Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KHOÁI CHÂU

TỈNH HƯNG YÊN

Bản án số: 09/2025/HSST

Ngày 24/01/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Tịnh – Cán bộ hưu trí xã An Vĩ;

Bà Trần Thị Hải Hà – Phó Phòng nông nghiệp huyện Khoái Châu.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Vũ Nhật Lệ – Thư ký Toà án.

Đại diện VKSND huyện Khoái Châu tham gia phiên toà: Ông An Bình S - KSV.

Ngày 24 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 10/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2025/HSST ngày 13/01/2025 đối với bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1989; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và nơi ở: khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Họ và tên cha: Nguyễn Văn K, sinh năm 1957; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1959; Anh chị em ruột: Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; Con: có 02 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2015. Nhân thân: Bản án số 55/2012/HSST ngày 31/7/2012 của Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên xử phạt Nguyễn Văn H 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Cố ý gây thương tích”; Tiền án, tiền sự: Không, Bị tạm giữ từ ngày 29/11/2024, chuyển tạm giam ngày 02/12/2024. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ – Công an huyện K (Có mặt tại phiên toà).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Quang H2, sinh năm 2002; Trú tại: khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Vắng mặt)

* Những người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Đình T, sinh năm 1993.
  2. Ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1957.

Đều có địa chỉ: Khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Đều vắng mặt tại phiên toà).

3. Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1992; Trú tại: khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (Có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 29/11/2024, Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc biển số 89E1-74043 đi đến khu vực Chợ N thuộc địa phận thôn A, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên mục đích để mua ma túy đá về sử dụng. Khi đến nơi, H gặp một người đàn ông lạ mặt, có biểu hiện giống người nghiện ma túy. H hỏi người đàn ông này có ma túy bán không, bán cho H 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) ma túy đá và ma túy ngựa. Người đàn ông đồng ý, nhận tiền và đưa cho H 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có chứa 01 (một) viên nén màu hồng và 01 (một) gói nilon bên trong có chứa chất kết tinh màu trắng. H kiểm tra thấy đúng là ma túy đá và ma túy ngựa thì giấu túi nilon chứa ma túy trên vào trong túi quần dài phía trước bên trái, rồi điều khiển xe mô tô về nhà để tìm nơi sử dụng. Khi đang điều khiển xe trên đường thuộc địa phận khu phố T, thị trấn K, huyện K thì H bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang. H giao nộp Cơ quan Công an túi nilon màu trắng chứa chất kết tinh màu trắng và 01 (một) viên nén màu hồng có đường kính 0,5cm. Tổ công tác đã tiến hành niêm phong gói nilon thu giữ của H vào phong bì dán kín có chữ ký của thành phần tham gia theo đúng quy định.

Ngày 30/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện K đã ra Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của H tại khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên nhưng không thu giữ được gì liên quan.

Tại bản kết luận giám định số 690/KL-KTHS(MT) ngày 02/12/2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh H kết luận:

  • Mẫu chất dạng viên nén màu hồng, được kí hiệu M1 trong niêm phong có khối lượng 0,096g (không phẩy không chín sáu gam), qua giám định xác định là ma túy, loại Methamphetamine.
  • Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng, được kí hiệu M2 trong niêm phong có khối lượng 0,917g (không phẩy chín một bảy gam), qua giám định xác định là ma túy, là loại Methamphetamine (BL số 26).

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc biển số 89E1-74043, quá trình điều tra xác định chiếc xe thuộc quyền sở hữu của anh Lê Quang H2, sinh năm 2002 trú tại khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên (cháu gọi H là cậu ruột). Ngày 29/11/2024, H mượn anh H2 chiếc xe trên và nói để đi uống nước, ngày 06/12/2024 Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã trả chiếc xe cho anh Lê Quang H2 theo đúng quy định pháp luật.

Đối với 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 690/KL-KTHS (MT), trong phong bì có: 0,075g (Không phẩy không bảy năm gam) ma túy, loại Methamphetamine; 0,894g (Không phẩy tám chín bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine; 02 (hai) vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 13/CT-VKSKC, ngày 10/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố Huy về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS năm 2015.

Tại phiên toà hôm nay:

[1]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu giữ nguyên Quyết định truy tố đối với bị cáo H và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015; Đề nghị xử phạt bị cáo H từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam 29/11/2024; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo H. Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu còn đề nghị về đường lối xử lý vật chứng trong vụ án.

[2]. Bị cáo H nhất trí với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, đồng thời thành khẩn khai báo nhận tội, thái độ ăn năn hối cải, được nói lời sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử bị cáo ở mức án thấp nhất.

[3]. Người làm chứng có mặt: Chị Nguyễn Thị H1 trình bày giữ nguyên quan điểm, lời khai đã trình bày tại cơ quan điều tra, không bổ sung gì thêm

[4]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Quang H2 và những người làm chứng là anh Nguyễn Đình T, ông Nguyễn Văn H3 đã được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, tuy nhiên trong hồ sơ vụ án họ đã có lời khai rõ ràng, việc vắng mặt họ tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292, Điều 293 của BLTTHS năm 2015 vẫn tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự: Quá trình điều tra bị cáo xuất trình tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật, không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh và điều luật áp dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo H đã thừa nhận do bản thân mắc nghiện chất ma túy nên khoảng 19 giờ 15 phút ngày 29/11/2024, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen bạc biển số 89E1-74043 (mượn của anh H2) đi đến khu vực Chợ N thuộc địa phận thôn A, xã A, huyện K, tỉnh Hưng Yên mục đích để mua ma túy đá về sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang tại đường thuộc địa phận khu phố T, thị trấn K, bị thu giữ và niêm phong 01 túi nilon màu trắng chứa chất kết tinh màu trắng và 01 (một) viên nén màu hồng có đường kính 0,5cm để gửi đi giám định. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản đóng, mở niêm phong; Lời khai của những người làm chứng là anh Nguyễn Đình T, ông Nguyễn Văn H3; Kết luận giám định của Phòng K1 Công an tỉnh H, phù hợp với vật chứng thu giữ được và tất cả các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 19 giờ 40 phút ngày 29/11/2024, tại khu vực đường bê tông thuộc địa phận khu phố T, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Văn H đã tàng trữ trái phép 1,013g (Một phẩy không một ba gam) ma túy loại Methamphetamine nhằm mục đích để sử dụng. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Khoái Châu đã truy tố H theo tội danh và điều luật áp dụng trong Cáo trạng số 13/CT-VKSKC, ngày 10/01/2025 là có căn cứ.

[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo H gây nguy hiểm cho xã hội bởi lẽ: Bị cáo đã vi phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý được Bộ luật hình sự bảo vệ. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, gây bức xúc trong dư luận quần chúng nhân dân và là một trong những nguyên nhân phát sinh ra nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an. Bản thân bị cáo H nhận thức rất rõ tác hại của ma tuý, biết được việc tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, nhưng để thỏa mãn cơn nghiện, bị cáo đã sẵn sàng vi phạm pháp luật, thể hiện sự coi thường kỷ cương, pháp luật của Nhà nước mà bị cáo là một minh chứng cho những điều nhận định nêu trên. Hành vi của bị cáo cần phải xử lý nghiêm khắc trước pháp luật.

[4]. Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Tại bản án số 55/2012/HSST, ngày 31/7/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Khoái Châu xử phạt 02 năm tù nhưng cho hưởng án theo, thời gian thử thách là 03 năm 08 tháng 28 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 31/7/2012) về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo với thái độ ăn năn hối cải; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Văn K là cựu chiến binh trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ Q, mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị Đ được nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang, bản thân H đã từng phục vụ trong quân ngũ. Nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015.

Từ những nhận định, phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhân thân xấu, bản thân mắc nghiện chất ma tuý, lần phạm tội này thuộc trường hợp nghiêm trọng do cố ý. Do vậy, cần phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân thủ pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, đồng thời giáo dục người khác tôn trọng pháp luật và cũng là đáp ứng nhu cầu phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định và việc bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy cũng để phục vụ cơn nghiện của mình chứ không có mục đích tư lợi nên Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng khoản 5 Điều 249 của BLHS năm 2015, để phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015 để xử lý vật chứng như sau: Đối với 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 690/KL-KTHS (MT), trong phong bì có: 0,075g (Không phẩy không bảy năm gam) ma túy, loại Methamphetamine; 0,894g (Không phẩy tám chín bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine; 02 (hai) vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định là vật chứng trong vụ án được nhà nước độc quyền quản lý, cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy.

[7]. Về án phí: Buộc bị cáo H phải chịu án phí HSST là 200.000đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án và khoản 2 Điều 136 của BLTTHS 2015.

[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH;

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (Ngày 29/11/2024).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của BLHS năm 2015; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS năm 2015. Tịch thu cho tiêu hủy hủy 01 (một) phong bì niêm phong hoàn mẫu vật ghi số 690/KL-KTHS (MT), trong phong bì có: 0,075g (Không phẩy không bảy năm gam) ma túy, loại Methamphetamine; 0,894g (Không phẩy tám chín bốn gam) ma túy, loại Methamphetamine; 02 (hai) vỏ túi nilon đựng ma túy và 01 (một) phong bì niêm phong mẫu vật gửi giám định (Tình trạng vật chứng như trong quyết định chuyển vật chứng số 10/QĐ-VKS - KC ngày 10/01/2025 của VKSND huyện Khoái Châu).

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của BLTTHS năm 2015. Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (24/01/2025); Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh HY;
  • - VKSND tỉnh HY;
  • - VKSND huyện KC;
  • - Công an huyện KC;
  • - Chi cục THADS huyện KC;
  • - Bị cáo;
  • - UBND TT Khoái Châu;
  • - Lưu HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Thu Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 24/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN về hình sự - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KHOÁI CHÂU, TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H- phạm tội tàng trữ trái phép chất may túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger