Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIÊN HẢI

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh Phúc

Bản án số: 09/2025/HSST

Ngày: 17/6/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên Tòa: Ông Trương Thanh Toàn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thị Hoàng Mai .
  2. Ông Huỳnh Quốc Việt.

Thư ký phiên Tòa: Ông – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Nhã Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Thanh L, sinh ngày 08/11/1984; Giới tính: Nam; Nơi ĐKTT: Tổ 1, ấp B, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang; chỗ ở hiện nay: Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Công chức Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, tỉnh Kiên Giang. Con ông: Nguyễn Phương H (Chết) và bà Lê Thanh V; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1984 (Bị cáo), nhỏ nhất sinh năm 1988; Bị cáo có vợ và con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020.
  2. Tiền sự; tiền án: Chưa. Bị cáo được tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa)

  3. Phùng Cẩm L1, sinh ngày 22/10/1978. Giới tính: Nữ. Nơi ĐKTT: SỐ G, đường T, khu phố B, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Chỗ ở hiện nay: Tổ A, ấp I, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân Tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 12/12; Nghề nghiệp: Trưởng Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, tỉnh Kiên Giang. Con ông: Phùng Kim C và bà Nguyễn Thị X; anh chị em ruột có 04 người, lớn nhất sinh năm 1974, nhỏ nhất sinh năm 1979; Bị cáo là con

1

thứ ba trong gia đình. Bị cáo có chồng và con có 02 người, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2008. Tiền sự; tiền án: Chưa.

Bị cáo được tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Người bị hại:

  • - Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Kiên Giang - Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quốc T, chức vụ: Chủ tịch. (Có đơn xin vắng mặt).
  • Địa chỉ: Ấp I, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Đinh Xuân V1, sinh năm 1964 (Có mặt).
  2. Địa chỉ: Tổ A, ấp I, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

  3. Bà Nguyễn Thị Khánh L2, sinh năm 1986 (Có mặt).
  4. Địa chỉ: Ấp C, xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang.

NHẬN THẤY

Các bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực Lao động - Thương binh và Xã hội; thực hiện một số quyền hạn theo sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân huyện và theo quy định của pháp luật như: Thực hiện chính sách chi trả trợ cấp cho người có công, chính sách an sinh xã hội, cấp, phát bảo hiểm y tế cho các đối tượng chính sách theo quy định; Tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn, gắn với giải quyết việc làm, chính sách giảm nghèo, tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật, an toàn vệ sinh lao động, các chính sách bảo vệ chăm sóc trẻ em, tệ nạn xã hội và bình đẳng giới. Tổng số cán bộ công chức gồm 05 đồng chí gồm: Bà Phùng Cẩm L1 – Trưởng phòng; Ông Đinh Xuân V1 - Phó trưởng phòng; Ông Nguyễn Thanh L - chuyên viên, phụ trách công tác kế toán; bà Phạm Thị M - chuyên viên, phụ trách công tác thủ quỹ; bà Nguyễn Thị Khánh L2 - chuyên viên. Từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2022 Nguyễn Thanh L được phân công phục trách kế toán đơn vị và một số việc khác theo Thông báo phân công nhiệm vụ số 01 ngày 04/01/2021 và thông báo phân công nhiệm vụ số 01 ngày 03/01/2022 của Phòng LĐ-TB-XH. Phạm Thị M được phân công phụ trách thủ quỹ đơn vị và một số việc khác theo Thông báo phân công nhiệm vụ số 01 ngày 04/01/2021 của Phòng LĐ-TB-XH. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đơn vị đã đăng ký và thực hiện chữ ký số và đăng ký cấp thiết bị lưu khóa bí mật, chứng thư số . Đến ngày 07/9/2020, Nguyễn Thanh L đại diện Phòng nhận bàn giao từ Văn phòng

2

UBND huyện U của bà Phùng Cẩm L1 và ông Đinh Xuân V1 nhưng không giao lại cho bà L1 và ông V1 để đăng ký kích hoạt sử dụng dịch vụ công kho bạc (dichvucong@vst.gov.vn)

Qua điều tra xác định được, trong khoản thời gian từ ngày 01/01/2021 đến 01/02/2022, Phòng LĐ-TB-XH huyện K quản lý nguồn ngân sách được giao không đúng quy định của pháp luật: Năm 2021, đơn vị thực hiện công khai tài chính không đầy đủ các nguồn kinh phí, Thủ trưởng đơn vị thiếu kiểm tra, theo dõi tổng số thu, chi từng nguồn so với dự toán được giao; năm 2021, đơn vị lập phiếu thu không đầy đủ nguồn kinh phí người có công, các nguồn còn lại không lập phiếu thu các khoản rút tạm ứng và thực chi kinh phí bằng tiền mặt; từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2021, thủ quỹ có ghi sổ quỹ tiền mặt nhưng Thủ trưởng đơn vị thiếu kiểm tra, theo dõi từng nguồn và không ký khóa số; từ tháng 7 đến hết năm 2021, thủ quỹ chỉ ghi sổ cá nhân để theo dõi không ghi sổ quỹ tiền mặt; Thủ trưởng đơn vị thiếu kiểm tra việc sử dụng dịch vụ công Kho bạc để kế toán Nguyễn Thanh L tự ý quản lý và sử dụng chữ ký số (Token) của Thủ trưởng đơn vị lập chứng từ thực chi (không có chứng từ gốc), tạm ứng bằng tiền mặt, lập bảng kê khống để thanh toán tạm ứng từ nguồn kinh phí đảm bảo xã hội thông qua bà Phạm Thị M (nguyên thủ quỹ đơn vị) và công chức ngoài đơn vị đã rút tiền ngân sách nhà nước để sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân; không thu hồi từ Bưu điện tiền chưa chi trả, tiền truy thu của các đối tượng; thiếu kiểm tra, rà soát việc thu hồi tiền nộp trả của Bưu điện, thiếu kiểm tra việc thu hồi tiền truy thu của các đối tượng để kế toán nhận tiền nộp trả của Bưu điện và cán bộ lao động thương binh và xã hội các xã nhưng không nộp ngân sách nhà nước mà sử dụng vào mục đích tiêu xài cá nhân; kiểm tra, rà soát chưa chặt chẽ nên có 04 đối tượng hưởng trợ cấp tại xã L đã từ trần nhưng đơn vị vẫn chi tiền trợ cấp; chỉ vượt chế độ nghỉ phép năm. Tổng số tiền sai phạm tại đơn vị là 445.790.000 đồng vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 18 và khoản 3 Điều 50, khoản 3 Điều 51 Luật kế toán năm 2015; khoản 3 Điều 18 và khoản 1, khoản 2 Điều 61 Luật ngân sách nhà nước năm 2015; khoản 7 Điều 5 Thông tư 107/2017/TT-BTC ngày 10/12/2017 của Bộ T4 về việc hướng dẫn chế độ kế toán hành chính, sự nghiệp.

1. Về hành vi tham ô tài sản:

Từ ngày 01/01/2021 đến 01/02/2022, bị cáo Nguyễn Thanh L với nhiệm vụ được phân công là kế toán đơn vị, tham mưu cho Lãnh đạo Phòng Lao Động - thương binh và xã hội huyện đã ban hành nhiều giấy rút dự toán ngân sách nhà nước, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng kèm bảng kê nội dung thanh toán của nguồn kinh phí đảm bảo xã hội năm 2021, Trong đó, Nguyễn Thanh L đã lập 15 chứng từ được kê trên bảng kê nội dung thanh toán với kho bạc nhưng không có hồ sơ, chứng từ thanh toán với tổng số tiền 394.920.000 đồng, các chứng từ này khi L lập xong, Phạm Thị M nhiệm vụ là thủ quỹ nên M nhận tiền từ Kho bạc và Ngân hàng N và cất giữ tiền không nhập quỹ tiền mặt, L và M đã thông đồng với nhau nhiều lần lấy tiền để sử

3

dụng tiêu xài cá nhân dẫn đến mất khả năng chi trả, đến kỳ hạn thanh toán, do không có chi thực tế nên không có chứng từ, L và M đã thống nhất lập khống các chứng từ để thanh toán số tiền mà cả hai đã chiếm đoạt, bao gồm các chứng từ sau:

  1. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 02/BTXH ngày 31/3/2021 kèm bảng kê nội dung thanh toán cho giấy rút dự toán số 02/ĐBXH ngày 26/01/2021 rút chuyển mai táng phí số tiền 21.600.000 đồng do Bưu điện nhận tiền bằng hình thức chuyển khoản và giấy rút dự toán số 03/ĐBXH ngày 01/3/2021 mai táng phí cho 07 đối tượng bảo trợ xã hội số tiền 16.200.000đ do Phạm Thị M nhận tiền mặt từ Kho bạc. Kê thanh toán chứng từ số 04 ngày 31/3/2021 với số tiền 37.800.000đ trong đó không có chứng từ thực chi 16.200.000₫ số tiền này do M giữ, đến kỳ thanh toán tạm ứng không có tiền nộp trả nên L đã kê khống để thanh toán tạm ứng.
  2. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 05/ĐBXH ngày 31/3/2021 kèm bảng kê nội dung thanh toán cho giấy rút dự toán số 01/ĐBXH ngày 25/01/2021 nội dung rút kinh phí chi lương đối tượng quý 1 năm 2021, do Phạm Thị M nhận tiền mặt từ kho bạc. Liêm kê thanh toán chứng từ số 05 ngày 31/3/2021 với số tiền 96.120.000 đồng không có chứng từ thực chi. Số tiền này M và L cùng sử dụng nhiều lần không xác định mỗi người đã sử dụng bao nhiêu, do mất cân đối không có tiền nộp trả, M báo lại phải nộp trả ngân sách 100.000.000đ nên kê khống chứng từ nêu trên để thanh toán tạm ứng 96.120.000₫ và nộp trả ngân sách 3.880.000đ.
  3. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 06/ĐBXH ngày 16/6/2021 kèm bảng kê nội dung thanh toán giấy rút dự toán số 02/ĐBXH ngày 13/4/2021 rút kinh phí mai táng phí, do Bưu điện huyện nhận chuyển khoản. Liêm kê thanh toán chứng từ số 06 ngày 16/6/2021 với số tiền 91.800.000 đồng trong đó không có chứng từ thực chi 54.000.000 đồng trong số tiền này L nhận từ Bưu điện trả lại đơn vị 16.200.000 đồng Liêm tự tiêu xài cá nhân; số tiền 37.800.000 đồng M giữ và sử dụng, L khai đây là số tiền rút mai táng phí quý I, II nhiều lần dư ra, đến khi hoàn ứng M không có tiền mặt trả lại ngân sách nên L lập chứng từ khống để quyết toán cho M.
  4. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 30/ĐBXH ngày 11/01/2022 kèm bảng kê nội dung thanh toán cho giấy rút dự toán số 26/ĐBXH ngày 7/12/2022 rút kinh phí mai táng phí, do Bưu điện huyện nhận chuyển khoản. Liêm kê thanh toán chứng từ số 12 số tiền 16.200.000 đồng, chứng từ số 13 số tiền 43.200.000 đồng, chứng từ số 14 số tiền 14.900.000 đồng. Thực chi 59.400.000 đồng chứng từ số 12 và 13. Không có thực chi chứng từ số 14 với số tiền 14.900.000 đồng số tiền này L nhận lại do chi sai đối tượng Đỗ Văn P (chuyển khoản cá nhân L) L sử dụng cá nhân không có tiền nộp trả ngân sách nên lập khống chứng từ thanh toán số tiền trên.
  5. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 32/ĐBXH ngày 12/01/2022 kèm bảng kê nội dung thanh toán cho giấy rút dự toán số 03/ĐBXH ngày 03/02/2021 chi khoản khác với số tiền 20.000.000 đồng, do Phạm Thị M nhận tiền mặt từ kho bạc. Liêm kê

4

thanh toán chứng từ số 32 ngày 31/12/2021 nội dung chi tháng hành động vì trẻ em 04 xã x 2.500.000 đồng/xã = 10.000.000 đồng. Nhưng thực chi chỉ có 5.000.000 đồng. Còn lại số tiền 5.000.000 đồng do hai xã N và Lại S không có tổ chức hoạt động nên đã trả lại cho L trực tiếp nhận và sử dụng hết số tiền trên. Còn dư lại 10.0000000 đồng từ giấy rút dự toán đã nộp trả kinh phí theo giấy nộp số 01/N-ĐBXH ngày 20/01/2022.

  1. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 33/ĐBXH ngày 12/01/2022 kèm bảng kê nội dung thanh toán: Liêm kê thanh toán chứng từ số 16 và 17 với số tiền 1.400.000 đồng. Thực chi số tiền 900.000 đồng tại chứng từ số 16, lập khống chứng từ số 17 không có thực chi số tiền 500.000 đồng. Số tiền này do L rút kinh phí dư, do không có chi hết nên M và L đã sử dụng, đến khi hoàn ứng không có tiền mặt, L đã lập khống chứng từ trên.

Khi Phạm Thị M chuẩn bị bàn giao quỹ do chuyển công tác cần có số tiền tồn để bàn giao, tuy nhiên do hiện số tiền tồn quỹ không còn M và L đã sử dụng hết không có tiền bàn giao và hoàn trả kinh phí tạm ứng. M báo lại cho L, để có tiền cho M bàn giao L đã lập khống các giấy rút dự toán ngân sách, bảng kê chứng từ thanh toán để cho M nhận tiền mặt về sử dụng có quỹ bàn giao cụ thể:

  1. Giấy rút dự toán ngân sách số 09/ĐBXH ngày 17/6/2021, rút thực chi tiền mặt, kèm bảng kê nội dung thanh toán: Phạm Thị M nhận tiền mặt từ kho bạc với số tiền 29.800.000 đồng, L kê thanh toán chứng từ số 09 và 10 cùng ngày 17/6/2021 không có thực chi.
  2. Giấy rút dự toán ngân sách số 10/ĐBXH ngày 21/6/2021, rút thực chi tiền mặt, kèm bảng kê nội dung thanh toán: Phạm Thị M nhận tiền mặt từ kho bạc số tiền 44.700.000 đồng, L kê thanh toán chứng từ số 11, 12, 13 cùng ngày 21/6/2021 không có thực chi.
  3. Giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 31/ĐBXH ngày 12/01/2022 kèm bảng kê nội dung thanh toán cho giấy rút dự toán số 05/ĐBXH ngày 6/7/2021 số tiền 150.000.000 đồng: Phạm Thị M nhận tiền từ Ngân hàng N, bảng kê thanh toán gồm 04 chứng từ không có thực chi số tiền 149.000.000 đồng: Chứng từ số 14 số tiền 27.000.000 đồng, chứng từ số 15 số tiền 72.000.000 đồng, chứng từ số 16 số tiền 14.900.000 đồng, chứng từ số 17 số tiền 36.000.000 đồng. Còn lại 100.000 đồng L đã nộp trả ngân sách theo giấy nộp trả số 01 ngày 20/01/2022.

- Trong các bảng kê thanh toán khống không có chứng từ nêu trên với tổng số tiền là 394.920.000 đồng trong đó số tiền 304.820.000 đồng do rút kinh phí về M giữ tiền, sau đó L và M đã tự lấy sử dụng nhiều lần dẫn đến mất cân đối, không có tiền nộp trả ngân sách và bàn giao quỹ khi M chuẩn bị chuyển công tác nên cả hai đã thông đồng với nhau theo đó L lập khống các chứng từ thanh quyết toán kinh phí đã sử dụng và rút kinh phí để cho M có tiền mặt bàn giao.

5

Riêng Nguyễn Thanh L sau khi nhận tiền trực tiếp từ tổ chức, cá nhân đã tự giữ không nộp quỹ, trả ngân sách mà tiêu xài cá nhân 36.100.000 đồng (từ Bưu điện 16.200.000 đồng, nhận trả từ ông Đỗ Văn P do chi sai số tiền 14.900.000 đồng, tiền trung thu do 02 xã N, L không tổ chức 5.000.000 đồng). Phạm Thị M đã giữ tiền mặt và sử dụng cá nhân tổng số tiền 54.000.000 đồng gồm: số tiền 16.200.000 đồng (giấu rút dự toán 03/ĐBXH ngày 01/3/2021), nhận tiền từ kho bạc 37.800.000đ (tiền mai táng phí dư trong quý 1, 2 năm 2021).

Ngoài ra, Nguyễn Thanh L còn lập 02 giấy rút dự toán số 06/ĐBXH ngày 16/8/2021, số 11/ĐBXH ngày 18/8/2021 với số tiền 15.110.000 đồng kèm bảng kê nội dung thanh toán chứng từ số 18, 19 ngày 16/8/2021, chứng từ số 12, 13, 14 ngày 18/6/2021 không có chứng từ thực chi, số tiền này L nhờ Lê Nhật T1 nhận dùm tại Ngân hàng N sau đó đưa lại cho L tự giữ và sử dụng.

Trực tiếp nhận tiền truy thu trợ cấp bảo trợ xã hội từ các xã sau đó không nhập quỹ cơ quan, không nộp trả ngân sách mà tiêu xài 27.945.000 đồng cụ thể: nhận từ Lê Quốc E cán bộ xã A số tiền 1.350.000 đồng gồm số tiền truy thu của đối tượng ông Hồ Văn T2 540.000 đồng và bà Nguyễn Thị Mỹ L3 810.000 đồng. Nhận tiền từ Bưu điện 26.595.000 đồng số tiền này L đã kê khống quyết toán theo giấy đề nghị thanh toán tạm ứng số 06/ĐBXH ngày 16/6/2021 nêu trên, còn lại 10.395.000 đồng L đã quyết toán trong chứng từ quý III, IV.

Còn số tiền 5.805.000 đồng sai phạm gồm thực hiện chi trả trợ cấp sai quy định 04 đối tượng với số tiền 3.780.000 đồng; không truy thu bưu điện số tiền còn nợ lại là 1.755.000đ, chi sai cho đối tượng Nguyễn Văn T3 số tiền 270.000 đồng. Nguyễn Thanh L không có chiếm đoạt số tiền này mà chỉ có trách nhiệm truy thu nộp ngân sách do chi sai.

Tại bản kết luận giám định số 08/KLGDD-STC ngày 11/01/2024 của Sở tài chính Ủy ban nhân dân tỉnh K kết luận: Ông Nguyễn Thanh L– Nguyên Kế toán Phòng LĐTBXH huyện K, chịu trách nhiệm trong việc thực hiện công tác thu, chi tài chính không đúng quy định số tiền 443.780.000 đồng, gồm: thực hiện chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội cho 04 đối tượng sai quy định số tiền 3.780.000 đồng; trực tiếp nhận tiền nộp trả từ Bưu điện 26.595.000 đồng nhưng không nộp trả ngân sách và không truy thu số tiền Bưu điện còn nợ lại 1.755.000 đồng; thực hiện chỉ trả trợ cấp bảo trợ xã hội cho 03 đối tượng sai quy định số tiền 1.620.000 đồng, sau đó nhận tiền truy thu của các đối tượng từ ông Lê Quốc E số tiền 1.350.000 đồng nhưng không nộp trả ngân sách; lập giấy rút dự toán ngân sách nhà nước kèm bảng kê nội dung thanh toán, kê thanh toán 05 chứng từ số tiền 15.110.000 đồng để rút thực chỉ dự toán ngân sách, nhưng thực tế không có hồ sơ, chứng từ thanh toán; thỏa thuận với thủ quỹ là bà Phạm Thị M thực hiện rút tiền ngân sách nhiều lần, sau đó lập bảng kê nội dụng chứng từ thanh toán với Kho bạc, nhưng thực tế không có hồ sơ, chứng từ thanh toán với tổng

6

số tiền 394.920.000 đồng, vi phạm khoản 2 Điều 61 Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 và khoản 3 Điều 51 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.

Tại Cơ quan điều tra Nguyễn Thanh L thừa nhận toàn hành vi phạm tội của bản thân, do thiếu tiền tiêu xài, trả nợ bị can đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý, kiểm tra tài chính, quản lý sử dụng chữ ký số không chặt chẽ của lãnh đạo đơn vị bị cáo đã cấu kết với Phạm Thị M – Thủ quỹ cả hai tự ý sử dụng tiền từ ngân sách nhà nước nhiều lần với tổng số tiền 437.975.000 đồng, trong đó số tiền 320.120.000 đồng chiếm đoạt sử dụng chung không xác định được số lần và số tiền mỗi người đã sử dụng bao nhiêu, Phạm Thị M sử dụng riêng 54.000.000 đồng, Nguyễn Thanh L sử dụng riêng 62.955.000 đồng.

2. Về hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng:

Bị cáo Phùng Cẩm L1 – Nguyên Trưởng phòng LĐ-TB-XH trong quá trình chỉ đạo, điều hành việc quản lý thu, chi ngân sách đơn vị không đúng quy định, thiếu trách nhiệm trong quản lý chữ ký số dùng để sử dụng dịch vụ công kho bạc (USB Token, dịch vụ thanh toán trực tuyến kinh phí với kho bạc huyện K) để L nhận từ Ủy ban Nhân dân huyện về không bàn giao lại mà tự ý lấy sử dụng dịch vụ công kho bạc trong thời gian dài mà không phát hiện ngăn chặn, xử lý (vì khi L sử dụng chữ ký số để phê duyệt các chứng từ, giấy rút dự toán, hồ sơ trực tuyến sẽ được gửi đến địa chỉ G: pldtbxhkh@gmail.comđể phê duyệt và đồng thời kho bạc sẽ gửi thông báo phê duyệt hồ sơ đến địa chỉ trên, nhưng bà L1 không kiểm tra để quản lý dẫn đến xảy ra sai phạm).

Thủ trưởng đơn vị thiếu kiểm tra định kỳ hoặc có kiểm tra nhưng không chặt chẽ việc công khai tài chính, quỹ tiền mặt không đầy đủ các nguồn kinh phí, thiếu kiểm tra, theo dõi tổng số thu, chi từng nguồn so với dự toán được giao, không kiểm tra đối chiếu quỹ tiền mặt, từ tháng 01 đến tháng 6 năm 2021 thủ quỹ có ghi sổ quỹ tiền mặt nhưng thủ trưởng đơn vị thiếu kiểm tra, theo dõi từng nguồn và không ký khóa sổ; mặc dù thực tế số tiền rút từ nguồn kinh phí đảm bảo xã hội năm 2021 từ ngày 01/01/2021-13/7/2021 bà Phạm Thị M trực tiếp nhận tiền từ ngân sách tổng số tiền là 1.030.250.000 đồng, chi có chứng từ đầy đủ 156.500.000 đồng, nộp trả ngân sách 474.130.000 đồng, tồn quỹ 399.620.000 đồng nhưng thủ quỹ nhập quỹ, báo cáo số tiền thu 266.350.000 đồng, chi 156.500.000 đồng, nộp trả ngân sách 90.250.000 đồng, tồn quỹ 19.600.000 đồng số tiền này khi M chuyển công tác đã bàn giao cho Nguyễn Thị Khánh L2 ngày 14/7/2021, bàn giao thiếu 380.020.000 đòng. Như vậy, hàng tháng thủ quỹ không nhập quỹ tiền mặt vào sổ đúng và đầy đủ theo quy định, kế toán không có báo cáo công tác tài chính kế toán hoặc có báo cáo nhưng không đầy đủ, nhưng bà Phùng Cẩm L1 vẫn chấp nhận cho qua, không chấn chỉnh kiểm tra khắc phục tạo điều kiện thuận lợi để kế toán (Nguyễn Thanh L) và thủ quỹ (Phạm Thị M) thông đồng với nhau trong việc rút tiền từ ngân sách, quản lý tiền, sử dụng tiền mặt và

7

chi thực tế nhiều lần chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước sử dụng với tổng số tiền là 437.975.000 đồng. Sau đó, kế toán đã lập kê khống thanh toán số tiền đã chiếm đoạt bằng dịch vụ công kho bạc, rồi sử dụng chữ ký số của bà Phùng Cẩm L1 (Trưởng phòng, chủ tài khoản), ông Đinh Xuân V1 (Phó trưởng phòng, ủy quyền chủ tài khoản) ký duyệt thanh toán với kho bạc không có thực chi, không có chứng từ thanh toán nhằm hợp thức hóa số tiền đã chiếm đoạt với 15 chứng từ khống số tiền vi phạm là 394.920.000 đồng. Quản lý không chặt để kế toán tự lập 02 giấy rút dự toán ngân sách, kê thanh toán 05 chứng từ khống chiếm đoạt số tiền 15.110.000 đồng, số tiền này L nhờ Lê Nhật T1 nhận tiền mặt tại Ngân hàng N và thiếu kiểm tra, rà soát để kế toán thu hồi tiền từ Bưu điện huyện và cán bộ lao động thương binh xã hội ở các xã nhưng không nộp trả ngân sách mà chiếm đoạt sử dụng 27.945.000 đồng (Nguyễn Thanh L nhận tiền từ Bưu điện huyện K 26.595.000 đồng, nhận tiền truy thu của các đối tượng từ L 1.350.000 đồng).

Ngoài ra, với trách nhiệm là Thủ trưởng đơn vị bà Phùng Cẩm L1 ký duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 1.200.000đ, thiếu kiểm tra dẫn đến chi tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 04 đối tượng sai quy định số tiền 3.780.000 đồng; không truy thu số tiền Bưu điện còn nợ lại 1.755.000 đồng; thiếu kiểm tra dẫn đến chi sai tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 03 đối tượng số tiền 1.620.000 đồng (trong đó Nguyễn Thanh L nhận tiền truy thu từ ông Lê Quốc E số tiền 1.350.000 đồng L đã chiếm đoạt đã tính trong số tiền 437.975.000₫). Tổng số tiền sai phạm của đơn vị là 445.790.000 đồng trong đó thuộc trách nhiệm của bà Phùng Cẩm L1 là 444.980.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra bị can Phùng Cẩm L1 đã tự nhìn nhận sai phạm, thiếu sót bản thân để kế toán, thủ quỹ đơn vị lợi dụng sơ hở trong quản lý, điều hành chiếm đoạt tiền từ ngân sách nhà nước để tiêu xài cá nhân.

Tại bản kết luận giám định số 08/KLGDD-STC ngày 11/01/2024 của Sở tài chính Ủy ban nhân dân tỉnh K kết luận: Bà Phùng Cẩm L1 – Trưởng phòng LĐTBXH huyện chịu trách nhiệm trong việc điều hành, quản lý tài chính của đơn vị không đúng quy định số tiền 444.980.000 đồng, gồm: ký duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 vượt quy định số tiền 1.200.000 đồng; thiếu kiểm tra dẫn đến chi tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 04 đối tượng sai quy định số tiền 3.780.000 đồng; thiếu kiểm tra để kế toán đơn vị là ông Nguyễn Thanh L nhận tiền nộp trả từ Bưu điện là 26.595.000 đồng không nộp trả ngân sách và không truy thu số tiền Bưu điện còn nợ lại 1.755.000 đồng; thiếu kiểm tra dẫn đến chi sai tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 03 đối tượng số tiền 1.620.000 đồng và để ông Nguyễn Thanh L nhận tiền truy thu từ ông Lê Quốc E số tiền 1.350.000 đồng không nộp trả ngân sách; quản lý không chặt chẽ để kế toán là ông Nguyễn Thanh L lập giấy rút dự toán ngân sách nhà nước, rút thực chi kèm bảng kê nội dung thanh toán, kê thanh toán 05 chứng từ số tiền 15.110.000 đồng, nhưng thực tế không có hồ sơ, chứng từ thanh toán; quản lý không chặt chẽ để kế toán là ông Nguyễn Thanh L thỏa thuận với thủ quỹ là bà Phạm Thị M, thực hiện

8

rút tiền mặt từ ngân sách nhiều lần, sau đó lập bảng kê nội dung chứng từ thanh toán với Kho bạc, nhưng thực tế không có hồ sơ, chứng từ thanh toán với tổng số tiền 394.920.000 đồng. Vi phạm khoản 1 Điều 61 Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 và chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 3 Điều 50 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015. khoản 2 Điều 61 Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015 và khoản 3 Điều 51 Luật Kế toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.

Qua thanh tra Phòng lao động thương binh xã hội huyện đã khắc phục truy thu nộp trả ngân sách nhà nước số tiền 445.790.000 đồng bao gồm số tiền do L và M chiếm đoạt và số tiền sai phạm tại phòng trong đó: ông Đinh Xuân V1 nộp trả ngân sách số tiền thanh toán nghỉ phép năm vượt quy định 1.200.000 đồng và truy thu nộp trả ngân sách số tiền chi sai cho 04 đối tượng bảo trợ xã hội là 3.780.000 đồng cùng ngày 11/4/2023. Nguyễn Thanh L và Phạm Thị M tự thỏa thuận theo đó Phạm Thị M nộp 50.000.000 đồng ngày 02/3/2023, Nguyễn Thanh L nộp trả ngân sách 390.810.000 đồng (ngày 11/01/2023 nộp 15.110.000 đồng, ngày 27/02/2023 nộp 363.000.000 đồng, ngày 10/3/2023 nộp 8.500.000 đồng, ngày 14/3/2023 nộp 4.200.000 đồng).

Ngoài ra tại bản kết luận giám định số 08/KLGDD-STC ngày 11/01/2024 của Sở tài chính Ủy ban nhân dân tỉnh K kết luận:

  • - Ông Đình Xuân V2 - Phó Trưởng phòng LĐTBXH huyện K, chịu trách nhiệm số tiền 3.900.000 đồng, gồm: ký đề nghị thanh toán và nhận tiền nghỉ phép năm vượt quy định số tiền 1.200.000 đồng, trực tiếp ký duyệt trên danh sách chỉ tiền trợ cấp bảo trợ bảo trợ xã hội sai quy định số tiền 2.700.000 đồng. Chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật Kể toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015.
  • - Bà Phạm Thị M - Nguyên Thủ quỹ Phòng LĐTBXH huyện K, chịu trách nhiệm trong việc quản lý quỹ tiền mặt không đúng quy định, thỏa thuận với kế toán là ông Nguyễn Thanh L, trực tiếp rút tiền mặt từ ngân sách nhiều lần với số tiền 380.020.000đ, nhưng không theo dõi vào sổ quỹ tiền mặt và khi chuyển công tác bàn giao thiếu số tiền 380.020.000 đồng, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015.
  • - Bà Nguyễn Thị Khánh L2 – Kế toán Phòng LĐTBXH huyện K chịu trách nhiệm trong việc tham mưu cho Trưởng phòng Lao động duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 vượt quy định số tiền 1.200.000 đồng, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật Ngân sách số 83/2015/QH13 ngày 25/6/2015.

Tại bản cáo trạng số: 10/CT – VKS - KH, ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “ Tham ô tài sản”, theo khoản 2 Điều 353 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Phùng Cẩm

9

L1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 1 Điều 360 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay: Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại Tòa, sau khi phân tích tính chất mức độ, hậu quả mà hành vi của các bị cáo đã gây ra. Đại diện Viện kiểm sát đã giữ nguyên quan điểm như nội dung bản cáo trạng đã truy tố về tội danh cũng như điều luật đã áp dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Nguyễn Thanh L: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 5 Điều 353 và Điều 38 Bộ luật hình sự. Mức án đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh L từ 02 năm đến 03 năm tù.
  2. Hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán từ 02 năm đến 03 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính..

  3. Phùng Cẩm L1: Áp dụng điểm d, khoản 1 Điều 360; điểm a, s, v, khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 4 Điều 360, Điều 36 Bộ luật hình sự. Mức án đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Cẩm L1 từ 06 tháng đến 01 năm cải tạo không giam giữ, không khấu trừ thu nhập.
  4. Hình phạt bổ sung: Cấm đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo từ 01 năm đến 02 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực.

Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 của Bộ luật Hình sự; các Điều 584, Điều 585, Điều 587 và Điều 589 của Bộ luật Dân sự. Phòng L huyện làm thất thoát số tiền từ ngân sách là 445.790.000 đồng buộc phải thu hồi gồm:

  • - Số tiền bị cáo L và Phạm Thị M chiếm đoạt là 437.975.000 đồng phải giao nộp trong đó: cá nhân bị cáo L là 62.995.000 đồng, L và Phạm Thị M phải nộp lại 320.120.000 đồng, riêng Phạm Thị M 54.000.000 đồng.
  • - Phòng lao động thương binh và xã hội phải thu hồi nộp ngân sách do chi sai là 7.815.000 đông.

Trong giai đoạn thanh tra Nguyễn Thanh L đã tự nguyện truy thu và giao nộp lại số tiền 390.810.000đ, Phạm Thị M nộp 50.000.000 đồng theo thỏa thuận giữa L và M. Bao gồm số tiền chiếm đoạt của M và L là 437.975.000 đồng và số tiền L truy thu nộp lại ngân sách là 2.835.000 đồng. Phòng L thu hồi nộp ngân sách 4.980.000 đồng. Hiện đã giao nộp khắc phục xong toàn bộ số tiền sai phạm là 445.790.000 đồng.

Công nhận việc bị cáo L và Phạm Thị M đã tự thỏa thuận bồi thường thiệt hại, khắc phục toàn bộ hậu quả do sai phạm bản thân gây ra.

10

Về xử lý vật chứng: 01 tập hồ sơ tài liệu, chứng từ kế toán từ năm 2021-2022 của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, được đánh số thứ tự từ số 01 đến số 550.

  • * Xử lý vật chứng: Đối với các tài liệu, chứng từ thu giữ, tiếp tục thu giữ, quản lý kèm hồ sơ vụ án để phục vụ trong công tác điều tra, xử lý.
  • * Riêng đối với Phạm Thị M sau khi kết thúc quá trình thanh tra tài chính của Thanh tra huyện K, đã đi khỏi địa phương không làm việc được. Ngày 31/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ban hành Quyết định khởi tố bị can số 27/QĐ-ĐTTH ngày 31/12/2024 về tội tham ô tài sản quy định tại khoản 2 Điều 353Bộ luật hình sự. Đến ngày 22/01/2025 hết thời hạn điều tra nhưng không biết rõ bị can đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can số 06/QĐ-ĐTTH ngày 22/01/2025 và Quyết định truy nã số 08/QĐ-ĐTTH cùng ngày đối với Phạm Thị M.
  • * Đối với ông Đinh Xuân V1 nguyên phó trưởng Phòng LĐ-TB-XH, trong giai đoạn năm 2021-2022. Nguyễn Thanh L có sử dụng chữ ký số của ông Đinh Xuân V1 để ký một số giấy rút dự toán ngân sách, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, bảng kê chứng từ thanh toán, lúc này bà Phùng Cẩm L1 là người đứng tên chủ tài khoản nhưng do ông Đinh Xuân V1 là cấp phó được ủy quyền ngay từ khi bắt đầu thực hiện chữ ký số, khi rút tiền từ tài khoản đơn vị thì bà Phùng Cẩm L1 và ông Đinh Xuân V1 đều có thể rút được. Nhưng trong thông báo phân công nhiệm vụ năm 2021 và năm 2022 ông Văn chỉ phân công các nhiệm vụ công tác, còn việc quản lý tài chính, đối chiếu thu chi kinh phí thì không có phân công cho ông Đinh Xuân V1 nên chưa đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với ông V1. Căn cứ kết quả điều tra và Kết luận giám định của Sở tài chính tỉnh K ông Đinh Xuân V1 chịu trách nhiệm số tiền 3.900.000 đồng do ông ký đề nghị thanh toán và nhận tiền nghỉ phép năm vượt quy định số tiền 1.200.000 đồng, trực tiếp ký duyệt trên danh sách chỉ tiền trợ cấp bảo trợ bảo trợ xã hội sai quy định số tiền 2.700.000 đồng. Chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật Kể toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015. Những sai phạm này ông Đinh Xuân V1 đã bị Chủ tịch UBND huyện K xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quyết định số 1045/QĐ-UBND ngày 30/4/2024. Về mặt đảng bị Ủy ban kiểm tra huyện ủy xử lý bằng hình thức khiển trách theo Quyết định số 66-QĐ/UBKTHU ngày 01/7/2024.
  • * Đối với bà Nguyễn Thị Khánh L2 được phân công công tác kế toán từ năm 2022 trong thời gian này bà đã tham mưu cho Trưởng phòng duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 sai quy định số tiền 1.200.000đồng, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật ngân sách số 85/2015/QH13 ngày 25/6/2025, đã bị kiểm điểm rút kinh nghiệm.

11

Bị hại: Ủy ban nhân dân huyện K; Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Quốc T có đơn xin xét xử vắng mặt và yêu cầu Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

  • * Lời nói sau cùng của các bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án: Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo giống như nội dung bản cáo trạng và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Thanh L được phân công phụ trách kế toán Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, trong thời gian từ tháng 01/2021 đến tháng 01/2022 chịu trách nhiệm trong việc thực hiện không đúng quy định số tiền 443.780.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Thanh L đã lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao, sử dụng chữ ký số của bà Phùng Cẩm L1 và ông Đinh Xuân V1 lập các giấy rút dự toán ngân sách, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng kèm bảng kê thanh toán 15 chứng từ khống, không có thực chi, để Phạm Thị M là thủ quỹ nhận tiền từ kho bạc và ngân hàng sau đó thông đồng tự ý sử dụng và chiếm đoạt sử dụng, riêng L còn trực tiếp nhận tiền từ Bưu điện và cán bộ xã sau đó tự chiếm đoạt sử dụng, tổng số tiền bị L và M chiếm đoạt là 437.975.000 đồng trong đó: Bị cáo Nguyễn Thanh L trực tiếp nhận tiền nộp trả từ các tổ chức, cá nhân đã chiếm đoạt sử dụng riêng 62.955.000 đồng; Phạm Thị M giữ quỹ tự sử dụng cá nhân là 54.000.000 đồng; còn lại số tiền 320.120.000 đồng cả hai sử dụng chung không xác định rõ số tiền và số lần.

Riêng số tiền 5.805.000 đòng sai phạm gồm thực hiện chi trả trợ cấp sai quy định 04 đối tượng với số tiền 3.780.000 đồng; không truy thu bưu điện số tiền còn nợ lại là 1.755.000 đồng, chi sai cho 01 đối tượng số tiền 270.000 đồng Nguyễn Thanh L không có chiếm đoạt mà chỉ có trách nhiệm truy thu nộp ngân sách do chi sai.

Đối với bị cáo Phùng Cẩm L1 được Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B giữ chức vụ Trưởng phòng LĐ-TB-XH từ 3/5/2019, khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2021 đến tháng 01 năm 2022 trong việc điều hành, quản lý tài chính của đơn vị không

12

đúng quy định với số tiền 444.980.000 đồng. Bị can chưa nêu cao tinh thần trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, quản lý, điều hành, thiếu trách nhiệm trong quản lý chữ ký số, thiếu kiểm tra việc sử dụng dịch vụ công kho bạc, thiếu kiểm tra, theo dõi hoặc có kiểm tra nhưng không chặt chẽ việc thu, chi, thanh, quyết toán và công khai tài chính, quỹ tiền mặt của các nguồn kinh phí so với dự toán giao. Từ đó tạo điều kiện, sơ hở để kế toán ông Nguyễn Thanh L và thủ quỹ câu kết, thông đồng với nhau chiếm đoạt tiền từ ngân sách với số tiền 437.975.000 đồng. Còn lại số tiền sai phạm là 7.005.000 đồng với trách nhiệm là Thủ trưởng đơn vị bà Phùng Cẩm L1 ký duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 1.200.000 đồng, thiếu kiểm tra dẫn đến chi tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 04 đối tượng sai quy định số tiền 3.780.000 đồng; không truy thu số tiền Bưu điện còn nợ lại 1.755.000 đồng; thiếu kiểm tra dẫn đến chi sai tiền trợ cấp bảo trợ xã hội cho 03 đối tượng số tiền 1.620.000 đồng (trong đó Nguyễn Thanh L chiếm đoạt 1.350.000 đồng).

Đối với số tiền sai phạm tại Phòng LĐ-TB - XH huyện K là 445.790.000 đồng, đơn vị tự phát hiện thu hồi 15.110.000 đồng, khắc phục trong giai đoạn thanh tra 430.680.000 đồng. Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Thanh L và bị cáo Phùng Cẩm L1 đều thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân.

Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thanh L, Phùng Cẩm L1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, vật chứng và các tài liệu chứng cứ cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ của vụ án.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiên Hải, tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Nguyễn Thanh L về tội “Tham ô tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 353 Bộ luật hình sự, bị cáo Phùng Cẩm L1 về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo điểm d khoản 1 Điều 360 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng với hành vi phạm tội của các bị cáo.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh L là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của Nhà nước, làm thiệt hại 437.975.000 đồng của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện K, gây nên hậu quả rất nghiêm trọng, làm giảm lòng tin của nhân dân vào sự quản lý của Nhà nước. Bị cáo đã lợi dụng chức trách, nhiệm vụ được giao, lợi dụng sự thiếu kiểm tra giám sát của cấp trên để cấu kết với thủ quỹ Phạm Thị M thực hiện sai quy định nhằm chiếm đoạt tài sản của Nhà nước phục vụ cho nhu cầu cá nhân. Thể hiện ý thức của bị cáo xem thường pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với số tiền lớn. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và hậu quả do bị cáo gây ra.

Bị cáo Phùng Cẩm L1 đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng trong công tác thu, chi tài chính (trong thời gian giữ nhiệm vụ trưởng phòng lao động thương binh và xã hội)

13

và công tác điều hành, quản lý thu, chi tài chính của đơn vị không đúng quy định số tiền 444.980.000 đồng và để cho Nguyễn Thanh L và Phạm Thị M cấu kết thực hiện hành vi tham ô tài sản, chiếm đoạt số tiền 437.975.000 đồng từ ngân sách Nhà nước, gây hậu quả rất nghiêm trọng. Qua hành vi của bị cáo Phùng Cẩm L1 đã chứng minh rằng, nếu bị cáo thực hiện đúng chức trách, nhiệm vụ của mình thì bị cáo L không thể nào có điều kiện chiếm đoạt số tiền trên của đơn vị. Tuy bị cáo không phải là người trực tiếp gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước nhưng đã không thực hiện đầy đủ nhiệm vụ được giao để cho cấp dưới dễ dàng thoái hóa, gây thất thoát rất nghiêm trọng tài sản của đơn vị, làm giảm uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào sự quản lý của Nhà nước. Vì vậy, cần phải tuyên cho bị cáo mức án phù hợp, tương xứng với từng hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

  • - Tình tiết tăng nặng: Cả hai bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Tình tiết giảm nhẹ, cụ thể:

Đối với bị cáo Nguyễn Thanh L trong quá trình điều tra, truy tố đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, cung cấp các tài liệu liên quan đến vụ án. Tự nguyện khắc phục trả ngân sách số tiền do bản thân và Phạm Thị M chiếm đoạt 390.810.000 đồng. Bị cáo có thành tích xuất sắc trong học tập và công tác được các cấp có thẩm quyền khen thưởng. Có ông nội là người có công cách mạng. Phù hợp với quy định tại điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do bị cáo có niều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên bị cáo được áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo dưới khung hình phạt liền kề là phù hợp với quy định của pháp luật.

Bị cáo Phùng Cẩm L1 trong quá trình điều tra, truy tố dã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhiều thành tích xuất sắc trong công tác được các cấp có thẩm quyền khen thưởng. Ngày 29/8/2022 khi phát hiện Nguyễn Thanh L tự ý rút tiền 15.110.000 đồng thông qua người ngoài cơ quan là ông Lê Nhật T1, bị cáo đã kịp thời báo cáo Ủy ban nhân dân huyện X1 xử lý và chủ động thu hồi được số tiền 15.110.000 đồng, ngăn chặn hành vi sai phạm có thể tiếp tục diễn ra. Có ba chồng là người có công cách mạng (thương binh). Phù hợp với các điểm điểm a, s, v khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về áp dụng tình tiết định khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ, mức án đề nghị cho các bị cáo L, L1 là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về các vấn đề khác:

14

- Về trách nhiệm dân sự: Trong giai đoạn thanh tra Nguyễn Thanh L đã tự nguyện truy thu và giao nộp lại số tiền 390.810.000 đồng, Phạm Thị M nộp 50.000.000 đồng theo thỏa thuận giữa L và M. Bao gồm số tiền chiếm đoạt của M và L là 437.975.000 đồng và số tiền L truy thu nộp lại ngân sách là 2.835.000 đồng. Phòng LDĐ-TB-XH thu hồi nộp ngân sách 4.980.000 đồng. Hiện đã giao nộp khắc phục xong toàn bộ số tiền sai phạm là 445.790.000 đồng. Bị hại không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về xử lý vật chứng: 01 tập hồ sơ tài liệu, chứng từ kế toán từ năm 2021-2022 của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, được đánh số thứ tự từ số 01 đến số 550, xét cần tiếp tục thu giữ, quản lý kèm hồ sơ vụ án để phục vụ trong công tác điều tra, xử lý.

  • * Riêng đối với Phạm Thị Mai S1 khi kết thúc quá trình thanh tra tài chính của Thanh tra huyện K, đã đi khỏi địa phương không làm việc được. Ngày 31/12/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ban hành Quyết định khởi tố bị can số 27/QĐ-ĐTTH ngày 31/12/2024 về tội tham ô tài sản quy định tại khoản 2 Điều 353 BLHS. Đến ngày 22/01/2025 hết thời hạn điều tra nhưng không biết rõ bị cáo đang ở đâu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã ra Quyết định tạm đình chỉ điều tra đối với bị can số 06/QĐ-ĐTTH ngày 22/01/2025 và Quyết định truy nã số 08/QĐ-ĐTTH cùng ngày đối với Phạm Thị M.
  • * Đối với ông Đinh Xuân V1 nguyên phó trưởng Phòng LĐ-TB-XH, trong giai đoạn năm 2021-2022. Nguyễn Thanh L có sử dụng chữ ký số của ông Đinh Xuân V1 để ký một số giấy rút dự toán ngân sách, giấy đề nghị thanh toán tạm ứng, bảng kê chứng từ thanh toán, lúc này bà Phùng Cẩm L1 là người đứng tên chủ tài khoản nhưng do ông Đinh Xuân V1 là cấp phó được ủy quyền ngay từ khi bắt đầu thực hiện chữ ký số, khi rút tiền từ tài khoản đơn vị thì bà Phùng Cẩm L1 và ông Đinh Xuân V1 đều có thể rút được. Nhưng trong thông báo phân công nhiệm vụ năm 2021 và năm 2022 ông Văn chỉ phân công các nhiệm vụ công tác, còn việc quản lý tài chính, đối chiếu thu chi kinh phí thì không có phân công cho ông Đinh Xuân V1 nên chưa đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự đối với ông V1. Căn cứ kết quả điều tra và Kết luận giám định của Sở tài chính tỉnh K ông Đinh Xuân V1 chịu trách nhiệm số tiền 3.900.000 đồng do ông ký đề nghị thanh toán và nhận tiền nghỉ phép năm vượt quy định số tiền 1.200.000₫, trực tiếp ký duyệt trên danh sách chỉ tiền trợ cấp bảo trợ bảo trợ xã hội sai quy định số tiền 2.700.000 đồng. Chịu trách nhiệm theo quy định tại khoản 5 Điều 18 Luật Kể toán số 88/2015/QH13 ngày 20/11/2015. Những sai phạm này ông Đinh Xuân V1 đã bị Chủ tịch UBND huyện K xử lý kỷ luật bằng hình thức khiển trách theo quyết định số 1045/QĐ-UBND ngày 30/4/2024. Về mặt đảng bị Ủy ban kiểm tra huyện ủy xử lý bằng hình thức khiển trách theo Quyết định số 66-QĐ/UBKTHU ngày 01/7/2024.

15

  • * Đối với bà Nguyễn Thị Khánh L2 được phân công công tác kế toán từ năm 2022 trong thời gian này bà đã tham mưu cho Trưởng phòng duyệt chi tiền nghỉ phép năm cho ông Đinh Xuân V1 sai quy định số tiền 1.200.000đồng, vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 61 Luật ngân sách số 85/2015/QH13 ngày 25/6/2025, đã bị kiểm điểm rút kinh nghiệm.

[7] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc mỗi bị cáo Nguyễn Thanh L và Phùng Cẩm L1 phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên!

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh L phạm tội "Tham ô tài sản". Bị cáo Phùng Cẩm L1 phạm tội "Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng".

  1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 353; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 5 Điều 353 và Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo Nguyễn Thanh L.
    • - Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thanh L 02 (Hai) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành hình phạt.
    • - Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Nguyễn Thanh L đảm nhiệm chức vụ liên quan đến tài chính, kế toán trong thời hạn 02 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt chính.
  2. Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 360; điểm a, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 4 Điều 360 và Điều 36 Bộ luật hình sự cho bị cáo Phùng Cẩm L1.
    • - Xử phạt: Bị cáo Phùng Cẩm L1 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời điểm chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh K nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện K, tỉnh Kiên Giang giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo.
    • - Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo Phùng Cẩm L1 đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo trong thời hạn 01 năm kể từ ngày bản án có hiệu lực.
  3. Về xử lý vật chứng: 01 tập hồ sơ tài liệu, chứng từ kế toán từ năm 2021-2022 của Phòng lao động thương binh và xã hội huyện K, được đánh số thứ tự từ số 01 đến số 550, xét cần tiếp tục thu giữ, quản lý kèm hồ sơ vụ án để phục vụ trong công tác điều tra, xử lý.
  4. Về trách nhiệm dân sự: Phía bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu gì thêm. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.

16

  1. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
  2. Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND tỉnh Kiên Giang
  • - VKSND huyện Kiên Hải;
  • - Công an tỉnh Kiên Giang;
  • - Bị cáo; Bị hại
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thanh Toàn

17

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIÊN HẢI – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGUYEN THANH L - THAM O TAI SAN
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger