Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 24 - 02 - 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Xuân Tuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Sâm
  2. Ông Lê Đăng Thiện

Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Hồng Vân - Thư ký, Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 24/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025 đối với các bị cáo:

1. Nguyễn Văn S, sinh ngày 23 tháng 5 năm 2000 tại xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn E, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...], cấp ngày 20/01/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; Chưa có vợ, con.

Tiền án; Tiền sự: Không

Nhân thân: Tháng 8/2022 bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong Quyết định xử phạt hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Có mặt tại phiên tòa).

2. Trần Văn K, sinh năm 1969 tại xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình; Thẻ CCCD số [...], cấp ngày 10/8/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn K1 (đã chết) và bà Vũ Thị H (đã chết); Có vợ là Trần Thị Đ và 03 con.

Tiền án; Tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T (Có mặt tại phiên tòa).

3. Vũ Huy P, sinh năm 1987 tại xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Thẻ CCCD số [...], nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Huy T2 và bà Lê Thị L; Có vợ là Hoàng Thị H1 và 01 con.

Tiền án; Tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2014 bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/8/2015 và đã nộp xong án phí. Năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chấp hành án phạt tù vào ngày 27/3/2020 và đã nộp xong án phí.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/8/2024 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện T.

(Các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa)

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Hoàng Thị H1, sinh năm 1980 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, Thanh Hóa.

* Những người làm chứng:

  • + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1980 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Thôn E, xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.
  • + Chị Trần Thị Đ, sinh năm 1972 (Có mặt).
  • Địa chỉ: Xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình.
  • + Anh Lê Văn H2, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
  • Địa chỉ: Thôn A Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 16/8/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Hình sự, Kinh tế và Ma túy Công an huyện T phối hợp với Công an xã T tiến hành làm việc, xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể đối với Lê Văn H2. Kết quả Lê Văn H2 dương tính với chất ma túy (loại Heroine).

Về nguồn gốc ma túy, H2 khai nhận mua của Nguyễn Văn S vào ngày 11/8/2024 với số tiền 1.000.000₫ tại khu vực nghĩa trang xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi mua được ma túy H2 đã sử dụng hết một phần, số còn lại chưa sử dụng, H2 tự giác giao nộp cho Cơ quan Công an. Tiến hành kiểm tra điện thoại di động nhãn hiệu Mastel gắn sim số 0363.655.xxx của Lê Văn H2 phát hiện cuộc gọi tới số 0962.205.798 của Nguyễn Văn S vào ngày 11/8/2024 và 06 tập ghi âm cuộc gọi có nội dung trao đổi về việc mua ma tuý của Nguyễn Văn S.

Ngày 17/8/2024, Nguyễn Văn S đến Cơ quan Công an đầu thú, khai nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn H2 vào trưa ngày 11/8/2024 tại nghĩa trang xã X, huyện T.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn S tại thôn E, xã P, huyện T, Cơ quan điều tra phát hiện thu giữ tại giường ngủ của S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max gắn sim số 0354.898.483 và 0962.205.798; thu giữ tại sân nhà 01 xe máy nhãn hiệu Honda Sh 125i, biển kiểm soát 36AM-010.03 của Nguyễn Văn S, bên trong cốp xe có số tiền 1.440.000đ. Kiểm tra điện thoại và sim số 0962.205.xxx phát hiện cuộc gọi đi và đến số 0363.655.400 vào ngày 11/8/2024, S khai nhận đây là các cuộc gọi để hẹn bán ma túy cho H2.

Ngoài hành vi bán trái phép chất ma túy cho Lê Văn H2 ngày 11/8/2024, S khai nhận vào tối ngày 10/8/2024 còn mua hộ cho Vũ Huy P 1.000.000₫ ma túy của một người đàn ông tại nghĩa trang L xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Ngày 17/8/2024, Vũ Huy P đến Công an xã T đầu thú, khai nhận vào tối ngày 10/8/2024 có nhờ Nguyễn Văn S mua hộ 1.000.000₫ ma túy, sau khi mua được ma tuý P đã sử dụng hết một phần, số còn lại P đang cất giấu tại nhà.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Vũ Huy P tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa Cơ quan điều tra thu giữ: 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa cục dạng bột màu trắng ngà; số tiền 150.000đ; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO bên trong gắn sim số 0962.488.559. P khai nhận chất bột màu trắng ngà là ma túy (heroine) P nhờ S mua hộ vào ngày 10/8/2024, sau khi nhờ S mua hộ được ma túy P đã sử dụng hết một phần, số còn lại P cất giấu ở nhà nhằm mục đích sử dụng.

Về nguồn gốc số ma túy bán cho Lê Văn H2, S khai nhận mua của Trần Văn K tại xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Khá bán cho S 03 gói ma túy với giá 1.500.000đ. Sau khi mua được ma túy S sử dụng hết một phần, số còn lại S bán cho H2 vào trưa ngày 11/8/2024 với số tiền 1.000.000đ.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Văn K tại xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình, Cơ quan điều tra thu giữ: 02 điện thoại di động bao gồm 01 điện thoại nhãn hiệu Galaxy J6+ gắn sim số 0365.153.423 và 01 điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy M145G gắn sim số 0948.422.588; Số tiền 500.000đ (thu giữ trên người Khá); Số tiền 300.000đ; 01 lưỡi dao lam; 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn (Thu giữ trong buồng ngủ của K); Số tiền 2.000.000đ; 08 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn; 01 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa chất bột màu trắng ngà dạng các vụn; 11 mảnh giấy bạc (Thu giữ bên trong túi áo mưa ở khu vực nhà vệ sinh); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 35KT-08111 và 01 đăng ký xe mang số 009170 mang tên Trần Văn K (Thu giữ tại sân nhà K)

Các gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng ngà dạng cục vụn thu giữ, K khai nhận là ma tuý của K cất giấu nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác kiếm lời.

Về nguồn gốc ma túy: Trần Văn K khai nhận mua của một người đàn ông không quen biết ở xóm A, xã H, huyện K, tỉnh Ninh Bình. Cơ quan điều tra Công an huyện T đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho Trần Văn K.

Tiến hành xét nghiệm các chất gây nghiện đối với Nguyễn Văn S, Vũ Huy P, Lê Văn H2, Trần Văn K kết quả: H2, S, P, K dương tính với chất ma túy loại Heroine.

Tại Kết luận giám định số: 3064/KL-KTHS ngày 21/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng ngà, dạng cục vụn của phong bì màu trắng có chữ “CÔNG AN TỈNH THANH HÓA - CÔNG AN HUYỆN THỌ XUÂN” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,006g loại: Heroine (thu giữ của Lê Văn H2). Cục dạng bột màu trắng ngà của phong bì màu trắng ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,452g loại: Heroine. (thu giữ của Vũ Huy P)

Tại Kết luận giám định số: 3113/KL-KTHS ngày 27/8/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T, kết luận (số ma túy thu giữ của Trần Văn K): Chất bột màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M2 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,049g loại: Heroine. Các cục vụn màu trắng ngà của phong bì ký hiệu M1 niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 3,939g loại Heroine. Tìm thấy chất ma túy loại Heroin bám dính trên lưỡi dao lam nhãn hiệu Crome của phong bì ký hiệu D niêm phong gửi giám định. Không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu giám định số 964/QĐ-ĐCSMT, giám định sinh học thu giữ kiểu Gen trên mảnh giấy bạc và vỏ túi ni lông màu trắng đựng ma túy thu giữ tại nhà của Vũ Huy P. Tại bản kết luận giám định số 3259/KL-KTHS ngày 06/9/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh T kết luận: Trên mảnh giấy bạc, các túi ni lông và mảnh giấy có các hình kẻ caro gửi giám định đều có tế bào người. Do lượng tế bào ít nên không xác định được kiểu gen.

Ngày 18/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 965/QĐ-ĐCSMT trưng cầu giám định đối với số tiền thu giữ khi khám xét chỗ ở của Nguyễn Văn S, Vũ Huy P. Tại bản kết luận giám định số 3087/KL-KTHS ngày 26/8/2024 của Phòng K2 kết luận: Toàn bộ số tiền gửi giám định là tiền thật.

Ngày 28/8/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 974/QĐ-ĐCSMT trưng cầu giám định đối với số tiền thu giữ khi khám xét chỗ ở của Trần Văn K. Tại bản kết luận giám định số 3135/KL-KTHS ngày 28/8/2024 của Phòng K2 kết luận: Toàn bộ số tiền gửi giám định là tiền thật.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận: Khoảng 20 giờ ngày 10/8/2024, Vũ Huy P sử dụng số điện thoại 0962.488.xxx (điện thoại chị Hoàng Thị H1 - vợ của P) gọi đến số 0962.205.798 của S để nhờ S mua hộ 1.000.000₫ ma túy loại Heroine, S đồng ý và hẹn P đến cây xăng xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Tại đây, P đưa cho S số tiền 1.000.000đ. Sau khi nhận được tiền, S đến nghĩa trang liệt sỹ xã X gặp một người tên Ngô Văn N, sinh năm 1999 trú tại xã Đ, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa để mua ma túy với số tiền 1.000.000đ. Sau khi mua được ma túy S đã đưa hết cho P.

Đến khoảng 21 giờ ngày 10/8/2024 Nguyễn Văn S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, biển kiểm soát 36D1-495.74 của mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T1 đi đến huyện K, tỉnh Ninh Bình để mua ma túy với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Khi đi đến khu vực xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình, S sử dụng số điện thoại 0962.205.xxx gọi điện đến số 0365.153.423 của Trần Văn K để hỏi mua ma túy (loại Heroine) với số tiền 1.500.000đ, K đồng ý và hẹn S đến khu vực miếu T4 cạnh nhà K để giao dịch mua bán ma túy. Tại đây, S gặp K (lúc này K đứng bên trong miếu còn S đứng ngoài đường nhựa cách nhau một bức tường cao khoảng 1,5 mét), S đưa cho Khá 1.500.000₫ và nhận 03 gói ma túy (loại Heroine). Sau khi mua được ma túy S quay về nhà ở xã P, huyện T, tỉnh Thanh Hóa và sử dụng hết một phần số ma túy trên.

Sáng ngày 11/8/2024, khi S đang đi làm nhôm kính ở huyện N, tỉnh Thanh Hóa thì Lê Văn H2 sử dụng số điện thoại 0363.655.xxx gọi điện vào số điện thoại 0962.205.xxx của Nguyễn Văn S để hỏi mua 1.000.000₫ ma túy để sử dụng. S đồng ý và hẹn H2 đến khu vực nghĩa trang xã X, huyện T để giao dịch mua bán ma túy. Tại đây, S bán cho H2 01 gói giấy bạc bên trong chứa ma túy và nhận 1.000.000đ. Sau khi mua được ma túy H2 đã sử dụng hết một phần, số còn lại H2 đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra.

Về nguồn gốc số ma túy mua hộ cho Vũ Huy P vào tối ngày 10/8/2024, S khai nhận gặp mua của một người đàn ông mà S nghe nói tên là Ngô Văn N, sinh năm 1999 trú tại xã Đ, huyện Y, Thanh Hóa tại khu vực nghĩa trang liệt sĩ xã X, huyện T. Tiến hành xác minh đối với N, xác định thời điểm ngày 10/8/2024 Ngô Văn N đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y bắt giữ, tạm giam về tội Mua bán trái phép chất ma túy trong một vụ án khác. Quá trình làm việc Ngô Văn N khai báo không bán ma túy cho S, Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng không có căn cứ để xử lý đối với Ngô Văn N.

Đối với chị Hoàng Thị H1 (vợ của Vũ Huy P): Vào tối ngày 10/8/2024 P có sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu OPPO gắn sim số 0962.488.559 để liên hệ với S nhờ mua ma túy và sử dụng chiếc xe máy biển kiểm soát 36B4-1036 của chị H1 làm phương tiện đi mua ma tuý. Chị H1 không biết mục đích P sử dụng chiếc điện thoại và phương tiện của chị H1 để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật nên không có căn cứ để xử lý đối với chị H1.

Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn S, Vũ Huy P, Trần Văn K và Lê Văn H2 Cơ quan điều tra đã chuyển đến Công an huyện T xem xét xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Các đồ vật thu giữ trong quá trình điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định của pháp luật.

Tại bản Cáo trạng số 17/CT-VKSTX ngày 23/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố Nguyễn Văn S về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố Trần Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố Vũ Huy P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân thực hành quyền công tố giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử (Viết tắt là HĐXX):

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Văn S; Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với Trần Văn K; Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với Vũ Huy P. Áp dụng Điều 329, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS đối với cả 3 bị cáo.

Đề nghị HĐXX xử phạt: Nguyễn Văn S từ 24 đến 27 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 13 đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai tội từ 37 đến 42 tháng tù; Trần Văn K từ 54 tháng đến 60 tháng tù. Vũ Huy P từ 13 đến 15 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/8/2024; Đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

Đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:

  • - Tịch thu và tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số PS3A 108267; 01 phong bì niêm phong được dán kín ký hiệu TC 964 là vật nhà nước cấm lưu hành và vật không có giá trị sử dụng;
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel gắn sim số 0363.655.xxx và 01 thẻ nhớ 02GB màu đen thu giữ của Lê Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max thu giữ của Nguyễn Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ thu giữ của Trần Văn K; số tiền 1.000.000₫ của Nguyễn Văn S và số tiền 1.500.000đ của Trần Văn K là tiền do phạm tội mà có.
  • - Trả lại cho Trần Văn K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc đen, BKS: 35K1-08111 và 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số: 009170 mang tên Trần Văn K.
  • - Trả lại cho chị Hoàng Thị H1 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO bên trong gắn sim số: 0962.488.559, thu giữ của Vũ Huy P.
  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Huy P số tiền 150.000đ; bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 440.000đ; bị cáo Trần Văn K số tiền 1.300.000₫.

Buộc các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (Viết tắt là BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền trong cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là đúng quy định.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Văn S, Trần Văn K và Vũ Huy P đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra. Đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đều phản ánh thống nhất, khách quan: Khoảng 20 giờ ngày 10/8/2024 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa, Nguyễn Văn S đã có hành vi mua hộ cho Vũ Huy P 1.000.000₫ ma túy loại Heroine của Ngô Văn N, sinh 1999 ở xã Đ, huyện Y (N đang bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y điều tra, xử lý trong một vụ án khác), số Heroine này P đã sử dụng hết một phần, còn lại 0,452g Heroin chưa sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt và thu giữ. Do đó, Nguyễn Văn S và Vũ Huy P phải chịu trách nhiệm về hành vi tàng trữ trái phép đối với 0,452g Heroin. Ngoài ra, khoảng 22 giờ ngày 10/8/2024 tại xóm A, xã Q, huyện K, tỉnh Ninh Bình, Trần Văn K đã bán trái phép 03 gói ma túy loại Heroine cho Nguyễn Văn S lấy số tiền 1.500.000 đồng, S đã sử dụng hết một phần, phần còn lại trưa ngày 11/8/2024 S bán cho Lê Văn H2. Số ma túy mua của S, H2 đã sử dụng hết một phần, phần còn lại 0,006g Heroine chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an bắt và thu giữ. Nguyễn Văn S phải chịu trách nhiệm đối với hành vi mua bán trái phép 0,006g Heroine cho Lê Văn H2. Với Trần Văn K ngoài số ma tuý bán cho Nguyễn Văn S, K còn tàng trữ 3,988g ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác kiếm lời. Do đó, Trần Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự đối với tổng 3,994g ma túy loại Heroine bị thu giữ. Đủ cơ sở để HĐXX khẳng định bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và bị cáo Vũ Huy P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng số 17/CT-VKSTX ngày 23/01/2025 của VKSND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của các bị cáo thấy: Đây là vụ án thuộc trường hợp tội phạm nghiêm trọng. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ việc mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng vì lợi nhuận và thoả mãn nhu cầu nghiện của bản thân nên bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi phạm tội.

Về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”: Nguyễn Văn S có hành vi bán trái phép 0,006g ma túy, loại Heroine cho Lê Văn H2; Trần Văn K có hành vi bán trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine cho Nguyễn Văn S và tàng trữ 3,988g ma túy, loại Heroine nhằm mục đích sử dụng và bán kiếm lời nên Trần Văn K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mua bán trái phép tổng 3,994g ma túy loại Heroine.

Đối với hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”: Nguyễn Văn S có hành vi mua hộ ma túy cho Vũ Huy P để sử dụng, P mới sử dụng một phần số còn lại bị Công an bắt và thu giữ nên S và P phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép 0,452g ma tuý, loại Heroine.

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, các tội phạm về ma tuý đang là vấn nạn trong đời sống xã hội, làm tha hoá về mặt đạo đức và lối sống của một bộ phận không nhỏ tầng lớp thanh thiếu niên, là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình hình tội phạm và các loại tệ nạn khác, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người và an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục và phòng ngừa chung.

[4] Xét vai trò của các bị cáo HĐXX thấy: Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” Nguyễn Văn S và Trần Văn K không có sự phân công, phân nhiệm cho từng người mà các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội độc lập nên phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với lượng ma tuý đã mua bán; Với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Khi được Vũ Huy P nhờ mua ma tuý sử dụng, S đồng ý và mua hộ ma tuý cho P, P mới sử dụng một phần, còn lại 0,452g ma tuý, loại Heroine thì bị bắt nên trách nhiệm hình sự của S và P là ngang nhau.

[5] Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; sau khi phạm tội các bị cáo Nguyễn Văn S và Vũ Huy P ra đầu thú; Bị cáo Vũ Huy P có ông nội là ông Vũ Huy T3 được tặng thưởng huy chương và có bố là ông Vũ Huy T2 là thương binh loại A, thương tật hạng 4/4, Trần Văn K có bố đẻ là ông Trần Văn K1 tham gia trong cuộc kháng chiến chống pháp được tặng Bằng khen nên các bị cáo S, P và K được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo Trần Văn K là người có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Văn S và bị cáo Vũ Huy P đều có nhân thân xấu: Tháng 8/2022 Nguyễn Văn S bị Công an huyện T, tỉnh Thanh Hóa xử phạt hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy; Năm 2014 Vũ Huy P bị Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội xử phạt 42 tháng tù về tội Cướp tài sản; năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng các bị cáo S, P không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, rèn luyện mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.

[6] Về hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đối với Nguyễn Văn S; áp dụng khoản 1 Điều 251 BLHS đối với Trần Văn K và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS đới với Vũ Huy P xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất của vụ án, hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm bảo đảm tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung; áp dụng Điều 329 BLTTHS tiếp tục tạm giam các bị cáo để bảo đảm cho việc thi hành án.

[7] Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa nhận thấy các bị cáo đều phải chấp hành hình phạt tù, hoàn cảnh kinh tế gia đình của các bị cáo đều khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng. Vật chứng của vụ án gồm:

  • - Đối với 02 phong bì niêm phong do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành bên trong đựng mẫu vật còn lại sau giám định là vật nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 túi niêm phong mã số PS3A 108267 và 01 phong bì niêm phong được dán kín ký hiệu TC 964 là vật không có giá trị sử dụng nên áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu và tiêu huỷ.
  • - Đối với 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel gắn sim số 0363.655.xxx và 01 thẻ nhớ 02GB màu đen thu giữ của Lê Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max, gắn sim số 0354898483 và 0962205798 thu giữ của Nguyễn Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ thu giữ của Trần Văn K là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội, áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước
  • - Số tiền 1.440.000đ thu giữ của Nguyễn Văn S và 2.800.000đ thu giữ của Trần Văn K, trong đó có 1.000.000₫ của Nguyễn Văn S và 1.500.000₫ của Trần Văn K là tiền do phạm tội mà có nên áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS, điểm b khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc đen, BKS: 35K1-08111 và 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số: 009170 mang tên Trần Văn K thu của Trần Văn K; 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO bên trong gắn sim số: 0962.488.559 thu của chị Hoàng Thị H1; số tiền 150.000đ thu của Vũ Huy P và số tiền 440.000₫ thu của Nguyễn Văn S; số tiền 1.300.000đ thu của Trần Văn K đều không liên quan đến hành vi phạm tội nên HĐXX căn cứ vào khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho chủ sở hữu.

[9] Về án phí: Các bị cáo có tội và không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 251 và điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS:

Tuyên bố Nguyễn Văn S phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Trần Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và Vũ Huy P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 251; điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 55 và Điều 58 BLHS đối với Nguyễn Văn S; Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS; đối với Trần Văn K; Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 BLHS đối với Vũ Huy P; Áp dụng Điều 329, khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 BLTTHS đối với cả 3 bị cáo.

  • - Xử phạt Nguyễn Văn S 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 13 (Mười ba) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt buộc Nguyễn Văn S phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 37 (Ba mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/8/2024.
  • - Xử phạt Trần Văn K 57 (Năm mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 20/8/2024.
  • - Xử phạt Vũ Huy P 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 17/8/2024.
  • * Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
  • - Tịch thu và tiêu hủy 02 phong bì niêm phong do Phòng K2 Công an tỉnh T phát hành bên trong đựng ma túy còn lại sau giám định; 01 túi niêm phong mã số PS3A 108267; 01 phong bì niêm phong được dán kín ký hiệu TC 964.
  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Mastel gắn sim số 0363.655.xxx và 01 thẻ nhớ 02GB màu đen thu giữ của Lê Văn H2; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS max gắn sim số 0354898483 và 0962205798 thu giữ của Nguyễn Văn S; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J6+ thu giữ của Trần Văn K; số tiền 1.000.000₫ của Nguyễn Văn S và số tiền 1.500.000₫ của Trần Văn K.
  • - Trả lại cho Trần Văn K 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu trắng bạc đen, BKS: 35K1-08111 và 01 đăng ký xe mô tô, xe máy số: 009170 mang tên Trần Văn K.
  • - Trả lại cho chị Hoàng Thị H1 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO bên trong gắn sim số: 0962.488.559, thu giữ của Vũ Huy P.
  • - Trả lại cho bị cáo Vũ Huy P số tiền 150.000đ; bị cáo Nguyễn Văn S số tiền 440.000đ; bị cáo Trần Văn K số tiền 1.300.000₫.

Vật chứng của vụ án được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân số 23 lập ngày 24/01/2025.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Nguyễn Văn S, Trần Văn K và Vũ Huy P mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm. Có mặt các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (24/02/2025).

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Thọ Xuân;
  • - Chi cục THADS huyện Thọ Xuân;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Thọ Xuân;
  • - Phòng Thanh tra, Kiểm tra và Thi hành án
  • TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • Sở tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Xuân Tuyên

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Nguyễn Văn Sâm

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Xuân Tuyên

Lê Đăng Thiện

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Sơn và đồng phạm - Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger