Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH A

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 09/2025/HSST

Ngày: 04 - 03 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Thanh
  2. Ông Võ Văn Thành

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Tuấn – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A, Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Panal - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 90/2024/HSST ngày 09 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025; Quyết định hoãn phiên toà số: 06/2025/HSST-QĐ ngày 20 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Thị Ngọc H, sinh ngày 17 tháng 3 năm 1997 tại huyện C, tỉnh Hậu Giang; tên gọi khác: không (tại phiên toà khai tên gọi khác: T); nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: nội trợ; trình độ văn hóa (học vấn): 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Trương Thị Ngọc Đ; có chồng tên Trần Hồng T1, sinh năm: 1992 và 01 người con sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 07/01/2024 đánh bạc đến ngày 06/3/2024 Công an xã T, huyện C ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 1.500.000đồng, nộp phạt xong ngày 02/4/2024; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

2. Phan Tuấn K, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1986 tại huyện P, thành phố Cần Thơ; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn B và bà Nguyễn Thị Ú; có vợ tên Lê Thị Thúy H2, sinh năm: 1989, có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2020, nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 05/11/2024 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Rủ rê, tụ tập người khác để đánh bạc trái phép”; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

3. Lê Thanh T2, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1990 tại huyện P, thành phố Cần Thơ; tên gọi khác: không; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không (khai tại phiên toà: Thiên chúa); quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C và bà Nguyễn Thị L (khai tại phiên toà: Nguyễn Thị Kim L); chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Trần Hoàng H3, sinh năm: 2002, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  2. Ông Phan Văn H4, sinh năm: 1992, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  3. Ông Trần Út T3, sinh năm: 1979, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  4. Ông Trần Văn H1, sinh năm: 1971, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  5. Ông Nguyễn Bảo X, sinh năm: 1995, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  6. Ông Nguyễn Quốc H5, sinh năm: 2003, địa chỉ: Tổ I, Khóm E, phường T, thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
  7. Ông Trương Văn K1, sinh năm: 1990, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  8. Bà Trần Thị Ngọc T4, sinh năm: 2008, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  9. Ông Nguyễn Văn Trường A, sinh năm: 1985, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  10. Ông Cao Văn N, sinh năm: 1995, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  11. Ông Nguyễn Quang T5, sinh năm: 1967, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  12. Ông Phạm Thanh T6, sinh năm: 1986, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  13. Ông Đinh Vũ K2, sinh năm: 2002, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  14. Ông Phạm Hữu Đ1, sinh năm: 1984, địa chỉ: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ.
  15. Ông Mai Văn C1, sinh năm: 1994, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  16. Hồ Văn Huyền E, sinh năm: 1985, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  17. Ông Nguyễn Duy K3, sinh năm: 1989, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang.
  18. Ông Nguyễn Trung H6, sinh năm: 1977, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.
  19. Ông Phan Tấn T7, sinh năm: 1998, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 20/02/2024 Công an huyện C phối hợp với Phòng PC02 Công an tỉnh H tiến hành kiểm tra phát hiện tụ điểm đá gà ăn thua bằng tiền tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang và mời các đối tượng có tên gồm: Phan Tuấn K; Trần Hoàng H3; Trần Thị Ngọc H; Lê Thanh T2; Phan Văn H4; Trần Út T3; Trần Văn H1; Nguyễn Bảo X; Nguyễn Quốc H5; Trương Văn K1; Trần Thị Ngọc T4; Nguyễn Văn Trường A; Cao Văn N; Nguyễn Quang T5; Phạm Thanh T6; Đinh Vũ K2; Phạm Hữu Đ1; Mai Văn C1; Hồ Văn Huyền E; Nguyễn Duy K3; Nguyễn Trung H6 để điều tra làm rõ hành vi đánh bạc.

Quá trình điều tra, kiểm tra tin nhắn trên điện thoại xác định được như sau: Bị cáo Lê Thanh T2 quen biết từ trước với bị cáo Phan Tuấn K và bị cáo Trần Thị Ngọc H. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 18/02/2024 T2 gọi điện thoại cho K để nhờ gửi mua số đề, do K có quen biết với H nên K gọi điện thoại cho H hỏi mua giùm T2 thì H đồng ý nhận ghi số đề cho K. Sau đó, K sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, cảm ứng, số IMEI 1: 864028062769787, số sim: 0906.811.187 gửi tin nhắn SMS vào số điện thoại 0931.768.xxx của H lúc 15:33 phút ngày 18/02/2024 với nội dung “68 a200b100 lô80 kg”, H trả lời bằng tin nhắn với nội dung “Ok”; sau đó K tiếp tục gửi tin nhắn SMS vào số điện thoại 0936.339.xxx của Lê Thanh T2 với nội dung "68a200b100 lô80 kg ok” lúc 15:34 phút cùng ngày. Kết quả điều tra các bị cáo đều thừa nhận nội dung tin nhắn trên nghĩa là mua số đề con số 68 với số tiền 200.000 đồng đầu, 100.000 đồng đuôi, bao lô 80.000 đồng của đài Kiên Giang, bị cáo H chấp nhận ghi con số 68 với nội dung K đã nhắn nên phản hồi lại bằng tin nhắn “Ok”, sau đó bị cáo K gửi tin nhắn cho T2 với nội dung nêu trên là để thông báo con số 68 mà T2 nhờ K mua đã được nhận. Căn cứ kết quả xổ số miền N đài Kiên Giang, mở thưởng ngày 18/02/2024 xác định Giải nhất là con số “97868”. Theo quy ước từ trước thì số tiền mua bao lô sẽ được nhân với 13 lô, cứ 1.000 đồng tiền mua bao lô nếu trúng thì người mua sẽ thắng được 70.000 đồng. Như vậy, với số tiền bao lô 80.000 đồng số 68 đài Kiên Giang, bị cáo T2 đã trúng thưởng 01 lô 68 với số tiền là 5.600.000 đồng, số tiền bị cáo T2 phải bỏ ra để mua số đề ngày 18/02/2024 là 1.340.000 đồng. Tổng số tiền dùng để đánh bạc là 6.940.000 đồng.

Vật chứng thu giữ trong vụ án:

  • 02 (hai) con gà trống đá còn mang cựa sắt;
  • Tiền Việt Nam do các đối tượng tự giao nộp: 43.320.000 đồng (Bốn mươi ba triệu ba trăm hai mươi nghìn đồng);
  • 10 (mười) xe mô tô các loại gồm:
  1. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 65G1-01045, số máy: HCJ2E2874509, số khung: RLHHC1207BY074534, đã qua sử dụng;
  2. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 65G1-42753, số máy: E32VE553299, số khung: RLCUE3710NY316237, đã qua sử dụng;
  3. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 65L1-9343, số máy: 5C64408761, số khung: RLCS5C640BY408756, đã qua sử dụng;
  4. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 52F6–5352, số máy: C09R6454275, số khung: Y454235, đã qua sử dụng;
  5. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 64H1-31184, số máy: E32VE102497, số khung: RLCUE3740LY034148, đã qua sử dụng;
  6. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 67FF-6763, số máy: C50E5001679, số khung: C505001704, đã qua sử dụng;
  7. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 65H7-4652, số máy: VMEVA2121276, số khung: RLHXA10CD4D121276, đã qua sử dụng;
  8. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 83D1-18454, số máy: KC26E1182571, số khung: RLHKC2604GY335776, đã qua sử dụng;
  9. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 61R3-4020, số máy: JC43E1403836, số khung: RLHJC4314AY151837, đã qua sử dụng;
  10. Xe mô tô gắn biển kiểm soát: 65F5-3367, số máy: LC150FMGY0442593, số khung: VH100200120956, đã qua sử dụng;
  • 14 (mười bốn) điện thoại di động các loại gồm:
  1. Điện thoại di động hiệu N1 bị ướt, không còn hoạt động;
  2. Điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, IMEI số: 352815210291923201, đã qua sử dụng;
  3. Điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh, IMEI số: 354581111639572, đã qua sử dụng;
  4. Điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, IMEI số: 869347030183136, đã qua sử dụng;
  5. Điện thoại di động hiệu N1 màu đen, IMEI số: 352713076256884, đã qua sử dụng;
  6. Điện thoại di động hiệu iPhone màu trắng, IMEI số: 357235095644010, đã qua sử dụng;
  7. Điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, IMEI số: 86402806276978700, đã qua sử dụng;
  8. Điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, IMEI số: 862366053037893, đã qua sử dụng;
  9. Điện thoại di động hiệu Oppo màu trắng bị bể lưng, đã qua sử dụng, màn hình có nhiều sọc, không xác định số IMEI;
  10. Điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, IMEI số: 35847577372202201, đã qua sử dụng;
  11. Điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, IMEI số: 350335891341303, đã qua sử dụng;
  12. Điện thoại di động hiệu Vivo màu đen, IMEI số: 864932065979493, đã qua sử dụng;
  13. Điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, IMEI số: 866967044631839, đã qua sử dụng;
  14. Điện thoại di động hiệu Oppo màu tím, IMEI số: 869115049444272, đã qua sử dụng.

Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS-HCTA ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A trong phần luận tội đã giữ nguyên cáo trạng và quyết định truy tố các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Phân tích cấu thành tội phạm và tính chất, mức độ, hành vi, vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 phạm tội Đánh bạc.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

Áp dụng: Khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2.

Đề nghị: Xử phạt Trần Thị Ngọc H hình phạt cải tạo không giam giữ từ 15 đến 18 tháng. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Đề nghị: Xử phạt Phan Tuấn K hình phạt cải tạo không giam giữ từ 12 đến 15 tháng. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

Đề nghị: Xử phạt Lê Thanh T2 hình phạt cải tạo không giam giữ từ 12 đến 15 tháng. Phạt bổ sung số tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với những vật chứng có giá trị có dùng vào việc phạm tội thì tịch thu sung công quỹ, nếu giá trị thấp hoặc không còn giá trị thì tịch thu tiêu huỷ. Những vật chứng thu giữ không liên quan đến đến hành vi phạm tội đề nghị trả lại cho chủ sở hữu. Riêng các tài sản của các bị cáo đề nghị tạm giữ lại để đảm bảo thi hành án. Đề nghị miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

Đề nghị buộc bị cáo Lê Thanh T2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính (tiền trúng số đề là 4.260.000 đồng nộp sung công quỹ Nhà nước).

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin giảm nhẹ hình phạt.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bị tạm giữ tài sản nhưng không liên quan đến hành vi phạm tội có tài sản bị thu giữ có đề nghị được nhận lại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét về tố tụng:

[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện được xem là hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Bảo X, ông Cao Văn N, ông Phạm Hữu Đ1. Tuy nhiên, xét thấy quá trình điều tra người này đã có cung cấp lời khai rõ ràng, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ vào các Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử.

[2] Về nội dung giải quyết:

[2.1] Tại phiên tòa các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, lời thừa nhận tội của các bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự nhưng với tính xem thường pháp luật và động cơ hám lợi, lười lao động chân chính, ngày 18/02/2024 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang sau khi bị phát hiện và kiểm tra tin nhắn điện thoại của các bị cáo đã chứng mình được các bị cáo đã thực hiện hành vi mua, bán số lô, số đề với tổng số tiền dùng trong một lần đánh bạc là 6.940.000 đồng. Hành vi của các bị cáo thực hiện được xem là đánh bạc trái phép được thua bằng tiền, gây nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng tại địa phương. Căn cứ vào hành vi thực hiện và định lượng tiền mà các bị cáo tham gia đánh bạc đã đủ các yếu tố cấu thành tội Đánh bạc. Do đó, Cáo trạng số 01/CT-VKS-HCTA ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành A đã truy tố các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 về tội Đánh bạc, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[2.2] Xét về vai trò đồng phạm: Các bị cáo trong vụ án này đều thống nhất ý chí cùng nhau cố ý thực hiện một tội phạm nhằm đánh bạc trái phép được thua bằng tiền. Tuy nhiên, các bị cáo không có câu kết chặt chẽ, không có sự phân công vai trò cụ thể nên hành vi của các bị cáo được xem là đồng phạm giản đơn.

[2.3] Về tính nguy hiểm cho xã hội: Bị cáo H là người nhận ghi số đề trực tiếp tính thắng thua và chung tiền nếu người mua số đề thắng, bị cáo có nhân thân 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không thuộc trường hợp được xem là tiền sự nhưng cho thấy hành vi của H có phần nguy hiểm hơn T2 và K. Đối với T2 là người nhờ K mua số đề, bản thân K giúp sức tích cực cho T2 mua số đề, K cũng có nhân thân 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính nhưng không thuộc trường hợp được xem là tiền sự cho thấy K có phần nguy hiểm hơn T2.

[2.4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.

[2.5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo quá trình điều tra, xét xử đã thể hiện sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[2.6] Về hình phạt: Nhận thấy các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, các bị cáo phạm tội ít nghiệm trọng, trước toà thể hiện được sự ăn năn, hối cải và có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có khả năng cải tạo nên không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần có hình phạt cải tạo không giam giữ đủ nghiêm, tương xứng với hành vi, tính chất, mức độ của tội phạm cũng có thể cải tạo các bị cáo trở thành người tốt. Tuy nhiên, cần có hình phạt bổ sung đối với các bị cáo để các bị cáo nhận thấy pháp luật vừa mang tính khoan hồng vừa phải đảm bảo nghiêm minh. Xét các bị cáo là lao động làm thuê, nội trợ không có thu thập ổn định nên miễn khấu trừ thu nhập cho các bị cáo.

[3] Xét về xử lý vật chứng:

[3.1] Đối với điện thoại của bị cáo K, bị cáo T2 thừa nhận có dùng vào việc đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với điện thoại của bị cáo H có nhắn tin mua bán số đề nhưng quá trình bị Công an đuổi bắt đã chạy làm rớt mất không truy tìm được nên không đề cập xử lý. Đối với tiền, xe của các bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho các bị cáo. Tuy nhiên, cần thiết phải tạm giữ lại để đảm bảo cho việc thi hành án.

[3.2] Đối với các vật chứng thu giữ của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, quá trình điều tra không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại. Đối với xe mô tô 65G1-01045, số máy: HCJ2E2874509, số khung: RLHHC1207BY074534, đã qua sử dụng và xe mô tô 65H7 - 4652, số máy: VMEVA2121276, số khung: RLHXA10CD4D121276, đã qua sử dụng quá trình điều tra chưa xác định rõ chủ sở hữu nên giao lại cho Công an xã T tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

[4] Về biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Thanh T2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.260.000 đồng sung công quỹ Nhà nước.

[5] Đối với Trần Hoàng H3; Lê Thanh T2; Phan Văn H4; Trần Út T3; Trần Văn H1; Nguyễn Bảo X; Nguyễn Quốc H5; Trương Văn K1; Trần Thị Ngọc T4; Nguyễn Văn Trường A; Cao Văn N; Nguyễn Quang T5; Phạm Thanh T6; Đinh Vũ K2; Phạm Hữu Đ1; Mai Văn C1; Hồ Văn Huyền E; Nguyễn Duy K3; Nguyễn Trung H6. Quá trình điều tra căn cứ vào nhân thân các đối tượng, không chứng minh được các yếu tố cấu thành tội phạm trong việc đá gà được thua bằng tiền nên Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển Cơ quan có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính những người có rủ rê như Trần Hồng T1, Phan Tuấn K là phù hợp nên không đề cập xử lý.

[6] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều khoản áp dụng và hình phạt đối với từng bị cáo là phù hợp, có cơ sở nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2 phạm tội Đánh bạc.

1. Căn cứ các Điều 331, 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự và áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 50 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Trần Thị Ngọc H, Phan Tuấn K, Lê Thanh T2.

1.1. Xử phạt: Trần Thị Ngọc H 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh H nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Phạt bổ sung: 12.000.000₫ (mười hai triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

1.2. Xử phạt: Phan Tuấn K 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố C nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Phạt bổ sung: 10.000.000₫ (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

1.3. Xử phạt: Lê Thanh T2 12 (Mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố C nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án có hiệu lực pháp luật. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện P, thành phố Cần Thơ giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ. Trong thời gian chấp hành án, người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ; miễn khấu trừ thu nhập cho bị cáo.

Phạt bổ sung: 10.000.000₫ (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.

2. Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo Lê Thanh T2 nộp lại số tiền thu lợi bất chính 4.260.000₫ (Bốn triệu hai trăm sáu mươi nghìn đồng) sung công quỹ Nhà nước.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Redmi màu đen, IMEI số: 86402806276978700, đã qua sử dụng của bị cáo Phan Tuấn K và tịch thu 01 điện thoại OPPO màu xanh, IMEI số: 862366053037893 của bị cáo Lê Thanh T2 đã qua sử dụng. Nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trả lại: Bị cáo Trần Thị Ngọc H số tiền 10.400.000₫ (Mười triệu bốn trăm nghìn đồng). Nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trả lại: Bị cáo Phan Tuấn K số tiền 1.040.000đ (Một triệu không trăm bốn mươi nghìn đồng) và 01 xe mô tô biển kiểm soát: 67FF-6763, số máy: C50E5001679, số khung: C505001704, đã qua sử dụng. Nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trả lại: Bị cáo Lê Thanh T2 tiền Việt Nam 1.100.000đ (Một triệu một trăm nghìn đồng). Nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo cho việc thi hành án.

Trả lại: Đinh Vũ K2 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, IMEI số: 357235095644010 đã qua sử dụng và số tiền 780.000₫ (Bảy trăm tám mươi nghìn đồng).

Trả lại: Nguyễn Quốc H5 01 xe mô tô biển kiểm soát 64H1-31184 số máy: E32VE102497, số khung: RLCUE3740LY034148 đã qua sử dụng và số tiền 3.700.000₫ (Ba triệu bảy trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh, IMEI số: 35847577372202201, đã qua sử dụng.

Trả lại: Phan Văn H4 01 điện thoại di động OPPO màu xanh IMEI số: 866967044631839 đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 8.700.000đ (Tám triệu bảy trăm nghìn đồng) và 01 xe mô tô biển kiểm soát 61R3 – 4020, số máy: JC43E1403836, số khung: RLHJC4314AY151837, đã qua sử dụng.

Trả lại: Hồ Văn H7 Em 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO màu đen số IMEI số: 864932065979493, đã qua sử dụng và số tiền 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).

Trả lại: Phạm Thanh T6 01 điện thoại di động hiệu Oppo, IMEI số: 869115049444272, đã qua sử dụng.

Trả lại: Nguyễn Trung H6 01 điện thoại di động hiệu Oppo màu đỏ, IMEI số: 869347030183136, đã qua sử dụng và số tiền 3.500.000₫ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).

Trả lại: Trương Văn K1 số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Trả lại: Trần Thị Ngọc T4 số tiền 50.000đ (Năm mươi nghìn đồng).

Trả lại: Cao Văn N 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, IMEI số: 352713076256884, đã qua sử dụng và 01 xe mô tô biển kiểm soát 65G1-427.53 số máy E32VE553299, số khung: RLCUE3710NY316237, đã qua sử dụng.

Trả lại: Phan Hữu Đ2 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen, IMEI số: 350335891341303, đã qua sử dụng và số tiền 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng).

Trả lại: Nguyễn Duy K3 01 điện thoại di động hiệu Vsmart màu xanh, IMEI số: 354581111639572, đã qua sử dụng, tiền Việt Nam 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng).

Trả lại: Nguyễn Văn T8 Anh 01 điện thoại di động và số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và 01 xe mô tô biển kiểm soát: 65F5-3367, số máy: LC150FMGY0442593, số khung: VH100200120956, đã qua sử dụng.

Trả lại: Trần Văn H1 01 điện thoại di động hiệu Nokia bị ướt, không còn hoạt động đã qua sử dụng và số tiền 1.550.000đ (Một triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng).

Trả lại: Nguyễn Quang T5 số tiền 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

Trả lại: Nguyễn Văn S 01 xe mô tô biển kiểm soát: 83D1-18454, số máy: KC26E1182571, số khung: RLHKC2604GY335776, đã qua sử dụng.

Trả lại: Nguyễn Thanh L1 01 xe mô tô biển kiểm soát: 52F6 – 5352, số máy: C09R6454275, số khung: Y454235, đã qua sử dụng.

Trả lại: Nguyễn Bảo X số tiền 2.300.000₫ (Hai triệu ba trăm nghìn đồng); 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu trắng bị bể lưng, mà hình có nhiều sọc, số IMEI: không thể hiện và 01 xe mô tô biển kiểm soát 65G1-01045, số máy: HCJ2E2874509, số khung: RLHHC1207BY074534, đã qua sử dụng.

Trả lại: Phan Tấn T7 01 xe mô tô biển kiểm soát 65L1-934365L1-9343, số máy: 5C64408761, số khung: RLCS5C640BY408756, đã qua sử dụng.

Giao lại cho Công an xã T: 01 xe mô tô biển kiểm soát 65H7-4652, số máy: VMEVA2121276, số khung: RLHXA10CD4D121276, đã qua sử dụng để xác minh, làm rõ chủ sở hữu, xử lý theo quy định của pháp luật.

2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 04/3/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 04/3/2025. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Hậu Giang;
  • - Viện KSND huyện Châu Thành A;
  • - Cơ quan CSĐT CA tỉnh Hậu Giang;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành A;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG về hình sự - đánh bạc

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH A, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố phạm tội
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger