Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 09/2025/HSST

Ngày: 06/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Trung Dũng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Đình Thủ
Ông Nguyễn Văn Chinh

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Vân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm– Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 51/2024/HSST ngày 26/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 02/2025/HSST-QĐ ngày 14 tháng 01 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số: 04/2025/HSST-QĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm: 1989, Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có; Đăng ký HKTT: Ấp M, xã M, huyện T, Đồng Tháp; nơi ở hiện nay: đường số A, khu dân cư V, khu phố D, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương; Dân tộc: Kinh. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Mua bán; Con ông: Nguyễn Văn N1, sinh năm: 1967; Con bà: Nguyễn Thị S, sinh năm: 1969; Vợ tên: Trần Lê Huyền T, sinh năm 2006; Gia đình có 02 anh, em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án: Không; Tiền sự: Ngày 17/02/2023 bị Công an xã A, huyện C, tỉnh An Giang xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc (Chấp hành xong ngày 27/02/2023); Nhân thân: Tại bản án số: 51/2009/HS-ST ngày 15/9/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 05/10/2011); Tại bản án số: 56/2012/HS-ST ngày 24/8/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 18/3/2015); Tại bản án số: 16/2016/HS-ST ngày 20/5/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (Chấp hành xong ngày 21/01/2020); Ngày 25/10/2024 bị tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội trộm cắp tài sản (Tại bản án số 57/2024/HSST ngày 25/10/2024); Tạm giữ: Không; Bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện V, thành phố Cần Thơ. Bằng Quyết định tạm giam của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ (Quyết định số: 138/2004/HSST-QĐTG ngày 25/10/2024, thời hạn tạm giam 45 ngày kể từ ngày 25/10/2024). Bị cáo đang chấp hành án tại Trại giam T1 thuộc C10 – Bộ C. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện C (có mặt tại phiên toà).

* Bị hại:

Lương Thái H, sinh năm 1983 (vắng mặt);

Địa chỉ: ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

* Người làm chứng:

  1. Nguyễn Văn H1, sinh năm 1970 (vắng mặt);
  2. Trương Thị Thúy Á, sinh năm 1982 (vắng mặt);

Cùng địa chỉ: ấp H, xã N, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn N và đối tượng tên H2 (không xác định tên họ đầy đủ và địa chỉ cụ thể) là bạn bè quen biết ngoài xã hội, muốn có tiền tiêu xài cá nhân, H2 rủ N đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền chia nhau tiêu xài cá nhân thì N đồng ý.

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 25/4/2023, sau khi cả hai bàn bạc và thống nhất đi tìm tài sản lấy trộm, trước khi đi H2 đem theo cây kiềm cộng lực và chìa khóa tự chế dùng để mở khóa xe. Sau đó, H2 điều khiển xe mô tô biển số 66M1- 713.17 (xe của N đứng tên chủ sở hữu) chở N phía sau đi từ địa phận huyện L đến huyện C, khi đến khu vực tổ A, ấp H, xã N, huyện C. Đến khoảng 01 giờ ngày 26/4/2023, cả hai phát hiện xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future F1 biển số 66F2- 045.70 của anh Lương Thái H đang đậu trong khuôn viên nhà, không có người trông coi. H2 dừng xe lại đứng bên ngoài làm nhiệm vụ cảnh giới còn Nhất leo qua hàng rào trước nhà đột nhập vào bên trong quan sát thấy không có người nên lén lút đi lại dùng chìa khóa tự chế mang theo mở khóa xe dẫn ra cửa rào. Do cửa rào đang khóa nên H2 đưa N cây kiềm cộng lực cắt ổ khóa dẫn xe mô tô ra ngoài, N điều khiển xe mô tô vừa trộm được, còn H2 điều khiển xe mô tô của N cả hai chạy về hướng thành phố Hồ Chí Minh để tìm nơi tiêu thụ. Khi cả hai chạy đến địa phận ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Long An bị lực lượng Công an đang trên đường tuần tra thấy có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu cả hai dừng phương tiện kiểm tra, N và H2 sợ bị bắt giữ nên bỏ 02 xe mô tô đồng thời bỏ chạy, trên đường bỏ chạy H2 và Nhất ném bỏ cây kiềm công lực và chìa khóa tự chế, không xác định được vị trí nên Cơ quan điều tra không có cơ sở truy tìm.

Sau đó, Công an xã B, huyện T, tỉnh Long An lập biên bản vụ việc, tạm giữ xe mô tô biển số 66M1- 713.17 và 66F2- 045.70, đồng thời chuyển cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.

Đến ngày 06/4/2024, Nguyễn Văn N bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V, thành phố Cần Thơ bắt giữ khi cùng đồng bọn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện V, thành phố Cần Thơ.

Tại kết luận định giá về tài sản số 42 ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện C kết luận: Xe mô tô biển số 66F2- 045.70 hiệu Honda, loại Future F1, màu xanh, đen, số khung RLHJC7657PY105377, số máy JC90E0411591 đã qua sử dụng trị giá 34.000.000 đồng (Ba mươi bốn triệu đồng).

Cơ quan điều tra tiến hành trao trả lại xe mô tô tô biển số 66F2- 045.70 cho anh Lương Thái H, sau khi nhận lại tài sản anh H không yêu cầu bồi thường gì về phần dân sự nhưng yêu cầu xử lý Nhất theo quy định pháp luật.

Tại cáo trạng số 45/CT-VKS ngày 18/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N với mức án từ 02 năm đến 03 năm tù về tội "Trộm cắp tài sản".

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng đề nghị Tòa tuyên như phần quyết định của bản Cáo trạng đã nêu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. [2] Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã nêu. Chính bị cáo Nguyễn Văn N cùng đồng phạm thực hiện. Vào khoảng 01 giờ ngày 26/4/2023, tại khu vực tổ A, ấp H, xã N, huyện L, tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn N cùng với đối tượng tên H2 có hành vi lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 66F2- 045.70 hiệu Honda, loại Future F1, màu xanh, đen của anh Lương Thái H. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 34.000.000 đồng.

Lời khai nhận của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, cùng với vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nhất L có tội, đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) ...

  1. [3] Bị cáo Nguyễn Văn Nhất L đối tượng từng vi phạm pháp luật, phải nghe phán xét của pháp luật và lĩnh án. Đáng lẽ ra bị cáo phải lấy đó làm bài học để cải sửa bản thân, tôn trọng pháp luật, sống lương thiện có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, bị cáo không làm được như vậy mà lại tiếp tục vi phạm pháp luật. Khi thực hiện tội phạm, bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo thừa biết hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, phải chịu chế tài nhưng vì muốn có tiền tiêu xài mà không cần phải lao động, bị cáo đã chiếm đoạt tài sản của những bị hại một cách trái phép. Hành vi của bị cáo Nhất là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội một cách liều lĩnh, táo bạo, thực hiện mà không sợ bị phát hiện chứng tỏ bị cáo rất xem thường và bất chấp pháp luật. Trong vụ án này, bị cáo đã thực hiện hoàn thành tội phạm. Bị cáo thực hiện tội phạm vì động cơ tư lợi với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của bị cáo gây ra. Về nhân thân của bị cáo chưa tốt, ý thức sửa đổi bản thân là rất kém. Xét thấy, việc cách ly bị cáo N ra khỏi xã hội một thời gian là điều cần thiết, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.
  2. [4] Tuy nhiên trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Nguyễn Văn N đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Về nhân thân, bị cáo xuất thân là thành phần nhân dân lao động. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
  3. [5] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  4. [6] Xét thấy lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên chấp nhận.
  5. [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu gì thêm. Ngoài ra bị hại không có yêu cầu bị cáo N bồi thường gì thêm bất cứ khoản nào khác phù hợp theo quy định của pháp luật nên không đặt vấn đề giải quyết.
  6. [8] Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 66M1- 713.17; số khung MH1KB1117KK201041; số máy: KB11E1199935, nhãn hiệu Honda, loại Sonic 150, màu đỏ, đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
  7. [9] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù; Tổng hợp hình phạt chung với Bản án hình sự sơ thẩm số 57/2024/HSST ngày 25/10/2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ đã xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 03 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng cộng bị cáo Nguyễn Văn N phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 06 (sáu) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2024.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu gì thêm.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách nhà nước xe mô tô biển số 66M1- 713.17; số khung MH1KB1117KK201041; số máy: KB11E1199935, nhãn hiệu Honda, loại Sonic 150, màu đỏ, đen là phương tiện dùng vào việc phạm tội.

(Hiện vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh).

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn N phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.

Đối với bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao án văn hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TANDND tỉnh Đồng Tháp
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND huyện Cao Lãnh;
  • - Phân trại tạm giam khu vực HCL;
  • - THADS huyện Cao Lãnh;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VPTA & hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Huỳnh Trung Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 09/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger