẩu thường trú: số thôn Á, Bình Định, K, Thái Bình tại Bảo hiểm xã hội Q1.

Theo khoản 2 Điều 21 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Công ty có nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp là loại hình bảo hiểm xã hội bắt buộc cho người lao động vào quỹ Bảo hiểm xã hội theo hợp đồng lao động đã ký kết. Tuy nhiên, bà H không yêu cầu Công ty Đ, bảo hiểm y tế trong thời gian bà H làm việc tại Công ty K2, mà yêu cầu Công ty K2 phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiêm thất nghiệp trong những ngày bà H không được làm việc, tính từ 03/2024 đến ngày 18/9/2024. Sổ bảo hiểm hiện nay bà H đang giữ.

Do bà H đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không có cơ sở chấp nhận. Công ty không đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động trái quy định của pháp luật do đó các yêu cầu khởi kiện trên không có cơ sở nên Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn là có căn cứ.

[3] Bản án sơ thẩm đã xem xét đánh giá chứng cứ một các toàn diện để giải quyết vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bà H mà cần giữ nguyên bản án sơ thẩm theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ.

[4] Về án phí: Bà H không phải chịu án phí lao động sơ thẩm và phúc thẩm; Công ty TNHH K2 phải chịu án phí lao động theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân năm 2015;

- Áp dụng các điều 34, 36 của Bộ luật Lao động năm 2019;

- Áp dụng Nghị định 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Lê Thị H, giữ nguyên bản án lao động sơ thẩm, xử.

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H.

Buộc Công ty TNHH K3 Tròn thanh toán tiền lương đối với 03 ngày làm việc của bà H trong tháng 02/2024 với tổng số tiền công là 2.000.000 đồng. Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn chi trả số tiền 14.000.000 đồng tiền lương tháng 02/2024 cho bà H. Tổng số tiền Công ty TNHH K2 thanh toán cho bà H là 16.000.000 (mười sáu triệu) đồng.

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị H đối với các yêu cầu:
  • Buộc Công ty TNHH K2 trả cho bà H một khoản tiền bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động do hành vi đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động = 16.000.000 đồng x 2 tháng = 32.000.000 đồng.
  • Buộc Công ty TNHH K2 phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày bà H không được làm việc, tạm tính từ 03/02/2024 đến ngày 18/09/2024 là: 145.120.000 đồng.
  • Buộc Công ty TNHH K2 phải nhận bà H trở lại làm việc cho đến khi hết hạn Hợp đồng lao động. Trường hợp Công ty TNHH K2 không muốn nhận bà H trở lại làm việc thì phải bồi thường cho bà H thêm ít nhất 02 tháng tiền lương là: 32.000.000 đồng.
  1. Kể từ ngày bà Lê Thị H có đơn yêu cầu thi hành án nếu chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán thì Công ty TNHH K2 phải chịu thêm tiền lãi của số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Khoản 1 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015; nếu không có thỏa thuận thì thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.
  1. Án phí lao động sơ thẩm: Công ty TNHH K2 phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn) đồng.
  1. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TANDCC tại Tp HCM;
  • - VKSND Tp HCM;
  • - TAND Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Hữu N

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/LĐPT ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

  • Số bản án: 09/2025/LĐPT
  • Quan hệ pháp luật: Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Lao động
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger