|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HSST Ngày: 28 – 02 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Thị
- Bà Lê Thị Trinh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Chính, Thư Ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Điệp, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh và điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh H xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số : 07/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/XXHSST – HS, ngày 14/02/2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn D; giới tính: Nam; tên gọi khác: Nguyễn Tiến D1; sinh ngày 08 tháng 08 năm 1997, tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/12;Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Nguyễn Tiến Y (Đã chết); con bà: Lê Thị L; vợ: Nguyễn Thị L1; con: Có 01 đứa, sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; quá trình nhân thân: Ngày 03/01/2017, Nguyễn Văn D bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 33 tháng tù, theo Bản án số 01/2017/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018, đương nhiên xóa án tích; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Nguyễn Văn D bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay.
2. Họ và tên: Đậu Xuân Đ; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không. Sinh ngày 16 tháng 02 năm 2001. tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 8/12;Chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Đậu Văn T; con bà: Nguyễn Thị T1; vợ, con: Chưa có; tiền án: Bị cáo Đậu Xuân Đ có một tiền án. Ngày 05/11/2020, Đậu Xuân Đ bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 85/2020/HSST, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đã chấp hành xong phần bồi thường dân sự, tiền án phí và chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/12/2023, đến ngày 17/11/2024 chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nói trên; tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn: Bị cáo Đậu Xuân Đ bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/11/2024 cho đến nay.
(Bị cáo có mặt tại phiên toà)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Nguyễn Trung Đ1 – sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Ông Nguyễn Ngọc L2 – sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Bà Nguyễn Thị L1 – sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Bà Nguyễn Thị T1 – sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Ông Đậu Xuân T2 – sinh năm 1974; nơi cư trú: Thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Ông Nguyễn Quốc T3 – sinh năm 1969; nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Tại điểm cầu trại tạm giam Công an tỉnh H
- - Ông Phạm Ngọc B, chức vụ: Tổ trưởng tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)
- - Ông Nguyễn Bá K, chức vụ: Tổ viên tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)
- - Ông Hoàng Đình D2, chức vụ: Tổ viên tổ hình ảnh thuộc trại tạm giam Công an tỉnh H (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 20 giờ 40 phút, ngày 18/11/2024, tại phòng ngủ nhà ở của Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1995, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phát hiện, bắt quả tang Đậu Xuân Đ đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ dưới chiếc gối trên giường ngủ tại vị trí Đ đang nằm ba gói ni lông trong suốt, kích thước mỗi gói lần lượt là 2,6cmx1,2cm, 2,6cmx1,2cm và 2,6cmx1,4cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và tại góc tường, cạnh chân giường một hộp nhựa màu đen kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn một chiếc cóng thủy tinh trong suốt và một ống nhựa màu vàng. Đậu Xuân Đ khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma túy đá Đ mua của Nguyễn Văn D, với số tiền 800.000 đồng, để nhằm mục đích sử dụng. Đồng thời phát hiện thu giữ tại ngăn kéo bàn trang điểm trong phòng ngủ của Nguyễn Ngọc L2 một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm bên trong có một gói ni lông kích thước 2,2cmx1,3cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng và một cóng thủy tinh, một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu, Nguyễn Trung Đ1 khai nhận chất tinh thể màu trắng là ma tuý đá Đ1 xin của Đ để sử dụng còn các đồ vật khác Đ1 mang đến cất dấu trong ngăn kéo để sử dụng.
Vào hồi 16 giờ 30 phút ngày 19/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đậu Xuân Đ, tại thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Vào hồi 17 giờ 15 phút ngày 19/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Trung Đ1, tại thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Đến 15 giờ 00 phút ngày 19/11/2024, Nguyễn Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Tiếp đó vào hồi 18 giờ 45 phút ngày 19/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn D, tại thôn X, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Kết quả không thu giữ được đồ vật tài liệu gì liên quan đến ma túy.
Quá trình điều tra xác định: Nguyễn Văn D là đối tượng nghiện ma túy, nên thường xuyên mua ma túy về sử dụng và bán lại cho người khác khi có nhu cầu. Khoảng đầu tháng 11/2024, quá trình làm thuê tại huyện B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Văn D liên hệ với người đàn ông (Không rõ họ tên, địa chỉ) mua một gói ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng, sau đó đưa về nhà chia ra thành năm gói nhỏ cất dấu trong người để vừa sử dụng vừa bán lại kiếm lời. Sau khi chia ma tuý ra thành năm gói nhỏ, D lấy một gói ma tuý rồi một mình sử dụng hết. Tiếp đó D gặp Đậu Xuân Đ là đối tượng nghiện ma tuý nói với Đ khi nào có nhu cầu sử dụng ma tuý thì liên hệ với D. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 17/11/2024, Đậu Xuân Đ sử dụng điện thoại nhãn hiệu SamSung A05S, đăng nhập tài khoản Facebook “Đậu Xuân Đ” của mình, gọi điện qua M đến tài khoản Facebook “Dũng L3” của Nguyễn Văn D hỏi có không bán cho Đ ba cái và xin thêm D một cái về sử dụng thì D đồng ý bán cho Đ ba gói ma tuý với giá 800.000 đồng và nói với Đ lên nhà lấy. Sau đó D lấy một gói ma tuý ra chia thành hai gói nhỏ để cho thêm Đ một gói ma tuý còn một gói ma tuý để lại sau đó sử dụng hết. Khoảng 21 giờ 10 phút cùng ngày, Đ, điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 38K1-306.36 đến nhà gặp D, D đưa cho Đ bốn gói ma tuý đá và Đ thanh toán cho D 300.000 đồng còn lại 500.000 đồng chuyển khoản. Sau khi mua ba gói ma túy đá của D và được D cho thêm một gói ma tuý đá, trên đường về đến cánh đồng lúa thôn X, xã K, huyện K Đ lấy gói ma tuý D cho ra sử dụng một ít số còn lại cùng với ba gói ma tuý đá mua của D, Đ cất dấu dưới mủ bảo hiểm xe mô tô của mình rồi đi về nhà nằm ngủ. Đến khoảng 16 giờ 00 phút ngày 18/11/2024, Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Trung Đ1, sinh năm 2001, trú tại thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Bạn với Đ) hỏi có chổ nào nằm nghĩ không, tìm cho Đ chổ nằm nghĩ thì Đ1 nói lên ngã tư gần UBND xã K, Đ1 đón rồi Đ lấy mủ bảo hiểm xe mô tô cất dấu ma tuý đá bên trong cùng với bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đá cất dấu vào túi quần và Đ1 chở đến nhà Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1995, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh vào phòng ngủ của L2 gặp L2 đang nằm chơi điện thoại trên giường, nên Đ1 nói với L2 cho Đ nằm nghĩ lại rồi Đ1 đi chơi bóng chuyền. Quá trình nằm ngủ tại phòng của L2, lợi dụng lúc L2 đi ăn cơm Đ lấy bốn gói ma tuý đá trong mủ bảo hiểm xe mô tô ra cất dấu vào dưới chiếc gối nơi vị trí Đ nằm và lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra cất dấu ở chân giường cạnh tường rồi tiếp tục nằm trên giường sử dụng điện thoại. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Đ1 đến đi vào phòng ngủ thấy Đ một mình trong phòng nên nói với Đ “Có không cho tau cái” Đ đồng ý rồi lấy gói ma tuý đá D cho Đ trước đó đã sử dụng để dưới gối đưa cho Đ1, Đ1 lấy gói ma tuý đá Đ cho cất dấu vào trong hộp nhựa màu đen ở ngăn kéo bàn trang điểm tại phòng ngủ của L2. Đến 20 giờ 40 phút cùng ngày, khi Đậu Xuân Đ, Nguyễn Trung Đ1 và Nguyễn Ngọc L2 đang nằm chơi điện thoại trên giường tại phòng ngủ của L2 thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an xã K, huyện K phát hiện, bắt quả tang đối với Đậu Xuân Đ về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma tuý.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đã niêm phong chất tinh thể màu trắng thu giữ trong quá trình bắt quả tang của Đậu Xuân Đ và Nguyễn Trung Đ1 để trưng cầu giám định. Tại bản kết luận giám định số 1329/KL-KTHS ngày 27/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận:
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 03 (Ba) gói ni lông thu của Đậu Xuân Đ, kích thước lần lượt 2,6cmx1,2cm; 2,6cmx1,2cm và 2,6cmx1,4cm (Ký hiệu M1) gửi giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,5227 gam (Không phẩy năm hai hai bảy gam) là chất ma túy nằm trong danh Mục II.C,STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
- - Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 (Một) gói ni lông thu của Nguyễn Trung Đ1 kích thước 2,2cmx1,3cm (Ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy Methamphetamine, có khối lượng 0,0751 gam (Không phẩy không bảy năm một gam) là chất ma túy nằm trong danh Mục II.C,STT 247, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
Tổng khối lượng ma tuý Methamphetamine Thu giữ ở Đậu Xuân Đạt là 0,5227 gam (Không phẩy năm hai hai bảy gam); thu giữ ở Nguyễn Trung Đ1 là 0,0751 gam (Không phẩy không bảy năm một gam).
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý vật chứng gồm:
+ Vật chứng thu giữ đã xử lý:
- - Một điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A53 màu xanh, số IMEI1: 862627052148217, số IMEI2: 862627052148209, bên trong gắn sim số 0989494721, thu giữ của Nguyễn Văn D, đã trả lại cho chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị L1
- - Một xe mô tô biển kiểm soát 38M1-251.12, thu của Nguyễn Trung Đ1, đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Nguyễn Quốc T3
- - Một xe mô tô biển kiểm soát 38K1-306.36, thu của Đậu Xuân Đ, đã trả lại cho chủ sở hữu là ông Đậu Văn T.
+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
- - Một phong bì thư có dòng chữ “CÔNG AN TỈNH HÀ TĨNH, PHÒNG K1” được niêm phong dán kín, trên mép dán có chữ ký, ghi rõ họ tên của thành phần tham gia niêm phong, bên trong có một gói ni lông ký hiệu M1 đựng 0,4455 gam (Không phẩy bốn bốn năm năm gam) ma túy Methamphetamine, sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại thu của Đậu Xuân Đ; một gói ni lông ký hiệu M2 đựng 0,0368 gam (Không phẩy không ba sáu tám gam) ma túy Methamphetamine, sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại, thu của Nguyễn Trung Đ1 cùng với vỏ gói ni lông.
- - Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một hộp nhựa màu đen trong suốt có nắp màu bạc, kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một chiếc mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có ghi dòng chữ APPLE VOI, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm và một chiếc cóng thủy tinh, một một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu thu của Nguyễn Trung Đ1.
Các vật chứng nói trên hiện chưa xử lý, nay chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 06/CT- VKSKA ngày 08 tháng 2 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Truy tố Đậu Xuân Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý"
Bị cáo Đậu Xuân Đ phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma tuý”
Về hình phạt:
Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn D từ 24 đến 27 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.
Căn cư điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Đậu Xuân Đ từ 13 đến 17 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.
Về vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,4823 gam (Không phẩy bốn tám hai ba gam) ma túy là Methamphetamine; một hộp nhựa màu đen trong suốt có nắp màu bạc, kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng; một chiếc mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có ghi dòng chữ APPLE VOI và một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm và một chiếc cóng thủy tinh, một một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758
Biện pháp tư pháp: Đề nghị căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn D số tiền 800.000₫
Về án Phí: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc Nguyễn Văn D và Đậu Xuân Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, kết luận giám định, lời khai người có quyền, nghĩa vụ liên quan và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 20 giờ 40 phút, ngày 18/11/2024, tại phòng ngủ nhà ở của Nguyễn Ngọc L2, sinh năm 1995, ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh phối hợp với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh bắt quả tang Đậu Xuân Đ đang tàng trữ trái phép 0,5227 gam (Không phẩy năm hai hai bảy gam) ma tuý Methamphetamine. Số ma túy trên, Đậu Xuân Đ khai nhận mua của Nguyễn Văn D, để nhằm mục đích sử dụng. Qúa trình điều tra xác định: Khoảng đầu tháng 11/2024, Nguyễn Văn D mua của một người đàn ông (Không rõ, họ tên, địa chỉ) một gói ni lông bên trong chứa ma tuý đá với giá 1.500.000 đồng. Sau khi mua ma tuý về D chia ra thành năm gói ni lông nhỏ và sử dụng hết một gói ma tuý, còn lại bốn gói ni lông bên trong chứa ma túy đá có khối lượng 0,5978 (Không phẩy năm chín bảy tám gam) thu giữa được là ma tuý Methamphetamine, ngày 17/11/2024 Nguyễn Văn D bán cho Đậu Xuân Đ ba gói ma tuý đá với giá 800.000 đồng, còn một gói ma tuý đá D chia nhỏ ra thành hai gói để cho thêm Đ một gói, số còn lại D sử dụng hết. Đến ngày 19/11/2024 Nguyễn Văn D đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau khi mua ba gói ma tuý đá của Nguyễn Văn D và được D cho T4 một gói ma tuý đá, Đậu Xuân Đ lấy gói ma tuý đá D cho ra sử dụng một ít, số còn lại 0,0751 gam là ma tuý Methamphetamine, Đ cho Nguyễn Trung Đ1 sinh năm 2001, trú tại thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh sử dụng. Tổng khối lượng ma tuý Methamphetamine Đậu Xuân Đ tàng trử nhằm mục đích sử dụng thu giữ được là 0,5978 gam (Không phẩy năm chín bảy tám gam). Tổng khối lượng mà ma túy Methamphetamine mà Nguyễn Văn D mua bán là 0,5978 (Không phẩy năm chín bảy tám gam).
Hành vi của Nguyễn Văn D đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của Đậu Xuân Đ đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này Nguyễn Văn D chịu trách nhiệm hình sự độc lập về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Đậu Xuân Đ chịu trách nhiệm hình sự độc lập về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
[3]. Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Nguyễn Văn D và Đậu Xuân Đ là những đối tượng không có nghề nghiệp ổn định có lối sống buông thả, ăn chơi, không chịu khó làm ăn nên đã sa vào con đường nghiện ngập ma tuý. Đối với Nguyễn Văn D mặc dù vào ngày 03/01/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh xử phạt 33 tháng tù, theo Bản án số 01/2017/HSST, về tội “Trộm cắp tài sản”. Đã chấp hành xong bản án và chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/9/2018, đương nhiên xóa án tích, nhưng bị cáo không ăn năn hối cải mà tiếp tục phạm tội. Đối với Đậu Xuân Đ vào ngày 05/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu xử phạt 04 năm 06 tháng tù, theo Bản án số 85/2020/HSST, về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”. Đã chấp hành xong phần bồi thường dân sự, tiền án phí và chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/12/2023, đến ngày 17/11/2024 chưa được xoá án tích lại tiếp tục phạm tội nói trên, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự là tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đậu Xuân Đ phải chịu tình tiết tăng nặng Tái phạm quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Đối với bị cáo Nguyễn Văn D không có tình tiết trách nhiệm Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn D, Đậu Xuân Đ được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn D được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ Đầu Thú và có bố đẻ được Ban tặng kỷ niệm chương theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Cần áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để xem xét khi quyết định hình phạt cho bị cáo, nhưng dù xem xét đến đâu thì cũng cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy đình tại khoản 5 Điều 249 và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 500.000.000đ, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy các bị cáo là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định, điều kiện kinh tế khó khăn, lại nghiện ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[4]. Đới với các vấn đề liên quan:
- - Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho Nguyễn Văn D, theo D trình bày ở huyện B, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, Nguyễn Văn D. Do D không quen biết, không rõ họ tên, địa chỉ nên chưa có cơ sở xác định, Cơ quan điều tra công an huyện K tiếp tục điều tra làm rõ và xử lý sau.
- - Đối với Nguyễn Trung Đ1, được Đậu Xuân Đ cho 0,0751 gam ma tuý Methamphetamine với mục đích tàng trữ để sử dụng, nhưng chưa đủ khối lượng theo quy định để truy cứu trách nhiệm hình sự. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã tiến hành lập hồ sơ xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.
- - Đối với Nguyễn Ngọc L2, quá trình Đậu Xuân Đ và Nguyễn Trung Đ1 cất giấu ma túy trong phòng ngủ của mình, Nguyễn Ngọc L2 không biết, nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với ông Đậu Văn T, chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 38K1-306.36 mà Đậu Xuân Đ sử dụng để đi mua ma túy và ông Nguyễn Quốc T3, chủ sở hữu xe mô tô biển kiểm soát 38M1-251.12 mà Nguyễn Trung Đ1 sử dụng để chở Đậu Xuân Đ đến nhà Nguyễn Ngọc L2. Quá trình điều tra xác định khi cho Đ và Đ1 mượn xe ông T, ông T3 không biết mục đích sử dụng của Đ và Đ1, nên không có căn cứ để xử lý.
- - Đối với chị Nguyễn Thị L1, vợ của Nguyễn Văn D, là người cho D mượn điện thoại để sử dụng và sinh sống cùng với Nguyễn Văn D. Quá trình điều tra xác định việc D tàng trữ, mua bán ma túy, chị L1 không biết, nên không có căn cứ để xử lý.
[5]. Vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra cơ quan CSĐT Công an huyện K thu giữ các vật chứng sau: - 0,4455 gam (Không phẩy bốn bốn năm năm gam) ma túy Methamphetamine, sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại thu của Đậu Xuân Đ; 0,0368 gam (Không phẩy không ba sáu tám gam) ma túy Methamphetamine, sau khi đã lấy mẫu giám định không hoàn lại, thu của Nguyễn Trung Đ1 cùng với vỏ gói ni lông.
- - Một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một hộp nhựa màu đen trong suốt có nắp màu bạc, kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một chiếc mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có ghi dòng chữ APPLE VOI, thu của Đậu Xuân Đ.
- - Một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm và một chiếc cóng thủy tinh, một một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu thu của Nguyễn Trung Đ1.
Hội đồng xét xử xét thấy 0,4823 gam (Không phẩy bốn tám hai ba gam) ma túy là Methamphetamine là hàng cấm tàng trữ, lưu hành; các vật chứng còn lại là công cụ, phương tiện phạm tội của các bị cáo. Riêng chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758 là của bà Nguyễn Thị T1 cho bị cáo Đậu Xuân Đ mượn, khi Đ mượn bà T1 không biết Đ dùng vào việc phạm tội, vì vậy tịch thu tiêu huỷ 0,4823 gam (Không phẩy bốn tám hai ba gam) ma túy là Methamphetamine; một hộp nhựa màu đen trong suốt có nắp màu bạc, kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng; một chiếc mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có ghi dòng chữ APPLE VOI và một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm và một chiếc cóng thủy tinh, một một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T5 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758 theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Biện Pháp Tư Pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn D số tiền 800.000đ do D bán ma túy cho Đ mà có theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn D.
Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Đậu Xuân Đ
Điểm a, điểm b, điểm c Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Điều 331, Điều 333; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Nguyễn Văn D phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”
Đậu Xuân Đ phạm tội “Tàng Trữ trái phép chất ma tuý”
1. Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Văn D 26 (Hai sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.
Xử phạt Đậu Xuân Đ 17 (Mười bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 19/11/2024.
2. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 0,4823 gam (Không phẩy bốn tám hai ba gam) ma túy là Methamphetamine; một hộp nhựa màu đen trong suốt có nắp màu bạc, kích thước 5,5cmx09cm, phần nắp được gắn 01 cóng thủy tinh và 01 ống nhựa màu vàng; một chiếc mũ bảo hiểm màu đen, trên mũ có ghi dòng chữ APPLE VOI và một hộp nhựa màu đen kích thước 15cmx03cm và một chiếc cóng thủy tinh, một một ống kim loại được gắn ống nhựa ở một đầu.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05s, số IMEI 1: 357533640232756, số IMEI 2: 358833700232756, gắn sim số 0347711758 theo quy định tại điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
3. Biện pháp tư pháp: Truy thu nộp vào ngân sách Nhà nước ở Nguyễn Văn D số tiền 800.000₫
4. Về án phí: Xử buộc Nguyễn Văn D và Đậu Xuân Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 09/2025/HSST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH về vụ án hình sự về tội mua bán và tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 09/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH - TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Văn Dũng 26 tháng tù Đậu Xuân Đath 17 tháng tù
