Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/KDTM-ST

Ngày 26 tháng 12 năm 2025

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Văn Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Quách Xuân Luyện và bà Phạm Thị Mơ.

Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Vân Dung - Thư ký Tòa án nhân khu vực 5 - Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tham gia phiên tòa:

Ông Ngô Đức Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 01/2025/TLST-KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2025, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 19/0025/QĐÐST-KDTM ngày 03 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Công ty Cổ phần M; địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà V, Số I phố D, phường D, quận C thành phố Hà Nội (Cũ), nay là Tầng A, Tòa nhà V, Số I D, phường C, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Cao Duy T1 - Trưởng phòng Xử lý nợ Miền Bắc; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Tùng L, ông Nguyễn Văn S và ông Nguyễn Phúc D - Chuyên viên xử lý nợ; ông L có mặt; vắng mặt ông S, ông D.
  2. Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1); địa chỉ: số H L, phường L, quận Đ, Thành phố Hà Nội (cũ), nay là số H L, phường Đ, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D1 - Chủ tịch Hội đồng quản trị; người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Hoàng L1 - Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Phạm Tất T2 - Chuyên viên xử lý nợ; vắng mặt và có đơn xin xử vắng mặt.

* Bị đơn:

Bà Trịnh Thị Kim A, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình; có bản tự khai, thể hiện quan điểm xin xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện đề ngày 29/5/2025 và trong quá trình xét xử, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng Thương mại Cổ phần V (V1) trình bày:

Theo Hợp đồng tín dụng, bà Trịnh Thị Kim A vay của Ngân hàng TMCP V (V1) tổng số tiền là: 4,280,000,000 đồng (Bốn tỷ, hai trăm tám mươi triệu đồng) theo các Hợp đồng tín dụng như sau:

* Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo:

  • - Số tiền vay: 700.000.000 đồng (Bảy trăm triệu đồng);
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh đồ gỗ;
  • - Thời hạn vay: 120 tháng;
  • - Lãi suất vay và kỳ hạn điều chỉnh: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12.3%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 12 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định ký định kỳ 03 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày Chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4.2%/năm.

* Hợp đồng cho vay số 10082211 ký ngày 28/11/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo:

  • - Số tiền vay: 3.580.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi triệu đồng);
  • - Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh sản xuất đồ gỗ;
  • - Thời hạn vay: 12 tháng;
  • - Lãi suất vay và kỳ hạn điều chỉnh: lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 7.49%/năm. Lãi suất cho vay trong hạn được cố định 03 tháng kể từ ngày giải ngân. Hết thời gian cố định, lãi suất cho vay trong hạn sẽ được điều chỉnh. Ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên là ngày đầu tiên sau thời gian cố định, sau đó lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh định kỳ 01 tháng/01 lần tính từ ngày điều chỉnh lãi suất đầu tiên. Trường hợp ngày điều chỉnh lãi suất rơi vào ngày Chủ nhật, ngày nghỉ lễ theo quy định của V thì ngày điều chỉnh lãi suất là ngày làm việc đầu tiên liền sau ngày chủ nhật, ngày nghỉ lễ đó. Mức điều chỉnh lãi suất được xác định bằng mức Lãi suất cơ sở VNĐ áp dụng đối với khoản vay có tài sản bảo đảm dành cho khách hàng cá nhân kỳ hạn 12 tháng được Bên Ngân hàng công bố (được niêm yết tại website: www.V.com.vn) có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 4.0%/năm.

Lãi suất cho vay trong hạn được điều chỉnh theo các quy định nêu trên sau đây được gọi là “Mức lãi suất cho vay điều chỉnh”. Các Bên thống nhất rằng đến kỳ điều chỉnh lãi suất, Bên Ngân hàng sẽ tự động thực hiện việc điều chỉnh theo đúng các thỏa thuận nêu trên và sẽ thông báo cho Bên vay theo quy định của pháp luật. Bên vay chấp thuận mức lãi suất mới kể từ thời điểm Bên Ngân hàng thực hiện việc điều chỉnh và cam kết thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền lãi theo mức lãi suất được điều chỉnh. Lãi suất quá hạn: bằng 150% mức lãi suất trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Để đảm bảo cho các khoản vay trên, bà Trịnh Thị Kim A đã thế chấp tài sản là: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa đất số 126, tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Trịnh Thị Kim A theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264, Số vào sổ cấp GCN: CH00005 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014; Ngày 29/06/2023, tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, đã đăng ký chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị Kim A. Mọi công trình, tài sản khác được cải tạo, xây dựng gắn liền với thửa đất nêu trên đều thuộc tài sản đảm bảo cho khoản vay. Việc thế chấp được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.

Quá trình thực hiện Hợp đồng bà Trịnh Thị Kim A đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V và kể từ ngày ngày 15/11/2024 phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng.

Theo Hợp đồng mua bán nợ số 03/2025/VPB-MARS; Phụ lục đính kèm ký ngày 28/03/2025 giữa Ngân hàng TMCP V (V1) với Công ty Cổ phần M (Công ty M) thì V đồng ý bán một phần (95%) và Công ty M đồng ý mua một phần (95%) khoản nợ của khách hàng vay là bà Trịnh Thị Kim A đối với các Hợp đồng cho vay hạn mức số 10082211 kí ngày 28/11/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo; Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 kí ngày 05/07/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo bao gồm (các) khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà bà Trịnh Thị Kim A đã ký kết với V.

Sau khi được giải ngân đến nay bà Trịnh Thị Kim A mới trả được số tiền lãi 304.253.784 đồng (đối với Hợp đồng cho vay số 10082211 ký ngày 28/11/2023); còn đối với Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 bà Trịnh Thị Kim A mới trả được số tiền 87.495.000 đồng nợ gốc, trả lãi được 105.810.363 đồng.

Nay, Ngân hàng TMCP V và Công ty Cổ phần M buộc bà Trịnh Thị Kim A thanh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho:

  • - Công ty Cổ phần M số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày (17/11/2025 - Ngày Toà án mởi phiên hoà giải) là 5.250.715.791 (Năm tỷ hai trăm năm mươi triệu, bảy trăm mười lăm nghìn, bảy trăm chín mươi mốt đồng); trong đó: nợ gốc là 3,982,879,750 đồng, nợ lãi là 1.177.845.850 đồng, lãi chậm trả 89.990.190 đồng;
  • - Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày (17/11/2025- Ngày Toà án mởi phiên hoà giải) là 276.353.463 đồng (Hai trăm bảy mươi sáu triệu, ba trăm năm mươi ba nghìn, bốn trăm sáu mươi ba đồng); trong đó: nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 61.991.887 đồng, lãi chậm trả 4.736.326 đồng.

Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày bà Trịnh Thị Kim A thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V.

Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà bà Trịnh Thị Kim A không trả nợ đầy đủ cho Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng V thì Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V, cụ thể như sau:

Toàn bộ Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 126, tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình), thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Trịnh Thị Kim A theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264, Số vào sổ cấp GCN: CH00005 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014; ngày 29/06/2023, tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, đã đăng ký chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị Kim A (do ông Trịnh Văn Đ, bà Phạm Thị Thu T3 cho bà Kim A).

Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của bà Trịnh Thị Kim A để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.

- Về án phí, chi phí tố tụng: Bà Trịnh Thị Kim A phải chịu toàn bộ án phí và chi phí tố tụng.

* Về phía bị đơn - bà Trịnh Thị Kim A: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã gửi Thông báo về việc thụ lý vụ án cho bà Trịnh Thị Kim A biết và nhiều lần triệu tập, thông báo cho bà đến Tòa án để làm bản tự khai, tham gia buổi xem xét, thẩm định tại chỗ nhưng bà Kim A không có mặt và cũng không tham gia các thủ tục tố tụng. Vì vậy, theo yêu cầu của nguyên đơn, Toà án nhân dân khu vực 5 Ninh Bình đã tiến hành đăng tin Thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với bà Trịnh Thị Kim A với nội dung yêu cầu bà có mặt tại Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như các phiên tòa nhưng bà Kim A đều vắng mặt không có lý do. Ngoài ra, Tòa án còn gửi các văn bản cho bà Trịnh Thị Kim A thông qua tổ chức dịch vụ bưu chính; gia đình anh bà Kin A đã nhận các văn bản của Tòa án và cam đoan giao lại cho bà Kim A), nhưng bà Kim A vẫn không đến Tòa án làm việc. Vì vậy, Tòa án không thể yêu cầu bà Trịnh Thị Kim A làm bản tự khai hoặc tiến hành lấy lời khai đối với bà Kim A và tiến hành hòa giải giữa các đương sự được.

* Tại Biên bản làm việc ngày 14/10/2025, Công an xã T cung cấp: Theo dữ liệu Quốc gia về dân cư thì bà Trịnh Thị Kim A, sinh năm 2002; số Căn cước công dân [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội cấp ngày 14/05/2021; có hộ khẩu thường trú tại: Thôn A T, xã T, huyện T, Hà Nam (cũ), nay là thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình. Bà Kim A chưa cắt khẩu và cũng không đăng ký tạm trú ở nơi nào khác. Bà Kim A là con của ông Trịnh Văn Đ, sinh năm 1976 và bà Phạm Thị T4, sinh năm 1981; cùng nơi cư trú: Thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình. Việc bà Kim A có thường xuyên sinh sống ở địa phương hay không thì Công an xã không nắm rõ.

* Tại biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 04/9/2025, xác định:

Thửa đất số 126, tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, nay là thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014 mang tên ông Trịnh Văn Đ, bà Phạm Thị T4; tặng cho bà Trịnh Thị Kim A ngày 29/6/2023 có diện tích 374m² trong đó gồm 176m² đất ONT, 47m² đất CLN, 151m² đất NTS. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà cấp 4 lợp tôn, 01 nhà 02 tầng mái bê tông cốt thép, 01 nhà cấp 4 lợp ngói (Nhà này nằm trên phần đất ruộng không nằm trên đất sổ đỏ của bà Kim A), 01 nhà cấp 4 (nhà xưởng - nhà tạm lợp proximăng vỉ kèo bương tre), 01 nhà xưởng lợp mái tôn, vỉ kèo bằng sắt).

* Ngày 23 tháng 12 năm 2025, bị đơn bà Trịnh Thị Kim A có đến Toà án nhân dân nộp bản tự khai thể hiện nội dung:

Ngày 5/7/2023, bà có vay của ngân hàng V số tiền là 700 triệu đồng, thời hạn vay là 12 tháng; mục đích vay kinh doanh đồ gỗ.

Tài sản thế chấp cho khoản vay là toàn bộ quyền sử dụng đất và toàn bộ tài sản gắn liền với đất, đối với Thửa đất 126 tờ bản đồ PL02 tại thôn A Tâng, xã T huyện T, tinh H (cũ), nay là Thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình theo giấy chứng nhận quyền, sử dụng đất, quyền quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR609264 do UBND huyện T cấp ngày 26/3/2024, mang tên hộ ông Trịnh Văn Đ, bà Phạm Thị T4, tặng cho bà ngày 29/6/2023.

Ngày 28/11/2023 bà có vay của Ngân hàng V số tiền 3.580.000.000 đồng, thời hạn vay là 12 tháng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh sản xuất đồ gỗ.

Quá trình thực hiện khoản vay bà đã trả V được số tiền gốc khoảng 200.000.000 đồng và 600.000.000 đồng tiền lãi cho 2 khoản vay. Do làm ăn kinh tế khó khăn nên bà không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như hợp đồng tín dụng đã ký. Nay, Công ty cổ phần M và Ngân hàng V cùng yêu cầu khởi kịên bà trả nợ số tiền như sau:

  • - Công ty Cổ phần M số tiền gốc, tạm tính đến ngày (17/11/2015) là 5.250.115.191 trong đó nợ gốc là 3.982.879.750 đồng, nợ lãi là 1.177.895.850 đồng, lãi chậm trả là 89.990.190 đồng
  • - Ngân hàng V số tiền gốc, lãi tạm tính đến ngày (17/11/2025) là 276.353.463 đồng, trong đó nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 61.991.881 đồng, lãi chậm trả 4.136.326 đồng.

Bà Kim A có quan điểm như sau: Bà nhất trí với số nợ gốc và lãi trên, do kinh tế khó khăn bà xin Ngân hàng V và công ty M giảm lãi, bà chỉ có khả năng trả số tiền gốc và 300 triệu đồng tiền lãi (Gốc 4.192,505,000 đồng và lãi 300.000.000 đồng, tổng khoảng 4,6 tỷ đồng).

Bà Kim A xác định thửa đất số 126 tờ bản đồ PL02 địa chỉ thôn A T xã T huyện T, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là thôn A T xã T, tỉnh Ninh Bình và các tài sản trên đất gồm: 1 nhà cấp bốn lợp tôn, 1 nhà mái bằng 2 tầng mái bê tông cốt thép, một nhà cấp bốn - nhà tạm lợp Proximăng vì kèo bương tre, 01 nhà xưởng lợp mái tôn vì kèo bằng sắt là tài sản của bà. Tiếp giáp thửa đất 126 là đất NTS diện tích 114 m² do Ủy ban quản lý (đất nông nghiệp). Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp mang tên bố mẹ bà sau này đã làm thủ tục tặng cho bà.

Bà Trịnh Thị Kim A mong quý tòa xem xét giải quyết giúp đỡ bà và gia đình. Bà sẽ thanh toán đủ số tiền 4,6 tỷ sau 03 tháng nữa và xin vắng mặt tại phiên toà vì bà bận công việc.

* Tại phiên tòa:

  • - Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn - Công ty Cổ phần M giữ nguyên quan điểm như đã trình bày ở trên. Do phần mềm tính lãi có sai số nên số liệu khoản tiền gốc và các khoản lãi tại Phiên hoà giải, công khai tài liệu chứng cứ ngày 17/11/2025 chưa được chính xác. Do đó, trước khi khai mạc phiên toà, Công ty Cổ phần M xin cung cấp bảng tính số liệu cụ thể đối với khoản vay của bà Trịnh Thị Kim A để Hội đồng xét xử làm căn cứ giải quyết vụ án. Nay, Công ty Cổ phần M yêu cầu bà Trịnh Thị Kim A thanh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty Cổ phần M số tiền gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 26/12/2025 là 4.867.057.566 đồng (Bốn tỷ tám trăm sáu bẩy triệu không trăm lăm mươi bẩy nghìn năm trăm sáu sáu đồng ); trong đó: nợ gốc là 3,982,879,750 đồng, nợ lãi là 877.234.002 đồng, lãi chậm trả 6.943.814 đồng và có quan điểm: Các chi phí tố tụng như xem xét thẩm định tại chỗ và đăng thông tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú phía bên nguyên đơn đã nộp tạm ứng và thanh toán xong với Toà án. Nay, đại diện phía nguyên đơn có quan điểm xin chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ chi phí trên và không đề nghị Toà án xem xét.
  • - Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và đề nghị giải quyết vụ án như quan điểm, yêu cầu đã trình bày tại bản trình bày ý kiến được gửi cho Toà án và yêu cầu bà Trịnh Thị Kim A thanh phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền gốc, lãi tạm tính đến hết ngày xét xử sơ thẩm 26/12/2025 là 256.160.924 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi nghìn chín trăm hai mươi tư đồng); trong đó: nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 46.170.210 đồng, lãi chậm trả 365.464 đồng.
  • - Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về trình tự giải quyết vụ án và phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn, đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 30, 35, 39, 68, 144, 147, 157, 158, 227, 228 BLTTDS; Nghị quyết 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của HĐTP TANDTC, Điều 117, 119, 274, 275, 280, 292, 293, 294, 295, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 322, 323, 351, 357, 463, 466, 468 BLDS; Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (nay là Điều 109,100,103 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2024); Điều 179 Luật đất đai năm 2013; Điều 4 Nghị định số 102/2017/NĐ-CP ngày 01/9/2017 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm; Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:

Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V. Buộc bà Trịnh Thị Kim A phải trả cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V toàn bộ số tiền gốc và lãi theo Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023, Hợp đồng cho vay hạn mức số 10082211 và khế ước nhận nợ kèm theo kí ngày 28/11/2023, tạm tính đến ngày 26/12/2025 là 5.123.218.490 đồng, trong đó nợ gốc 4.192.505.000 đồng, tiền lãi 923.404.212 đồng, lãi chậm trả 7.309.278 đồng), theo tỷ lệ sở hữu dư nợ của Công ty M 95%, Ngân hàng V 05%, cụ thể như sau:

  • + Trả cho Công ty Cổ phần M số tiền gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 26/12/2025 là 4.867.057.566 đồng (Bốn tỷ tám trăm sáu bẩy triệu không trăm lăm mươi bẩy nghìn năm trăm sáu sáu đồng ); trong đó: nợ gốc là 3,982,879,750 đồng, nợ lãi là 877.234.002 đồng, lãi chậm trả 6.943.814 đồng
  • + Trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số tiền gốc, lãi tạm tính đến hết ngày 26/12/2025 là 256.160.924 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 46.170.210 đồng, lãi chậm trả 365.464 đồng.

Bà Trịnh Thị Kim A phải chịu tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (27/12/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay số 10082211 ký ngày 28/11/2023, khế ước nhận nợ kèm theo và Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023, khế ước nhận nợ kèm theo và các văn bản tín dụng của khoản vay cho đến ngày bà Trịnh Thị Kim A thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V.

Kể từ ngày Bản án/Quyết định có hiệu lực pháp luật mà bà Trịnh Thị Kim A không trả nợ đầy đủ cho Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng V thì Công Ty Cổ phần M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V, cụ thể như sau:

Toàn bộ Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 126, tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình), thuộc quyền sở hữu/sử dụng của bà Trịnh Thị Kim A theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264, Số vào sổ cấp GCN: CH00005 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014; ngày 29/06/2023, tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh H - Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T, đã đăng ký chuyển nhượng cho bà Trịnh Thị Kim A.

Bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bà Trịnh Thị Kim A để thu hồi nợ”.

Về chi phí tố tụng, án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ vào nội dung Đơn khởi kiện của Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận, quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn là bà Trịnh Thị Kim A, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (Cũ), nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình; Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Trịnh Thị Kim A vắng mặt nhiều lần không có lý do; Toà án đã tiến hành tống đạt các thủ tục tố tụng cũng như đăng tin tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú, ấn định thời gian mở phiên họp công khai tài liệu chứng cứ, cũng như thời gian mở phiên toà lần 1, lần 2 nhưng bà Kim A đều không có mặt. Ngân hàng V và bà Trịnh Thị Kim A sau này có đơn, văn bản đề nghị xét xử vắng mặt. Do đó, theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung:

Xem xét tính hợp pháp của Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 kèm theo khế ước nhận nợ và Hợp đồng cho vay hạn mức số 10082211 ký ngày 28/11/2023 kèm theo khế ước nhận nợ; văn bản tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng V với bà Trịnh Thị Kim A và Hợp đồng mua, bán nợ số 03/2025/VPB- MARS ký ngày 28/03/2025, giữa Ngân hàng V và Công ty Cổ phần M thấy: Khi giao kết hợp đồng, các bên đều tự nguyện, nội dung và mục đích của hợp đồng phù hợp với nhu cầu của mỗi bên, phù hợp với quy định tại các điều 116, 117, 118 và 119 của Bộ luật Dân sự năm 2015, nên các Khế ước nhận nợ đã ký kết giữa Ngân hàng V với bà Trịnh Thị Kim A và Hợp đồng mua, bán nợ số 03/2025/VPB- MARS ký ngày 28/03/2025 giữa Ngân hàng V và Công ty Cổ phần M đều hợp pháp.

- Đối với hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 kèm theo khế ước nhận nợ: Ngày 05/7/2023, Ngân hàng V đã giải ngân bà Trịnh Thị Kim A vay số tiền là 700.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh đồ gỗ. Quá trình thực hiện, bà Trịnh Thị Kim A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V tiền nợ gốc, tiền lãi như các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng và Khế ước nhận nợ. Sau khi được giải ngân bà Trịnh Thị Kim A đã trả được V số tiền gốc là 87.495.000 đồng, trả lãi 114.635.818 đồng. Kể từ ngày 01/01/2024, bà Trịnh Thị Kim A không thực hiện nghĩa vụ trả gốc và lãi cho Ngân hàng V.

- Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức số 10082211 và theo khế ước nhận nợ: Ngày 28/11/2023, Ngân hàng V đã giải ngân bà Trịnh Thị Kim A vay số tiền là 3.580.000.000 đồng. Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh sản xuất đồ gỗ. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Trịnh Thị Kim A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng V tiền nợ gốc, tiền lãi như các bên đã thỏa thuận theo hợp đồng và Khế ước nhận nợ. Sau khi được giải ngân bà Trịnh Thị Kim A đã trả được V số tiền 304.253.784 đồng tiền lãi. Kể từ ngày 01/11/2024, bà Trịnh Thị Kim A không thực hiện nghĩa vụ trả lãi cho Ngân hàng V.

Như vậy, bà Trịnh Thị Kim A đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền nợ gốc, tiền lãi các bên đã ký kết trong các hợp đồng cho vay hạn mức. Ngày 15/11/2025, Ngân hàng V chuyển toàn bộ khoản nợ của bà Trịnh Thị Kim A sang nợ quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn theo thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ mà các bên đã ký. Theo đó Ngân hàng V đã bán 95% khoản nợ phát sinh theo các Hợp đồng và Khế ước nhận nợ, giữa Ngân hàng V với bà Trịnh Thị Kim A cho Công ty Cổ phần M (Theo Hợp đồng mua, bán nợ số 03/2025/VDP- MARS ký ngày 28/03/2025), còn 5% khoản nợ trên Ngân hàng V giữ lại không bán.

Việc Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V cùng khởi kiện yêu cầu bà Trịnh Thị Kim A trả số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm (26/12/2025) cụ thể: Trả cho Công ty Cổ phần M số nợ gốc là 4.867.057.566 đồng (Bốn tỷ tám trăm sáu bẩy triệu không trăm lăm mươi bẩy nghìn năm trăm sáu sáu đồng ); trong đó: nợ gốc là 3,982,879,750 đồng, nợ lãi là 877.234.002 đồng, lãi chậm trả 6.943.814 đồng; Trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số nợ gốc là 256.160.924 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 46.170.210 đồng, lãi chậm trả 365.464 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (27/12/2025) trên số dư nợ gốc chưa thanh toán theo lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng cho vay hạn mức, Khế ước nhận nợ và các văn bản tín dụng mà các bên đã ký cho đến khi bà Trịnh Thị Kim A thanh toán xong khoản nợ. Nếu bà Kim A không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, thì Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xem xét Hợp đồng thế chấp số LN2305229223104 ngày 04/07/2023, số công chứng 4741, quyển số 01-2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/7/2023 ký tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam. Hội đồng xét xử xét thấy: Bà Trịnh Thị Kim A và Ngân hàng V thực hiện việc ký kết hợp đồng thế chấp là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không có sự lừa dối, Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C và đã được đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện T. Do đó, các hợp đồng nêu trên đều có hiệu lực pháp luật. Vì vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Công ty M và Ngân hàng V trong trường hợp bà Trịnh Thị Kim A không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ khoản tiền đã vay nêu trên, thì Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V có quyền đề nghị Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

Tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ đối với tửa đất số 126, tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình có sự tham gia của đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn Công ty M và bố đẻ bà bà Trịnh Thị Kim A là ông Trịnh Văn Đ cùng chính quyền địa phương; vắng mặt bị đơn bà Trịnh Thị Kim A. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà sơ thẩm các đương sự đều ghi nhận kết quả xem xét thẩm định và nhất trí, không có ý kiến, khiếu nại gì.

* Kết quả xem xét, thẩm định: Thửa đất số 126 tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014 mang tên ông Trịnh Văn Đ, bà Phạm Thị T4; tặng cho bà Trịnh Thị Kim A ngày 29/6/2023 có diện tích 374m² trong đó gồm 176m² đất ONT, 47m² đất CLN, 151m² đất NTS. Theo Kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất như sau: Bà Trịnh Thị Kim A hiện tại đang sử dụng 501 m² đất. Trong đó gồm: 176m² đất ONT, 47m² đất CLN, 151m² đất NTS, 114m² đất NTS do UB quản lý và 13m² đất UB (có sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo của buổi xem xét thẩm định tại chỗ) tại thửa đất số 126 tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà cấp 4 lợp tôn, 01 nhà 02 tầng mái bê tông cốt thép, 01 nhà cấp 4 lợp ngói (Nhà này nằm trên phần đất ruộng không nằm trên đất sổ đỏ của bà Kim A), 01 nhà cấp 4 (nhà xưởng - nhà tạm lợp proximăng vỉ kèo bương tre), 01 nhà xưởng lợp mái tôn, vỉ kèo bằng sắt).

[3] Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ:

Xét Hợp đồng thế chấp số LN2305229223104 ngày 04/07/2023, bà Trịnh Thị Kim A ký kết với Ngân hàng V là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối hay ép buộc. Các bên không có phản đối hay có ý kiến gì sau khi ký kết hợp đồng; các điều khoản trong hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp có hiệu lực kể từ ngày ký kết, đăng ký giao dịch bảo đảm. Các bên thỏa thuận Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan chức năng xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ của bên vay. Nay, bà Trịnh Thị Kim A vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là có căn cứ, đúng pháp luật. Yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với Điều 299 Bộ luật Dân sự, quy định về các trường hợp xử lý tài sản thế chấp được Tòa án chấp nhận.

[4] Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng V về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bà Trịnh Thị Kim A để thu hồi nợ”. Xét thấy, những yêu cầu này của nguyên đơn không có cơ sở, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

[5] Về chi phí tố tụng (xem xét thẩm định tại chỗ và chi phí đăng tin): Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần M đã nộp tạm ứng tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chi phí đăng tin và đã thanh toán xong với Tòa án. Nay, Công ty Cổ phần M không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm có giá ngạch theo quy định của pháp luật. Trả lại cho Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Thi hành án dân sự, tỉnh Ninh Bình.

[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Nguyên đơn - Ngân hàng V và bị đơn bà Trịnh Thị Kim A vắng mặt tại phiên toà, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

- Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 5 - Ninh Bình tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, và có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 30, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số: 85/2025/QH15 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 40, 95, 144, 147, 157, 158, 169, 227, 228, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các điều 117, 119, 292, 293, 295, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 351, 357, 385, 463, 466, 468, 470 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 99, 100 và 103 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; các điều 166, 167, 168, 170, 179 của Luật Đất đai năm 2013; Điều 306 Luật Thương mại 2005; Điều 35, 49 Nghị định số 21/2021/NĐ-CP ngày 19/3/2021 Nghị định quy định thi hành Bộ luật Dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và Điều 4, Điều 48 Nghị định 102/2017/NĐ-CP ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm”; Nghị quyết số 81/2025/UBTVQH15 ngày 27/6/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về thành lập Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; quy định phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ của Toà án nhân dân cấp tỉnh, Toà án nhân dân khu vực; Điều 5, 6 và Điều 8 Nghị quyết số 01/2025/NQ-HĐTP ngày 27/6/2025 của Hội đồng Thẩm pháp Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định về tiếp nhận nhiệm vụ, thực hiện thẩm quyền của các Toà án nhân dân; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” của Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V đối với bà Trịnh Thị Kim A.
  2. Buộc bà Trịnh Thị Kim A phải trả cho đồng nguyên đơn là Công ty Cổ phần M và Ngân hàng V tổng số tiền tính đến ngày 26/12/2025 là: 5.123.218.490 đồng. (Trong đó số tiền gốc: 4.192.505.000 đồng; nợ lãi: 923.404.212 đồng; lãi chậm trả: 7.309.278 đồng), theo tỷ lệ sở hữu dư nợ của Công ty M 95%, Ngân hàng V 05%.

    Cụ thể:

    • + Trả cho Công ty Cổ phần M số nợ là 4.867.057.566 đồng (Bốn tỷ tám trăm sáu bẩy triệu không trăm lăm mươi bẩy nghìn năm trăm sáu mươi sáu đồng); trong đó: nợ gốc là 3,982,879,750 đồng, nợ lãi là 877.234.002 đồng, lãi chậm trả 6.943.814 đồng;
    • + Trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần V số nợ là 256.160.924 đồng (Hai trăm năm mươi sáu triệu, một trăm sáu mươi nghìn chín trăm hai mươi lăm đồng); trong đó: nợ gốc là 209.625.250 đồng, nợ lãi là 46.170.210 đồng, lãi chậm trả 365.464 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 27/12/2025) cho đến khi thi hành án xong, bà Trịnh Thị Kim A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại và Khế ước nhận nợ và văn bản tín dụng mà bà Trịnh Thị Kim A đã ký với Ngân hàng V. Khi bà Kim A thanh toán xong khoản nợ cho Công ty M và Ngân hàng V thì Công ty M và Ngân hàng V phải trả lại 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014; đăng ký biến động ngày 29/6/2023 cho bà Trịnh Thị Kim A.

    Trong trường hợp bà Trịnh Thị Kim A không thanh toán hoặc thanh toán không đủ số nợ cho Công ty M và Ngân hàng V thì Công ty M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho Công ty M và Ngân hàng V; nếu còn dư thì trả lại cho bà Trịnh Thị Kim A. Khi kê biên, phát mại tài sản thì chủ tài sản và những người đang quản lý sử dụng tài sản thế chấp phải bàn giao tài sản đảm bảo cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền.

    Tài sản thế chấp theo kết quả thẩm định thực tế, gồm có:

    Thửa đất số 126 tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam (cũ), nay là thôn A T, xã T, tỉnh Ninh Bình theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BR 609264 do UBND huyện T cấp ngày 26/03/2014 mang tên ông Trịnh Văn Đ, bà Phạm Thị T4; tặng cho bà Trịnh Thị Kim A ngày 29/6/2023 có diện tích 374m² trong đó gồm 176m² đất ONT, 47m² đất CLN, 151m² đất NTS. Theo Kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất như sau: Bà Trịnh Thị Kim A hiện tại đang sử dụng 501 m² đất, trong đó gồm 176m² đất ONT, 47m² đất CLN, 151m² đất NTS, 114m² đất NTS do UB quản lý và 13m² đất UB (có sơ đồ đo đạc hiện trạng kèm theo của ngày xem xét thẩm định tại chỗ) tại thửa đất số 126 tờ bản đồ số PL2, tại địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam, nay là thôn A, xã T, tỉnh Ninh Bình. Tài sản trên đất, gồm: 01 nhà cấp 4 lợp tôn, 01 nhà 02 tầng mái bê tông cốt thép, 01 nhà cấp 4 lợp ngói (Nhà này nằm trên phần đất ruộng không nằm trên đất sổ đỏ của bà Kim A), 01 nhà cấp 4 (nhà xưởng - nhà tạm lợp proximăng vỉ kèo bương tre), 01 nhà xưởng lợp mái tôn, vỉ kèo bằng sắt). Theo Hợp đồng thế chấp số Hợp đồng thế chấp số LN2305229223104 ngày 04/07/2023, số công chứng 4741, quyển số 01-2023/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 04/7/2023 ký tại Văn phòng C, địa chỉ: số G đường N, phường M, thành phố P, tỉnh Hà Nam (cũ) nay là số G đường N, phường P, tỉnh Ninh Bình.

  3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của đồng nguyên đơn - Công ty M và Ngân hàng V về việc “Nếu phát mại tài sản vẫn không đủ để thu hồi toàn bộ khoản nợ thì Công ty M và Ngân hàng V có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên, phát mại các tài sản khác thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của bà Trịnh Thị Kim A để thu hồi nợ”.
  4. Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bà Trịnh Thị Kim A phải nộp 113.123.218 đồng làm tròn thành 113.123.000 đồng (Một trăm mười ba triệu một trăm hai mươi ba nghìn đồng). Trả lại Công ty M và Ngân hàng V số tiền tạm ứng án phí (Đại diện Công ty Cổ phần M) đã nộp là 56.357.000 đồng (Năm mươi sáu triệu ba trăm năm mươi bẩy nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000083 ngày 16/7/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Ninh Bình.
  5. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu yêu cầu thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong khoản tiền chi phí tố tụng, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự

  6. Quyền kháng cáo đối với bản án: Công ty Cổ phần M có mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Nguyên đơn Ngân hàng V và bị đơn bà Trịnh Thị Kim A vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND khu vực 5 - Ninh Bình;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Cổng thông tin điện tử của Tòa án;
  • - Lưu HCTP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Vũ Văn Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/KDTM-ST ngày 26/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 09/2025/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 5 - NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Theo Hợp đồng tín dụng, bà Trịnh Thị Kim A vay của Ngân hàng TMCP V (V1) tổng số tiền là: 4,280,000,000 đồng (Bốn tỷ, hai trăm tám mươi triệu đồng) theo các Hợp đồng tín dụng như sau: * Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo: - Số tiền vay: 700.000.000 đồng ( Bảy trăm triệu đồng); -Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh đồ gỗ; -Thời hạn vay: 120 tháng; * Hợp đồng cho vay số 10082211 ký ngày 28/11/2023 và khế ước nhận nợ kèm theo: - Số tiền vay: 3.580.000.000 đồng (Ba tỷ, năm trăm tám mươi triệu đồng); -Mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh sản xuất đồ gỗ; -Thời hạn vay: 12 tháng; Sau khi được giải ngân đến nay bà Trịnh Thị Kim A mới trả được số tiền lãi 304.253.784 đồng (đối với Hợp đồng cho vay số 10082211 ký ngày 28/11/2023); còn đối với Hợp đồng cho vay số LN2305229223289 ký ngày 05/07/2023 bà Trịnh Thị Kim A mới trả được số tiền 87.495.000 đồng nợ gốc, trả lãi được 105.810.363 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger