Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Lực.

Các Thẩm phán:Ông Nguyễn Đắc Cường;

Ông Phan Trí Dũng.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: ông Trần Văn Bé - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số 36/2024/TLPT-KDTM ngày 07/10/2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”. Do Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 34/2024/KDTM-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 52/2024/QĐ-PT ngày 20/11/2024 và Thông báo số 01/TB-TA ngày 08/01/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH MTV B; trụ sở: Số B, tổ F, ấp C, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:

  1. Ông Phạm Văn H, sinh năm 1971; địa chỉ: số D, đường N, phường C, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  2. Ông Nguyễn Duy T, sinh năm 1974; địa chỉ: Số F, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.

Là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 25/11/2024).

- Bị đơn: Công ty Cổ phần T1; địa chỉ: Số A, đường số B, Khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn:

2

  1. Ông Phùng Ngọc Q, sinh năm 1969; địa chỉ: Chung cư H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 13/12/2023). Vắng mặt.
  2. Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; địa chỉ: Số E, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; là người đại diện theo ủy quyền (Giấy ủy quyền ngày 13/12/2023). Có mặt.

- Người kháng cáo: Bị đơn Công ty Cổ phần T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 03/8/2023, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Năm 2021 và 2022, Công ty TNHH MTV B (sau đây viết tắt là Công ty B) và Nhà máy luyện phôi thép – Chi nhánh Công ty Cổ phần T1, trực thuộc Công ty Cổ phần T1 (sau đây viết tắt là Công ty T1) ký 02 hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa, cụ thể là: Hợp đồng số 7/PO3/721015 ngày 02/01/2021 và Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021 để thực hiện việc mua bán sắt, thép phế liệu dùng cho luyện phôi thép. Theo đó, nguyên đơn cung cấp sắt, thép phế liệu các loại cho nhà máy luyện phôi thép theo từng đơn hàng của nhà máy L1 phôi thép. Số lượng, chất lượng, giá cả, thời gian, địa điểm giao hàng, phương thức thanh toán theo thỏa thuận tại 02 hợp đồng trên.

Phương thức thanh toán: Bên B (bên mua) thanh toán cho bên A (bên bán) sau 07 (bảy) ngày (không kể ngày thứ 7, và chủ nhật, lễ, tết).

Quá trình thực hiệp các hợp đồng:

- Đối với Hợp đồng số 7/PO3/721015 ngày 02/01/2021: Kể từ các đợt giao hàng ngày 25/11/2021 đến 31/12/2021, Công ty B giao tổng cộng 35 đơn hàng (hóa đơn), tổng giá trị là 38.941.626.828 đồng. Đến ngày 23/02/2022, Công ty T1 mới thanh toán hết. Đối chiếu ngày giao hàng (phát hành hóa đơn) và ngày Công ty T1 thanh toán, thì Công ty T1 thanh toán trễ hạn tất cả đơn hàng so với thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, Công ty T1 phải chịu tiền lãi chậm thanh toán theo quy định của pháp luật. Cụ thể theo bảng tính chi tiết tiền mua hàng, thanh toán theo hóa đơn, tiền nợ và lãi chậm thanh toán Hợp đồng số 7/PO3/721015. Công ty T1 phải thanh toán cho Công ty B Thư số tiền 485.463.761 đồng tiền lãi chậm thanh toán.

- Đối với Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021 (các đơn hàng từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022): Kể từ các đợt giao hàng ngày 01/01/2022 đến 30/6/2022, Công ty B giao nhiều đơn hàng (hóa đơn), tổng giá trị là 133.979.846.053 đồng. Đối chiếu ngày giao hàng (phát hành hóa đơn) và ngày Công ty T1 thanh toán, thì Công ty T1 thanh toán trễ hạn tất cả đơn hàng so với thỏa thuận trong hợp đồng. Đến nay, Công ty T1 chỉ thanh toán 106.951.791.938 đồng.

Tuy nhiên, trong thời gian chuẩn bị xét xử, Cục Thuế tỉnh B có Văn bản số 3614/CTBRV-TTKT3 ngày 16/4/2024 về việc cung cấp số liệu, chứng cứ; và

3

văn bản số 4724/CTBRV-TTKT3 ngày 21/5/2024 về việc cung cấp thông tin hóa đơn giá trị gia tăng (GTGT) và hồ sơ hoàn thuế GTGT: Xác định số tiền thuế GTGT đối với các hóa đơn của Công ty B phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 không được hoàn thuế/khấu trừ là 12.179.986.011 đồng.

Do đó, Công ty B Thư rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền thuế GTGT không được hoàn thuế/khấu trừ theo các văn bản nêu trên của Cục Thuế tỉnh B, cụ thể: Công ty B rút yêu cầu khởi kiện (không yêu cầu Tòa án giải quyết trọng vụ án này) đối với số tiền thuế GTGT của các hóa đơn do Công ty B phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 với số tiền là 12.179.986.011 đồng.

Số tiền gốc và lãi từ 01/01/2022 đến 30/6/2022 mà Công ty T1 còn nợ là: Nợ gốc 27.028.054.115 đồng, lãi 10.139.630.659 đồng, trừ thuế GTGT: 12.179.986.011 đồng.

Tổng cộng, Công ty T1 còn nợ: 24.987.698.763 đồng (các đợt hàng từ 01/01/2022 đến 30/6/2022)

- Đối với Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021 (từ ngày 01/7/2022 đến ngày 16/9/2022):

Kể từ các đợt giao hàng ngày 01/01/2022 đến 16/9/2022, Công ty B giao nhiều đơn hàng (hóa đơn), tổng giá trị là 26.646.960.131 đồng. Đối chiếu ngày giao hàng (phát hành hóa đơn) và ngày Công ty T1 thanh toán, thì Công ty T1 thanh toán trễ hạn tất cả đơn hàng so với thỏa thuận trong hợp đồng. Đến nay, Công ty T1 chỉ thanh toán 13.197.643.072 đồng. Số tiền gốc còn nợ: 13.449.317.059 đồng, lãi do chậm thanh toán: 3.523.215.397 đồng.

Tổng cộng, Công ty T1 còn nợ: 16.972.532.456 đồng (các đơn hàng từ 01/7/2022 đến 16/9/2022).

Căn cứ theo Điều 4 Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa số 7/PO3/721015 và Hợp đồng số 7/PO3/721486; Điều 306 Luật Thương Mại 2005; Điều 11 Nghị quyết 01/2019HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TANDTC quy định: lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường của ít nhất 03 (ba) ngân hàng thương mại (Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1, Ngân hàng Thương mại Cổ phần C, Ngân hàng N2,...) có trụ sở, chi nhánh hoặc phòng giao dịch tại tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nơi Tòa án đang giải quyết, xét xử có trụ sở tại thời điểm thanh toán (thời điểm xét xử sơ thẩm).

Nay, Công ty B Thư yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:1. Buộc Công ty T1 thanh toán cho Công ty B Thư số tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng số 7/PO3/721015 ngày 02/01/2021 đối với các đơn hàng trong năm 2021: 485.463.761 đồng.

2. Buộc Công ty T1 thanh toán cho Công ty B Thư số tiền mua hàng từ 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 (chưa có thuế GTGT) còn nợ và tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021: 24.987.698.763 đồng.

4

3. Buộc Công ty T1 thanh toán cho Công ty B Thư số tiền mua hàng từ 01/7/2022 đến ngày 16/9/2022 còn nợ và tiền lãi chậm thanh toán theo Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021: 16.972.532.456 đồng.

Tổng cộng của các khoản nêu trên, Công ty B yêu cầu Tòa án buộc Công ty T1 thanh toán cho Công ty B: 42.445.694.980 đồng.

* Theo bản tự khai, lời khai trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày.

Thống nhất với nguyên đơn về việc các bên ký kết hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hoá và số tiền mua hàng còn nợ như nguyên đơn trình bày.

Bị đơn chậm thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn là do những nguyên nhân sau đây: Chưa kịp hồi phục kinh tế sau dịch bệnh, bị đơn tiếp tục chịu ảnh hưởng bởi chiến sự giữa N - Ukraine và tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu. Nặng nề hơn là tình hình thị trường bất động sản trong nước bất ngờ bị đóng băng đã đẩy bị đơn lâm vào tình cảnh vô cùng khó khăn, buộc phải tạm ngừng hoạt động sản xuất Lò luyện và Lò cao thuộc dự án Nhà máy luyện phôi thép tại Khu Công nghiệp P từ tháng 10 năm 2022, dẫn đến hàng nghìn lao động đang làm việc phải mất việc, ngừng việc. Bị đơn đã mất đi khoản doanh thu từ hoạt động sản xuất của Nhà máy P nên việc thanh toán tiền hàng cho nguyên đơn cũng bị chậm trễ từ thời điểm này và cũng đã chủ động tái cơ cấu, huy động nguồn vốn từ các nhà đầu tư chiến lược, cố gắng sớm đưa Nhà máy P hoạt động trở lại, dự kiến là trong quý 4 năm 2024.

Đối với số tiền còn nợ của nguyên đơn, bị đơn đã cố gắng thực hiện thủ tục hoàn thuế giá trị gia tăng để có nguồn tiền trả cho nguyên đơn nhưng sau khi kiểm tra hồ sơ hoàn thuế giá trị gia tăng cho các hóa đơn trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2022, Đoàn kiểm tra của Cục Thuế tỉnh B đã lập biên bản xác nhận số liệu kiểm tra ngày 31/10/2023 và xác định có rất nhiều hóa đơn thuế giá trị gia tăng của nguyên đơn xuất cho bị đơn có nguy cơ rủi ro về thuế. Do vướng nghi vấn mua bán hóa đơn nên các hóa đơn này bị loại, không được khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào và hồ sơ đề nghị hoàn thuế giá trị gia tăng của chúng tôi đã bị Cục Thuế tỉnh B không cho hoàn thuế giá trị gia tăng. Tổng số thuế giá trị gia tăng liên quan đến hóa đơn giá trị gia tăng của nguyên đơn bị loại, không được khấu trừ 10% thuế giá trị gia tăng với số tiền thuế: 12.179.986.011 đồng. Với số lượng hóa đơn bị loại, nhiều khả năng sẽ dẫn đến tổng giá trị tiền hàng của những hóa đơn này cũng bị xem là chi phí không hợp lý, sẽ bị loại, không được đưa vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp và bị đơn sẽ bị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế 20% trên tổng giá trị tiền hàng trên hóa đơn: 121.799.860.042 đồng, tương đương với số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là: 24.359.972.008 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của bị đơn hơn 36.000.000.000 đồng. Tất cả những thiệt hại này của bị đơn là do cách làm không đúng pháp luật của nguyên đơn. Đây chỉ là số liệu kiểm tra của Đoàn kiểm tra cho các hóa đơn của nguyên đơn xuất cho bị đơn trong thời gian từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2022. Đối với các hóa đơn của nguyên đơn xuất cho bị đơn trong các tháng khác chưa được Đoàn kiểm tra kiểm tra nhưng rất có

5

thể những hóa đơn đó cũng sẽ bị loại. Như vậy, thiệt hại mà bị đơn sẽ phải gánh chịu lớn hơn rất nhiều.

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì bị đơn chỉ thống nhất số nợ hiện nay bị đơn còn nợ nguyên đơn là 28.297.385.163 đồng, đối với yêu cầu tính lãi thì bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn vì sau khi mua hàng của nguyên đơn thì tình hình kinh tế thế giới khó khăn, việc bán hàng của bị đơn không thuận lợi, hàng tồn kho nhiều nên hiện nay thua lỗ phải ngừng hoạt động chờ tái cơ cấu doanh nghiệp. Việc tiền hóa đơn trong các thời gian còn lại chưa được kiểm tra về thuế nên không thể xác định được số thuế bị loại là bao nhiêu. Mặt khác việc hóa đơn từ tháng 01-6/2022 bị loại dẫn tới doanh thu sẽ tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp sẽ tăng nếu bị kiểm tra truy thu và sẽ phải chịu phạt thuế 20% trên tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp ảnh hưởng rất lớn đến doanh nghiệp. Đối với Công ty H1 có chủ doanh nghiệp đồng thời là chủ doanh nghiệp của Công ty B hiện nay bị đơn đã trả hết tiền hàng trong khi bị đơn cũng không được làm thủ tục hoàn thuế nên ảnh hưởng tới doanh nghiệp. Đề nghị Tòa án tạm đình chỉ vụ án để bị đơn có thời gian để sắp xếp trả nợ cho nguyên đơn và có thời gian để cơ quan có thẩm quyền tổ chức kiểm tra thuế để xác định hóa đơn các đơn hàng còn lại chưa được kiểm tra cũng thuộc trường hợp rủi ro để đảm bảo quyền lợi của bị đơn

Tại Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 34/2024/KDTM-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã tuyên xử:

  1. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tiền thuế giá trị gia tăng của các hóa đơn do Công ty B phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 với số tiền: 12.179.986.011 đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty B đối với bị đơn Công ty T1.

Buộc Công ty T1 phải trả cho Công ty B Thư số tiền 42.445.694.980 đồng, trong đó bao gồm: Tiền hàng còn nợ 28.297.385.163 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 14.148.309.817 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Công ty T1 phải chịu 150.445.695 đồng. Trả lại cho Công ty B 88.434.076 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 00069111 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án của đương sự.

Ngày 17/7/2024, bị đơn Công ty T1 nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho

6

Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm do việc xác minh và thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm không đầy đủ.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bị đơn trình bày vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Người đại diện của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu ý kiến: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về hướng giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử có căn cứ và đúng pháp luật. Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu kháng cáo của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày của các bên đương sự và quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương về việc giải quyết vụ án;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán hàng hóa. Nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án nơi bị đơn có trụ sở là: Số A, đường số B, Khu công nghiệp S, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương theo thủ tục sơ thẩm là phù hợp với quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét đơn kháng cáo của bị đơn được thực hiện trong thời hạn luật định, bị đơn đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên việc kháng cáo là hợp lệ.

[3] Về phạm vi xét xử phúc thẩm: Theo quy định tại khoản 2 Điều 282 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng dân sự thì Tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét lại phần của bản án sơ thẩm có kháng cáo, kháng nghị. Do đó, phần quyết định của bản án sơ thẩm: “Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu tiền thuế giá trị gia tăng của các hóa đơn do Công ty TNHH MTV B phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022 với số tiền là 12.179.986.011 đồng” không bị đương sự kháng cáo và không bị Viện Kiểm sát kháng nghị nên có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[4] Các bên đương sự khai thống nhất với nhau về việc ký kết và thực hiện Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa số 7/PO3/721015 ngày 02/01/2021 và Hợp đồng số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021; thống nhất về các hóa đơn gia trị gia tăng đã xuất; số lượng, khối lượng và giá trị hàng hóa đã giao nhận. Bị đơn đã thừa nhận số tiền nợ gốc. Sự thừa nhận của các đương sự phù hợp với tài liệu, chứng cứ do các bên giao nộp và Tòa án thu thập được, đồng thời đây cũng là tình tiết không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

7

[5] Bị đơn không đồng ý với các khoản tiền lãi do nguyên đơn yêu cầu và cho rằng việc chậm thanh toán là do suy thoái kinh tế sau đại dịch Covid 19 và chiến tranh Nga U-crai-na dẫn đến việc giảm đơn hàng, giảm doanh thu và cắt giảm lao động. Tuy nhiên, đây là khó khăn chung của nền kinh tế thế giới và nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp phải có kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với tình hình mới. Những lý do nêu trên không thuộc trường hợp bất khả kháng hoặc miễn trừ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng theo quy định của pháp luật.

[6] Bị đơn cho rằng các hóa đơn giá trị gia tăng do Công ty B đã xuất cho Công ty T1 là không hợp pháp. Tuy nhiên, đến thời điểm xét xử Tòa án chỉ nhận được thông tin từ cơ quan thuế cho biết các hóa đơn do Công ty B Thư xuất cho Công ty T1 và đã được Công ty T1 kê khai thuế không được hoàn thuế do hóa đơn không hợp lệ là các hóa đơn phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022. Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn đã rút một phần yêu cầu tiền lãi chậm thanh toán tương ứng với số tiền thuế giá trị gia tăng mà Công ty T1 không được hoàn: 12.179.986.011 đồng và đã được Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết phần yêu cầu này. Ngoài các hóa đơn nêu trên, Tòa án không nhận được thông tin về những hóa đơn giá trị gia tăng khác ngoài các hóa đơn phát hành từ ngày 01/01/2022 đến ngày 30/6/2022. Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, Tòa án đã có văn bản yêu cầu Cục Thuế tỉnh B cung cấp thông tin về hóa đơn giá trị gia tăng. Ngày 12/02/2025, Cục T có Công văn số 687/CTBRV-TTKT3 trả lời Tòa án đã xử lý không đồng ý Nhà máy luyện phôi thép – Chi nhánh Công ty T1 kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng phát sinh từ tháng 01/2022 đến tháng 6/2022 do Công ty B phát hành, đồng thời xử phạt hành vi kê khai sai làm tăng số thuế giá trị gia tăng được khấu trừ. Nhà máy luyện phôi thép – Chi nhánh Công ty T1 hiện đang trong thời gian tái cơ cấu do các hoạt động kinh doanh lỗ liên tục và đang thực hiện thủ tục khởi kiện Cục T về ưu đãi đầu tư thuế đối với các hóa đơn phát sinh trước tháng 01/2022. Tại phiên tòa phúc thẩm, người đại diện của bị đơn cũng thừa nhận hiện nay cơ quan thuế chưa có thông báo nào về kế hoạch kiểm tra các hóa đơn còn lại trong các khoảng thời gian khác nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải tạm ngừng phiên tòa để chờ kết quả trả lời của cơ quan thuế và thu thập chứng cứ bổ sung.

[7] Bị đơn còn cho rằng với số lượng hóa đơn bị loại, nhiều khả năng sẽ dẫn đến tổng giá trị tiền hàng của những hóa đơn này cũng bị xem là chi phí không hợp lý, sẽ bị loại, không được đưa vào chi phí hợp lý của doanh nghiệp và bị đơn sẽ bị truy thu thuế thu nhập doanh nghiệp với mức thuế 20% trên tổng giá trị tiền hàng trên hóa đơn: 121.799.860.042 đồng, tương đương với số tiền thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là: 24.359.972.008 đồng. Tổng giá trị thiệt hại của bị đơn hơn 36.000.000.000 đồng. Tuy nhiên, đây chỉ là thiệt hại chưa phát sinh và chỉ là dự đoán của bị đơn. Hơn nữa, bị đơn cũng không có yêu cầu phản tố để đối trừ lại phần nghĩa vụ phải thực hiện với nguyên đơn nên Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý, giải quyết và Tòa án cấp phúc thẩm cũng không thể xem xét giải quyết. Sau này, nếu có kết luận của cơ quan có thẩm quyền các hóa

8

đơn đó không hợp pháp hoặc không hợp lệ, có quyết định không hoàn thuế giá trị gia tăng, truy thu thuế và xử phạt thì Công ty T1 có quyền khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại tại vụ án khác.

[8] Theo Hợp đồng nguyên tắc về mua bán hàng hóa ngày số 7/PO3/721015 ngày 02/01/2021 và số 7/PO3/721486 ngày 31/12/2021, các bên không thỏa thuận về lãi chậm thanh toán. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng quy định tại Điều 306 Luật Thương mại năm 2005 để tính lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường trên cơ sở mức lãi suất cho vay ngắn hạn của 03 ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố D 10,4%/năm để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tính tiền lãi do chậm thanh toán là phù hợp quy định pháp luật. Thời điểm tính tiền lãi chậm thanh toán sau 07 ngày (không kể ngày thứ 7 và chủ nhật, lễ, tết) kể từ ngày nguyên đơn xuất hóa đơn là có căn cứ chấp nhận.

[9] Kháng cáo của bị đơn về việc yêu cầu hủy bản án sơ thẩm để thu thập thêm chứng cứ là không có cơ sở chấp nhận. Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa về việc không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[10] Về án phí phúc thẩm: Bị đơn Công ty T1 phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 148, khoản 2 Điều 282, Điều 293 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng các Điều 24, 50, 55 và 306 Luật Thương mại năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2017, 2019).

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn Công ty Cổ phần T1. Giữ nguyên Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 34/2024/KDTM-ST ngày 05/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương như sau: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH MTV B đối với bị đơn Công ty Cổ phần T1.

- Buộc Công ty Cổ phần T1 phải trả cho Công ty TNHH MTV B số tiền: 42.445.694.980 đồng, trong đó bao gồm: Tiền hàng còn nợ: 28 .297.385.163 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán: 14.148.309.817 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất

9

quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền chậm thi hành án.

  1. Án phí sơ thẩm: Công ty Cổ phần T1 phải chịu 150.445.695 đồng. Trả lại cho Công ty TNHH MTV B 88.434.076 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 00069111 ngày 12/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  2. Án phí phúc thẩm: Công ty Cổ phần T1 phải chịu 2.000.000 đồng và được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0001294 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
  4. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - TAND thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục THADS thành phố Dĩ An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Tổ HCTP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Lực

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/TLPT-KDTM ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 36/2024/TLPT-KDTM
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa giữa cty BNT với cty P
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger