|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HSST Ngày: 24/01/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Hòa
- Ông Nguyễn Thanh Vũ
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Trung - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 01 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cao Bằng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 186/2024/HSST ngày 29 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 và Thông báo hoãn phiên toà số 39/TB-TA ngày 20 tháng 01 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, đối với các bị cáo:
- Họ và tên: La Văn L; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/7/1998 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú: xóm X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi ở hiện tại: tổ F, phường Đ, thành phố C, Tỉnh Cao Bằng; Số CCCD: [...] cấp ngày 29/4/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Quốc tịch :; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Nùng; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: La Văn V, sinh năm 1971; Họ và tên mẹ: Phan Thị D, sinh năm 1973, cùng trú tại xóm X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Hà Lệ T, sinh năm 1997, trú tại: xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: chưa có; Anh, chị em ruột: bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 15/3/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Cao Bằng xử phạt vi phạm hành chính về hành vi cố ý gây thương tích.
Bị cáo La Văn L bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C; có mặt.
- Họ và tên: Triệu Văn K; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 22/8/1998 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: xóm N, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Dao; số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 7/12; Họ và tên mẹ: Triệu Thị P, sinh năm 1978, trú tại huyện N, tỉnh Bắc Kạn; Vợ: Hà Thị T1, sinh năm 2005, trú tại: xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng; Con: có 01 con sinh năm 2023; Anh, chị em ruột: bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: ngày 03/6/2019 bị Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xử phạt 32 tháng tù về tội buôn bán hàng cấm.
Bị cáo Triệu Văn K bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ công an huyện Q, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Họ và tên: Nông Thanh M; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/9/1993 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: Tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; số CCCD: 00493000103, cấp ngày 23/3/2021, nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Quốc tịch :; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Tày; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Nông Thanh L1, sinh năm 1960; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thi T2, sinh năm 1962, cùng trú tại tổ H, phường S, thành phố C; Vợ: Đinh Thị Hoài T3, sinh năm 1994, trú tại Thị trấn N, huyện H, tỉnh Cao Bằng (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2018; Anh, chị, em ruột: Bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Nông Thanh M bị áp dụng biên pháp ngăn chặn tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 31 tháng 7 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Họ và tên: Lô Minh T4; Tên gọi khác: không có; Giới tính: Nam; Sinh ngày 12/7/1986 tại thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện nay: xóm A Hồ N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; số CCCD: [...], nơi cấp Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Quốc tịch :; Tôn giáo: Không; Dân tộc: Tày; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Họ và tên cha: Lô Văn T5, sinh năm 1961; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1964, trú tại xóm A Hồ N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Vợ: Tô Huyền T6, sinh năm 1991, trú tại: xóm A Hồ N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Con: có 02 con sinh năm 2013 và 2019; A, chị em ruột: Bị cáo là con cả trong gia đình có 02 anh em.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo Lô Minh T4 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng từ ngày 27 tháng 6 năm 2024 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị Đ; sinh năm 1964; Trú tại: Xóm A Hồ N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Hà Thị T1, sinh năm 2005, Trú tại: xóm P, xã L, huyện B, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
- Mã Đức L2, sinh năm 1981, T7 tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nông Thanh M: Luật sư Dương Đức T8 và luật sư Nguyễn Tuấn A; Địa chỉ: Công ty L4 - số 41, dãy I, khu C, TDP số A, phường K, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo La Văn L và bị cáo Triệu Văn K: Ông Triệu Bằng G – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C; có mặt.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn L3; sinh năm 1978; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Hoàng Văn V1; sinh năm 1989; Trú tại: Xóm L, xã L, huyện H, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
- Lý Thị Kim D1; sinh năm 1989; Trú tại: Tổ G, phường H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08h55' ngày 27/6/2024, tại tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lô Minh T4 (sinh ngày 12/7/2024, trú tại xóm H, xã H, thành phố C tỉnh Cao Bằng) có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu vàng bên trong có chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (T4 khai nhận là H) có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam) thu giữ tại túi bên trái chiếc áo T4 đang mặc; 01 (một) xe mô tô đã qua sử dụng nhãn hiệu HONDA WAVE màu đen biển kiểm soát 11B1-248.78; 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng mặt sau có chữ VSMART màu xanh, số IMEI 358877982473257. Tại Cơ quan điều tra T4 khai nhận số H bị thu giữ của T4 mua với Triệu Văn K (sinh năm 1998, trú tại xóm N, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng) và La Văn L (sinh năm 1998, trú tại tổ F, phường Đ, thành phố C, Tỉnh Cao Bằng).
Mở rộng điều tra hồi 10h30' ngày 27/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với La Văn L tại tổ F, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, phát hiện và thu giữ: 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong chứa 10 (mười) gói giấy bạc màu vàng bên
trong đều chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột (L khai nhận là H) có tổng khối lượng 1,02g (Một phẩy không hai gam) thu giữ tại túi đằng trước bên phải chiếc quần L đang mặc; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG và 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) ở trên giường trong phòng trọ của L.
Hồi 14h30' cùng ngày tại xóm N, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét khẩn cấp đối với Triệu Văn K, phát hiện và thu giữ trong phòng ngủ của K 01 (một) điện thoại đã qua sử dụng màu đen mặt sau có chữ OPPO, số IMEI 869945060649932; thu giữ 01 (một) xe ô tô màu nâu vàng, nhãn hiệu TOYOTA VIOS biển kiểm soát 11A-12029, xe cũ đã qua sử dụng; Tiền Việt Nam 5.000.000đ (năm triệu đồng) thu trong túi áo trong tủ quần áo tại phòng ngủ của K.
Tại cơ quan điều tra, Triệu Văn K và La Văn L khai nhận đã nhiều lần được mua ma túy với Nông Thanh M (sinh năm 1993, trú tại tổ H, phường S, thành phố C, tỉnh Cao Bằng). Ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành khám xét người và chỗ ở đối với Nông Thanh M, thu giữ: 01 (một) chiếc điện thoại di động có chữ IPHONE, số IMEI: 358879686037115; thu giữ tại ngăn kéo tủ cạnh giường trong phòng ngủ của M số tiền 8.500.000đ (tám triệu năm trăm nghìn đồng); thu giữ trong thùng rác phía cuối phòng ngủ của M 01 (một) cân tiểu ly màu xám; thu giữ trong ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ của M 01 (một) túi zip nilon màu trắng chỉ đỏ bên trong có chứa bụi mịn màu trắng; Thu giữ 0,01g (không phẩy không một gam) chất bột màu trắng rơi trong ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ của M.
Ngày 28/6/2024 và ngày 08/8/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 928 và 1161 đối với tang vật của vụ án. Tại bản Kết luận giám định số 409 ngày 05/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C kết luận: “02 (hai) mẫu chất một màu trắng bên trong 02 (hai) phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine”. Kết luận giám định số 479 ngày 15/8/2024: Mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Heroine.
Quá trình điều tra đủ căn cứ xác định: Khoảng 17h00' ngày 26/6/2024, Triệu Văn K đang lái xe taxi đến xã Á, huyện H, tỉnh Cao Bằng thì Nông Thanh M gọi điện qua ứng dụng Zalo hỏi có mua Heroine không thì K nói chưa đủ tiền. Sau khi trả khách, K đi xe ô tô đến phòng trọ của La Văn L và nói cùng góp tiền mua Heroine để bán lại kiếm lời. L mang điện thoại di động đi cầm cố và đưa cho K 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) rồi cả hai đi ăn tối. Khi K và L đang ăn tối, M nhắn tin cho K hỏi “đủ tiền chưa, có thì qua gần nhà anh đỉ”. Sau đó K và L cùng đi xe ô tô của K đến gần Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C. Nhìn thấy M đang đứng chờ ở gần đó, K một mình xuống xe gặp M và đưa cho M 4.200.000đ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng). M nhận tiền và đưa lại cho K 01 (một) gói giấy màu trắng bên trong có chứa Heroine. K quay lại xe ô tô, đưa gói Heroine cho L rồi cả hai đi xe ô tô đến khu vực Quảng trường thuộc địa phận phường Đ, thành phố C uống nước. Trên đường đi K bảo L chia Heroine ra một
gói nhỏ để bán cho Lô Minh T4 vì T4 đã chuyển khoản 540.000đ (năm trăm bốn mươi nghìn đồng). L chia được 01 gói Heroine thì T4 đi xe máy đến. L đưa gói H cho K và K đưa cho T4. Sau đó, K và L ngồi uống rượu tại khu vực Quảng trường đến khoảng 23h00' L mượn xe mô tô của một người trong quán (không biết tên tuổi, địa chỉ) về nhà trọ và chia số Heroine vừa mua được 12 (mười hai) gói nhỏ gói bằng giấy bạc màu vàng giấu trong phòng trọ rồi tiếp tục quay lại ngồi uống rượu với K. Khoảng 23h45' cùng ngày K và L về phòng trọ của L rồi cùng sử dụng hết 01 (một) gói Heroine. Sau khi sử dụng ma túy, K đi về nhà tại xóm N, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Khoảng 08h00' ngày 27/6/2024 Lô Minh T4 nhắn tin và chuyển khoản cho K số tiền 500.00đ (năm trăm nghìn đồng) mua Heroine. Sau khi nhận được tiền K gọi cho L và bảo T4 đến chỗ L ở để lấy Heroine. Tại đây L đưa cho T4 01 (một) gói Heroine gói bằng giấy bạc màu vàng. Sau khi mua được H, T4 đi tìm nơi để sử dụng thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C mở rộng điều tra, tiến hành khám xét khẩn cấp đối với L và K đã thu giữ những vật chứng như đã nêu ở trên.
Tại Cơ quan điều tra, Nông Thanh M khai nhận được bán Heroine cho Mã Đức L2 (sinh năm 1981, trú tại tổ A, phường T, thành phố C) 02 (hai) lần, cụ thể: Lần thứ nhất vào khoảng tháng 03/2024, M bán cho L2 01 (một) gói Heroine bên ngoài gói bằng giấy màu trắng tại khu vực tổ H, phường S với số tiền 3.000.000đ (ba triệu đồng). Lần thứ hai, cũng tại địa điểm trên, M bán cho L2 08 (tám) gói nhỏ Heroine với giá 4.000.000đ (bốn triệu đồng) nhưng L2 chưa có tiền trả ngay. Sau đó khoảng 05 ngày, M hỏi L2 lấy tiền. L2 trả lời có 1.000.000đ (một triệu đồng) và hẹn số tiền còn lại sẽ trả sau nên M gọi điện bảo K đến gặp L2 lấy tiền về đưa cho M.
Ngoài bán H cho L2, M còn được bán H cho K 04 (bốn) lần. Lần thứ nhất vào ngày 15/6/2024 M bán cho K 01 (một) gói Heroine tại khu vực Bệnh viện y học cổ truyền tỉnh C; Lần thứ hai, ngày 20/6/2024, M để 01 (một) gói Heroine vào trong vỏ bao thuốc lá rồi đặt trên bờ tường nơi để thùng rác trên vỉa hè gần sân bóng đá của Trung tâm huấn luyện Công an tỉnh thuộc phường Đ, thành phố C rồi chụp ảnh gửi cho K qua ứng dụng Zalo, sau đó mấy hôm K đã trả cho M số tiền 4.000.000đ (bốn triệu đồng). Lần thứ ba vào ngày 22/6/2024, M để H trong túi khẩu trang và để ở bờ tường của Ủy ban nhân dân phường S, thành phố C rồi nhắn tin bảo K đến lấy. Đến tối 24/6/2024, M nhắn tin bảo K trả số tiền mua ma túy là 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng). K đã chuyển vào tài khoản của M tại Ngân hàng A1, nhưng sau đó M chuyển lại cho K và bảo K rút tiền mặt trả M. Chiều 25/6/2024, K đón M (vừa đi từ huyện T, tỉnh Cao Bằng ra thành phố C) tại khu vực đường T, thành phố C và đưa cho M số tiền 16.000.000đ (mười sáu triệu đồng). Lần thứ tư, M bán cho K 01 (một) gói Heroine vào tối 26/6/2024 tại khu vực tổ H, phường S, thành phố C với số tiền là 4.200.000đ (bốn triệu hai trăm nghìn đồng). Ngày 31/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C đã tiến hành khám xét, bắt bị can để tạm giam đối với Nông Thanh M về hành vi mua bán trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Hành vi của các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K, Nông Thanh M đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi của Lô Minh T4 đã bị cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại bản Cáo trạng số 196/CT-VKSTP ngày 29/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đã truy tố các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K, Nông Thanh M về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Lô Minh T4 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố và nhất trí với khối lượng ma tuý bị thu giữ, nội dung bản Kết luận giám định số 409 ngày 05/7/2024 và Kết luận giám định số 479 ngày 15/8/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh C.
Người có quyền lợi liên quan bà Nguyễn Thị Đ đề nghị được trả lại 01 chiếc xe mô tô BKS 11B1-24878.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Nông Thanh M phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy".
- Đề nghị xử phạt bị cáo La Văn L từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Triệu Văn K từ 07 năm 07 tháng đến 8 năm tù.
- Đề nghị xử phạt bị cáo Nông Thanh M từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.
- Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Lô Minh T4 phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Đề nghị xử phạt bị cáo Lô Minh T4 từ 12 đến 15 tháng tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) cân điện tử màu xám, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) phong bì niêm phong tang vật cân khám xét vụ La Văn L, Triệu Văn K;
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 409/KL - KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ La Văn L và Triệu Văn K, có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 26/7/2024";
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Tang vật khám xét “KX01";
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, điện thoại cũ đã qua sử dụng.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ VSMART;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ OPPO;
- + 01 (một) xe ô tô màu nâu vàng, nhãn hiệu TOYOTA, biển kiểm soát 11A1 120.29, loại xe: Ô tô con; Số loại: VIOS E, màu sơn: Nâu Vàng, số khung: RL4BT9F39E4003535; Số máy: 1NZZ073433: Dung tích xi lanh: 1497 cm³ (năm SX: 2014), xe cũ đã qua sử dụng;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động có chữ SAMSUNG, màu đen (mặt sau màu xanh).
- Trả lại cho bị cáo La Văn L: Tiền Việt Nam: 500.000,đ (Năm trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Triệu Văn K: Tiền Việt Nam: 5.000.000,₫ (Năm triệu đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Nông Thanh M:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone;
- + Tiền Việt Nam: 8.500.000,₫ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 11B1 - 248.78, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³; Số loại: WAVE, màu sơn: Đen Bạc, số khung: RLHJA3904HY171076; Số máy: JA39E0171145: Dung tích xi lanh: 109 cm³, xe cũ đã qua sử dụng.
- Buộc bị cáo Nông Thanh M phải nộp lại số tiền 28.200.000 đồng do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
- Buộc bị cáo Triệu Văn K phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
- Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Nông Thanh M trình bày luận cứ: Bị cáo Nông Thanh M có nhân thân tốt, luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, quá trình công tác đã lập thành tích xuất sắc, phá nhiều chuyên án lớn, gia đình bị cáo là người có công với cách mạng, bị cáo đã chủ động nộp lại số tiền thu lợi bất chính, hoàn cảnh của bị cáo khó khăn, đã ly hôn vợ, có bố mẹ già, con nhỏ, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo
hưởng mức thấp nhất của khung hình phạt để bị cáo có cơ hội cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội.
Người bào chữa cho bị cáo Triệu Văn K, bị cáo La Văn L trình bày luận cứ: Các bị cáo thuộc hộ nghèo, đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên nhận thức còn hạn chế, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, tích cực hợp tác với cơ quan điều tra khai ra thêm bị cáo M. Do đó, đề nghị áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt các bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe ô tô thu giữ của bị cáo K đề nghị trả lại cho bị cáo K.
Khi tham gia đối đáp, đại diện Viện kiểm sát không nhất trí áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo K và bị cáo L.
Đối với chiếc xe ô tô thu giữ của bị cáo K: chiếc xe đứng tên đăng ký của bị cáo K, bị cáo K đã sử dụng chiếc xe để mua bán ma tuý, do đó, đề nghị tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước.
Khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của những chứng cứ, tài liệu do cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, Kiểm sát viên thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các tài liệu, chứng cứ cũng như hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng như đã nêu trên. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập và hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội, lời khai của các bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, lời khai của người có quyền lợi liên quan, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong vụ án, do đó, có đủ căn cứ để xác định:
Hồi 08h55' ngày 27/6/2024, tại tổ C, phường Đ, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế và ma túy Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng bắt quả tang Lô Minh T4 tàng trữ trái phép 01 (một) gói Heroine có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam) của T4 mua với Triệu Văn K và La Văn L với số tiền 500.000₫ (năm trăm nghìn đồng) nhằm
mục đích sử dụng cho bản thân; Trước đó ngày 26/6/2024, T4 được mua với K và L 01 (một) gói Heroine với giá 540.000đ. Hồi 10h30’ngày 27/6/2024, khám xét khẩn cấp chỗ ở của La Văn L tại tổ F, phường Đ, thành phố C, Tỉnh Cao Bằng thu giữ 1,02g (Một phẩy không hai gam) Heroine của L và K góp tiền mua nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Mở rộng điều tra, ngày 31/7/2024, tiến hành khám xét người và chỗ ở của Nông Thanh M, thu giữ 0,01g (không phẩy không một gam) H, M khai nhận được bán H cho Mã Đức L2 02 (hai) lần, bán cho Triệu Văn K 04 (bốn) lần. Do vậy Lô Minh T4 phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (không phẩy mười ba gam) Heroine; Triệu Văn K và La Văn L phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 1,15g (một phẩy mười lăm gam) Heroine và bán 02 (hai) lần cho Lô Minh T4; Nông Thanh M phải chịu trách nhiệm về hành vi mua bán trái phép 1,16g (một phẩy mười sáu gam) Heroine, M được bán 02 (hai) lần cho Mã Đức L2 và 04 (bốn) lần cho Triệu Văn K.
Hành vi của các bị cáo xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về các chất ma túy. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, hành vi của các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K, Nông Thanh M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); hành vi của bị cáo Lô Minh T4 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nông Thanh M, Lô Minh T4 chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo La Văn L có 01 tiền sự đã được xoá, bị cáo Triệu Văn K có 01 tiền án đã được xoá. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo” quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Ngoài ra, bị cáo Nông Thanh M đã tự nguyện nộp lại tiền thu lợi bất chính với số tiền là 28.200.000 đồng, bị cáo có xác nhận của cơ quan đã tham gia các chuyên án và lập thành tích xuất sắc, ông bà nội của bị cáo có huân, huy chương kháng chiến. Do đó, bị cáo M được hưởng thêm 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Bị cáo Triệu Văn K và bị cáo La Văn L là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, do đó 02 bị cáo được hưởng thêm 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[4] Về hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và khối lượng chất ma túy
các bị cáo mua bán, tàng trữ, xét thấy cần áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ nghiêm khắc để cải tạo giáo dục các bị cáo và đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm ma túy nói chung.
Bị cáo Triệu Văn K đã từng bị giáo dục, cải tạo nhưng không lấy đó làm bài học cho mình mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, có tính răn đe đối với bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - Số ma tuý bị thu giữ là đồ vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với các đồ vật không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ, gồm:
- + 01 (một) cân điện tử màu xám thu giữ của bị cáo M;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số IMEI: 357678100044587, điện thoại cũ đã qua sử dụng, pin điện thoại đã bị phồng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
- - Đối với các đồ vật liên quan đến hành vi phạm tội cần tịch thu phát mại sung công quỹ Nhà nước:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ VSMART thu giữ của Lô Minh T4 do bị cáo đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên hệ mua ma túy với bị cáo Triệu Văn K và La Văn L.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động có chữ SAMSUNG, màu đen (mặt sau màu xanh) thu giữ của La Văn L do bị cáo sử dụng để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy với bị cáo Triệu Văn K.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ OPPO thu giữ của bị cáo Triệu Văn K, do bị cáo sử dụng để trao đổi mua bán ma túy với bị cáo La Văn L, Lô Minh T4 và Nông Thanh M.
- + 01 (một) xe ô tô màu nâu vàng, nhãn hiệu TOYOTA, biển kiểm soát 11A1 - 120.29, loại xe: Ô tô con; Số loại: VIOS E, màu sơn: Nâu Vàng, số khung: RL4BT9F39E4003535; Số máy: 1NZZ073433: Dung tích xi lanh: 1497 cm³ (năm SX: 2014), xe cũ đã qua sử dụng. Chiếc xe này đứng tên bị cáo Triệu Văn K được bị cáo sử dụng làm phương tiện để thực hiện hành vi mua bán ma túy.
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy thu giữ của Mã Đức L2 vì chiếc điện thoại này được sử dụng để trao đổi mua bán ma túy giữa L2 và bị cáo Nông Thanh M.
- Các đồ vật còn lại không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả lại cho các bị cáo nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 11B1 - 248.78, màu sơn: Đen Bạc, do đây là tài sản riêng của bà Đ, bà không biết bị cáo Lô Minh T4 lấy xe đi sử dụng xe vào mục đích gì.
- Buộc bị cáo Nông Thanh M nộp lại số tiền 28.200.000 đồng do bán ma túy cho bị cáo Triệu Văn K và Mã Đức L2 mà có.
- Buộc bị cáo Triệu Văn K nộp lại số tiền 1.000.000 đồng do bán ma túy cho bị cáo Lô Minh T4 mà có.
[6] Các nhận định khác:
Đối với nguồn gốc số ma túy, Nông Thanh M khai mua với Lý Thị Kim D1 (sinh năm 1989, thường trú tại tổ G, phường H, thành phố C; tạm trú tại tổ H, phường N, thành phố C), tuy nhiên quá trình điều tra cũng như đối chất, D1 không thừa nhận việc bán Heroine cho M, việc trao đổi mua bán không ai biết. Do vậy không đủ căn cứ để xử lý đối với D1.
Đối với Mã Đức L2 mua Heroine với M mục đích để sử dụng cho bản thân và đã sử dụng hết. Do vậy Công an thành phố C đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính Mã Đức L2 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện nay Mã Đức L2 đang bị khởi tố điều tra trong một vụ án khác và bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Cao Bằng.
[7] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để sung vào công quỹ nhà nước.
Bị cáo K và bị cáo L thuộc hộ cận nghèo, là đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn nên được miễn toàn bộ án phí theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[9] Các ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tại phiên tòa là đúng pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K, Nông Thanh M.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Lô Minh T4.
Tuyên bố các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K, Nông Thanh M phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Lô Minh T4 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo La Văn L 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 27/6/2024.
Xử phạt bị cáo Triệu Văn K 07 năm 07 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 27/6/2024.
Xử phạt bị cáo Nông Thanh M 07 năm tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 31/7/2024.
Xử phạt bị cáo Lô Minh T4 12 tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 27/6/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, xử:
- Tịch thu tiêu huỷ:
- + 01 (một) cân điện tử màu xám, đã qua sử dụng;
- + 01 (một) phong bì niêm phong tang vật cân khám xét vụ La Văn L, Triệu Văn K - Mua bán trái phép chất ma túy, có chữ ký của những người tham gia niêm phong;
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: “Số 409/KL - KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ La Văn L và Triệu Văn K, có hành vi Mua bán trái phép chất ma túy, bắt ngày 26/7/2024”. Mặt sau phong bì có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của Phòng K1 - Công an tỉnh C (Kèm theo Kết luận giám định số 409/KL – KTHS, ngày 05/7/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh C);
- + 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: Tang vật khám xét “KX01" NÔNG THANH MẠNH, SN: 1993, HKTT: Tổ H, P. S, TP ., tỉnh Cao Bằng. Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy;
- + 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, số IMEI: 357678100044587, điện thoại cũ đã qua sử dụng, pin điện thoại đã bị phồng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy.
- Tịch thu phát mại sung công quỹ nhà nước:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu xanh, mặt sau có chữ VSMART, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 358877982473257, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 352044986278457, bên trong gắn 01 SIM, trên thẻ SIM có dãy số 898404800910071840, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy (Thu giữ của Mã Đức L2);
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động màu đen mặt sau có chữ OPPO, có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 869945060649932, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình rạn nứt. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- + 01 (một) xe ô tô màu nâu vàng, nhãn hiệu TOYOTA, biển kiểm soát 11A1 120.29, loại xe: Ô tô con; Số loại: VIOS E, màu sơn: Nâu Vàng, số khung: RL4BT9F39E4003535; Số máy: 1NZZ073433: Dung tích xi lanh: 1497 cm³ (năm SX: 2014), xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe
ngày 02/12/2024 của Công an thành phố C cung cấp (Xe có 01 chìa khóa kèm theo); (Sau khi bàn giao chúng tôi đã tiến hành niêm phong lại chiếc xe ô tô theo đúng quy định);
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động có chữ SAMSUNG, màu đen (mặt sau màu xanh), có số IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 350753062784459/01, điện thoại cũ đã qua sử dụng, màn hình bị vỡ nát, mặt sau nứt vỡ. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy (Thu giữ của La Văn L).
- Trả lại cho bị cáo La Văn L: Tiền Việt Nam: 500.000,đ (Năm trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Triệu Văn K: Tiền Việt Nam: 5.000.000,đ (Năm triệu đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho bị cáo Nông Thanh M:
- + 01 (một) chiếc điện thoại di động Iphone, số Sêri: KC2GN0FPP9; IMEI (Theo quyết định chuyển vật chứng): 358879686037115, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Do điện thoại không khởi động được nên không kiểm tra thực tế được số IMEI trong máy;
- + Tiền Việt Nam: 8.500.000,₫ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị Đ: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA, mang biển kiểm soát 11B1 - 248.78, loại xe: Hai bánh từ 50 – 175cm³; Số loại: WAVE, màu sơn: Đen Bạc, số khung: RLHJA3904HY171076; Số máy: JA39E0171145: Dung tích xi lanh: 109 cm³, xe cũ đã qua sử dụng, do xe đã cũ nên một số bộ phận của xe đã bị han gỉ, xe không gương chiếu hậu. Xe có số khung số máy trùng khớp với phiếu trả lời xác minh xe ngày 17/01/2025 của Công an thành phố C cung cấp (Xe có 01 chìa khóa kèm theo).
- Buộc bị cáo Nông Thanh M phải nộp lại số tiền 28.200.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng chẵn) do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
Xác nhận bị cáo Nông Thanh M đã nộp số tiền 28.200.000 đồng (hai mươi tám triệu hai trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0001326 ngày 12/12/2024 và Biên lai số 0001412 ngày 24/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng.
- Buộc bị cáo Triệu Văn K phải nộp lại số tiền 1.000.000 đồng (một triệu đồng) do bán ma túy mà có để sung công quỹ nhà nước.
Tất cả số tiền Việt Nam bị thu giữ: 500.000,đ (Năm trăm nghìn đồng); 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng); 8.500.000đ (Tám triệu năm trăm nghìn đồng) cơ quan Công an thành phố C đã chuyển vào tài khoản: 3949.0.1035584.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng mở tại kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng theo Ủy nhiệm chi số 51 ngày 07/01/2025.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Xử buộc các bị cáo Nông Thanh M, Lô Minh T4 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung công quỹ Nhà nước.
Các bị cáo La Văn L, Triệu Văn K được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng khoản 1, 3 Điều 331; khoản 1, 3 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Các bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan bà Nguyễn Thị Đ, bà Hà Thị T1 có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi liên quan Mã Đức L2 vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về hình sự
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/01/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua bán trái phép chất ma tuý
