Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 27/11/2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tân Khải Nhân;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở và ông Phạm Mạnh Quỳ;

Thư ký phiên tòa: Ông Tạ Đình Minh – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân khu vực 7 - Phú Thọ tham gia phiên tòa:

Ông Lương Ngọc Lâm - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 7 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2025/TLST- HS ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- HS ngày 13 tháng 10 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 05/2025/HSST QĐ ngày 24/10/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 07/2025/HSST – QĐ ngày 20/11/2025 đối với Bị cáo:

1. Bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hồng S (tên gọi khác: Không);

Sinh ngày 23 tháng 9 năm 2001, tại xã H, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ĐKNKTT: Khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ;

Nơi ở hiện tại: Khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Mường;

Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;

Con ông: Nguyễn Văn B, sinh năm 1976 và bà: Đinh Thị N, sinh năm 1978;

Vợ: Phùng Thị Thùy L, sinh năm 2003;

Con: Có 01con, sinh năm 2025.

Tiền án/tiền sự: Không;

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không;

Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Hiện đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã H, tỉnh Phú Thọ (có mặt tại phiên tòa).

2. Người Bị hại:

Ông Nguyễn Xuân D, sinh năm 1968 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1967 (ông D có mặt, bà H Vắng mặt);

Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1978 và chị Lương Thị M, sinh năm 1980 (Chị M có mặt, anh T vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Chị Phùng Thị Thùy L, sinh năm 2003 (có đơn xin vắng mặt);

Địa chỉ: Khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ.

Chị Vũ Thị T1, sinh năm 1988 (vắng mặt);

Địa chỉ: Thôn L, xã Q, Thành phố Hà Nội;

Nguyễn Thị L1, sinh năm 1987 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu G, xã S, Thành phố Hà Nội;

Lê Chi M1, sinh năm 1986 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ;

Phùng Văn T2, sinh năm 1996 (vắng mặt);

Địa chỉ: Khu Đ, xã C, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

1. Về hành vi phạm tội của Bị cáo:

Ngày 09/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tiếp nhận tin báo về tội phạm của Công an xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ (nay là Công an xã H, tỉnh Phú Thọ) chuyển đến với nội dung:

Vào hồi 7 giờ 30 phút và 16 giờ 30 phút cùng ngày 09/06/2025, Công an xã H tiếp nhận đơn trình báo của chị Lương Thị M, và ông Nguyễn Xuân D về việc bị trộm cắp tài sản. Cụ thể:

Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 08/06/2025, chị M mở két sắt kê trong phòng ngủ của gia đình thì phát hiện bị mất số tiền 10.000.000 đồng và 07 (bảy) chỉ vàng. Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp khoảng 80.000.000 đồng.

Khoảng 6 giờ 00 phút ngày 09/06/2025, ông D mở két sắt kê trong phòng ngủ thì phát bị mất số tiền 10.000.000 đồng và 03 (ba) chỉ vàng. Tổng trị giá tài sản bị trộm cắp khoảng 40.000.000 đồng.

Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 09/6/2025, đối tượng Nguyễn Hồng S đến cơ quan CSĐT Công an tỉnh P tự thú và khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của gia đình chị Lương Thị M và ông Nguyễn Xuân D. Nguyễn Hồng S tự nguyện giao nộp 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 pro, màu trắng, số imei 35501532479173, số imei 2: 355015325296662, gắn sim số 0373.315.753, đã qua sử dụng.

Tại Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và tại phiên tòa, Bị cáo đã khai nhận, do không có tiền chi tiêu cá nhân nên từ tháng 5/2025 đến tháng 6/2025, Bị cáo đã 04 (bốn) lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, cụ thể như sau:

Lần 1:

Khoảng 15 giờ ngày 06/5/2025, S một mình đi bộ đến nhà bác ruột là ông Nguyễn Xuân D, biết vợ chồng ông D đang bận công việc gia đình nên S giả vờ đi vào trong nhà đi vệ sinh. Khi đi qua gian buồng ngủ, S lẻn vào và tìm được chìa khóa, S mở két thấy bên trong có 01 (một) túi da đỏ và có 01 (một) ngăn nhỏ bên trên có cắm sẵn khoá. S mở túi da đỏ có tiền mặt nhưng do sợ bị phát hiện nên S không lấy tiền. S mở ngăn nhỏ trong két, thấy 01 (một) chiếc hộp tròn màu hồng đỏ bên trong có 01 (một) chiếc nhẫn vàng trơn, loại vàng 99-99, không gắn đá, khoảng 03 (ba) chỉ. S lấy chiếc nhẫn này đúc vào túi quần bên phải đang mặc và để lại chiếc hộp vào vị trí ban đầu. Sau đó, S đóng ngăn két lại rồi rút chìa để lại vị trí cũ và đi ra ngoài về nhà.

Sau khi về nhà, S giấu chiếc nhẫn trộm cắp được trong người. Đến ngày 08/5/2025, S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu vàng, BKS: 19C1 - 485.33 đi đến khu vực Thành phố Hà Nội với mục đích bán chiếc nhẫn vàng đã trộm cắp được. Khi đi đến đoạn đường thuộc xã Đ, TP . (trước đây là Thị trấn P, huyện Đ, TP .), S gặp ngẫu nhiên và đặt vấn đề thuê một người nam giới chạy xe Grap không quen biết (không xác định được tên, tuổi, địa chỉ) đến cửa hàng kinh doanh mua bán vàng để đổi giúp S từ N1 sang chiếc Kiềng vàng với mức tiền công là 2.000.000 đồng. Người này đồng ý, S đưa chiếc Nhẫn vàng cho người nam giới này rồi đứng chờ. Khoảng 20 phút sau, người nam giới quay lại đưa cho S 01 (một) chiếc Kiềng bằng vàng, loại vàng 99-99, khối lượng 03 (ba) chỉ, S đưa 2.000.000 đồng tiền công rồi đi về nhà.

Đến ngày 17/05/2025, S mang chiếc Kiềng vàng đến cửa hàng vàng bạc “L”, địa chỉ: Phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ (trước đây là Thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) bán cho chị Lê Chi M1 với giá là 30.630.000 đồng. Chị M1 thanh toán qua tài khoản ngân hàng cho S, số tiền này S đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần 2:

Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 20/5/2025, S đi bộ đến nhà thím mình là Lương Thị M. Khi đến nơi nhưng không thấy có ai ở nhà, S vào theo lối cửa bếp, lên nhà chính, qua phòng ngủ. Lúc này, S thấy 01 (một) chiếc két sắt được đặt tại ngay vị trí cửa ra vào phòng ngủ nên đi vào phòng để tìm chìa khoá két, sau khi tìm được, S mở két phát hiện có nhiều túi bóng nilon và 02 (hai) lọ nhựa (dạng lọ nhựa dùng đựng thịt chua), trong đó một lọ đựng dây chuyền vàng, một lọ đựng nhẫn vàng. S mở nắp cả hai hộp này ra, lấy chiếc dây chuyền vàng, loại vàng CTS 24K, là dây chuyền đeo cổ, có các mắt xích đan vào nhau, khối lượng khoảng 05 (năm) chỉ và chiếc nhẫn vàng, loại vàng CTS được đính đá trang trí màu đỏ có trọng lượng 0,36 carat, nhẫn khối lượng khoảng 02 (hai) chỉ, rồi bỏ vào túi quần bò dài phía trước bên phải đang mặc. Sau đó, S đóng lại nắp hộp nhựa, để vào ngăn kéo, khóa lại ngăn kéo và khoá két, cất lại chìa khoá lại vị trí cũ rồi đi về nhà.

Đến khoảng hơn 10 giờ 00 phút cùng ngày, S một mình điều khiển xe mô tô gắn BKS: 19C1 – 485.33 mang theo Dây chuyền vàng và Nhẫn vàng trộm cắp được đến cửa hàng vàng bạc “Thứ Liên”, địa chỉ: khu G, xã S, thành phố Hà Nội (trước đây là xã B, huyện B, thành phố Hà Nội) rồi bán sợi dây chuyền vàng có khối lượng 05 (năm) chỉ cho chị Nguyễn Thị L1, là chủ cửa hàng được số tiền là 51.450.000 đồng. Chị L1 đã thanh toán số tiền trên cho S bằng hình thức chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Sau đó, S đi về nhà và chi tiêu cá nhân hết.

Đến ngày 04/6/2025, S tiếp tục điều khiển xe mô tô gắn BKS 19C1 - 485.33 mang chiếc Nhẫn vàng có khối lượng 02 (hai) chỉ đến cửa hàng vàng bạc “Anh T1”, địa chỉ: thôn Y, xã S, thành phố Hà Nội (trước đây là xã T, huyện B, thành phố Hà Nội) bán cho chị Vũ Thị T1 là chủ cửa hàng được số tiền 20.275.000 đồng. Chị Thu thanh T3 số tiền trên cho S bằng tiền mặt. Sau đó, S đi về nhà và chi tiêu cá nhân hết.

Lần 3:

Khoảng 07 giờ ngày 08/6/2025, do biết trong két sắt của nhà bà Lương Thị M vẫn còn tài sản nên S quay lại nhà bà M để tiếp tục trộm cắp tài sản. S đi bộ đến nhà bà M, thấy không có ai ở nhà nên S lét lút đi vào phòng ngủ của gia đình rồi lục tìm lấy chìa khoá két vẫn để ở túi áo khoác da trong tủ đựng quần áo và mở khoá két sắt như lần trước. S mở ngăn nhỏ bên trong két, thấy có để túi bóng có bọc tiền. S mở ra thấy có 03 (ba) cọc tiền, được buộc bằng dây chun buộc tóc cao su nên S lấy 01 (một) cọc tiền gồm các tờ tiền polime, mệnh giá từ 100.000 đồng đến 500.000 đồng rồi bỏ vào túi quần bò đang mặc, để lại 02 (hai) cọc tiền vào vị trí cũ. Sau đó, S đóng khoá két lại và cất để chìa khoá về vị trí cũ rồi ra về. Khi về đến nhà S kiểm đếm được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền này S đã chi tiêu cá nhân hết.

Lần 4:

Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày 08/6/2025, do biết trong két nhà ông Nguyễn Xuân D vẫn còn túi đựng tiền mặt nên S tiếp tục đi bộ đến nhà ông D để trộm cắp tài sản. Đến nơi, S thấy hai vợ chồng ông D đang bận công việc gia đình nên S tiếp tục lén lút đi vào phòng ngủ để két sắt của gia đình tại phòng ngủ. S tìm thấy chìa khoá két vẫn để ở mặt trên két sắt và cầm chìa khoá rồi thực hiện các thao tác mở két như lần trộm cắp tài sản trước đó và mở được cửa két. S thấy bên trong vẫn để chiếc túi đỏ hôm trước nên mở túi ra thì thấy bên trong túi có 02 (hai) cọc tiền buộc bằng dây chun buộc tóc cao su, 01 (một) cọc để ở ngoài không buộc. S lấy 01 (một) cọc buộc dây chun gồm các tờ tiền polime, mệnh giá 500.000 đồng đúc vào túi trước quần ngố vải bên phải đang mặc rồi đóng khoá két lại và để chìa khóa vào vị trí cũ rồi ra về. Khi về đến nhà S kiểm đếm số tiền vừa trộm cắp thì thấy được số tiền 10.000.000 đồng. Số tiền này S đã chi tiêu cá nhân hết.

Quá trình điều tra, Nguyễn Hồng S đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được.

2. Các vấn đề khác:

Ngày 09/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã thi hành Lệnh khám xét chỗ ở đối với Nguyễn Hồng S tại khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ. Kết quả khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Trên cơ sở kết quả điều tra, ngày 11/6/2025 Cơ quan CSĐT - Công an tỉnh P đã ra Quyết định Khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố Bị can đối với Nguyễn Hồng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Quá trình điều tra đến nay cơ quan điều tra không thu giữ được số vật chứng gồm 10 (mười) chỉ vàng do Nguyễn Hồng S thực hiện hành vi phạm tội mà có. Tuy nhiên ngày 09/06/2025, ông Nguyễn Xuân D và bà Lương Thị M đã giao nộp toàn bộ hoá đơn, giấy tờ mua bán liên quan đến nguồn gốc số vàng bị mất trộm.

Ngày 20/6/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện T có văn bản yêu cầu định giá tài sản số: C28/YC-CSHS đề nghị Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T, tỉnh Phú Thọ tiến hành định giá tài sản: 01 (một) chiếc nhẫn vàng, loại vàng CTS, có trọng lượng vàng là 2 chỉ, trên mặt nhẫn có đính đá màu đỏ có trọng lượng đá 0,36 đã qua sử dụng, được mua từ ngày 23/01/2024; 01 (một) chiếc dây truyền vàng, loại vàng CTS 24K, có trọng lượng vàng là 05 chỉ đã qua sử dụng, được mua từ ngày 23/01/2024; 01 (một) chiếc nhẫn vàng, loại vàng 99-99 (S), có trọng lượng là 03 chỉ đã qua sử dụng, được mua từ ngày 06/4/2025.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 21 ngày 23/06/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện T đã kết luận:

  • 01 (một) chiếc nhẫn vàng, loại vàng CTS, trọng lượng vàng là 02 (hai) chỉ, trên mặt nhẫn đính đá màu đỏ, trọng lượng đá 0,36 carat đã qua sử dụng, giá là: 23.200.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc dây chuyền vàng, loại vàng CTS 24K, trọng lượng vàng là 05 (năm) chỉ đã qua sử dụng, giá là: 57.700.000 đồng.
  • 01 (một) chiếc nhẫn vàng, loại vàng 99-99 (S), trọng lượng 03 (ba) chỉ đã qua sử dụng, giá là: 34.133.000 đồng.

Như vậy, tổng giá trị tài sản mà Bị cáo S đã thực hiện hành vi trộm cắp của của các Bị hại và là căn cứ để truy tố Bị cáo là 135.033.000 đồng, trong đó: 20.000.000 đồng tiền mặt và 115.033.000 đồng là giá trị số vàng S đã trộm cắp.

Bị cáo hưởng lợi bất chính số tiền thông qua việc bán tài sản trộm cắp được là 122.355.000 đồng, trong đó:

  • 82.080.000 đồng S nhận chuyển khoản từ chị Nguyễn Thị L1 và chị Lê Chi M1;
  • 20.275.000 đồng được chị Vũ Thị T1 trả trực tiếp;
  • 20.000.000 đồng tiền mặt S trộm cắp của gia đình M1 và gia đình ông D.

Đối với số tiền 82.080.000 đồng trong tài khoản của S, ngày 26/06/2025 Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã gửi yêu cầu đề nghị cung cấp thông tin sao kê tài khoản ngân hàng V số [...] của S, kết quả điều tra xác định S đã chuyển số tiền 82.200.000 đồng (trong đó có 120.000 đồng là tiền trong tài khoản của S do lao động mà có) đến các số tài khoản ngân hàng gồm:

  1. Ngày 18/05/2025, S chuyển số tiền 15.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M2 số 0002042608293 do Trương Quốc Q (Sinh ngày 19/09/2001; địa chỉ nơi thường trú: Thôn B, xã V, thành phố Hải Phòng; số CCCD: [...]; số điện thoại: 0369.850.xxx) mở tài khoản. Bị cáo khai nhận đây là giao dịch mà S đã nhờ người khác đổi tiền mặt, Bị cáo không quen biết với người có tên Trương Quốc Q.
  2. Ngày 18/05/2025, S chuyển số tiền 15.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng E số [...] do Trương Quốc Q (Sinh ngày 19/09/2001; địa chỉ nơi thường trú: Thôn B, xã V, thành phố Hải Phòng; số CCCD: [...]; số điện thoại: 0369.850.xxx) mở tài khoản. Bị cáo khai nhận đây là giao dịch mà S đã nhờ người khác đổi tiền mặt, S không quen biết với người có tên Trương Quốc Q.
  3. Ngày 20/05/2025, S chuyển số tiền 2.700.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M2 số 0982078055 của chị Phạm Thị N2, (sinh năm 1971 trú tại khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ) là chủ cửa hàng bán đồ điện “Giang N3” để thanh toán tiền mua bình ắc quy điện.
  4. Ngày 20/05/2025, S chuyển số tiền 9.500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V1 số [...] của anh Phùng Văn T2, (sinh năm 1995 ở xã C, tỉnh Phú Thọ) để trả tiền nợ từ trước.
  5. Ngày 20/05/2025, S chuyển số tiền 20.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng V2 số 1016455174 do Nguyễn Thị Hồng L2 (sinh ngày 26/08/1995; nơi đăng ký thường trú: 16A, đường số B, T, Tổ A, khu phố N, phường N, tỉnh Tây Ninh); số CCCD: [...]; số điện thoại: 0374.249.xxx) mở tài khoản. S khai nhận đây là giao dịch mà S đã nhờ người khác đổi tiền mặt, S không quen biết với người có tên Nguyễn Thị Hồng L2.
  6. Ngày 21/05/2025, S chuyển số tiền 20.000.000 đồng (đến tài khoản ngân hàng M2 số 0344116752 do Phạm Thị Ngọc G (sinh ngày 24/09/2006; nơi đăng ký thường trú: Tổ A, Ấp L, xã L, tỉnh Tây Ninh; số CCCD: [...]; số điện thoại: 0344.116.xxx) mở tài khoản. S khai nhận đây là giao dịch mà S đã nhờ người khác đổi tiền mặt, tuy nhiên S không quen biết với người có tên Phạm Thị Ngọc G.

Đối với các giao dịch chuyển khoản số (1), (2), (5), (6) mà S khai nhận chuyển khoản cho người khác để đổi tiền mặt, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định uỷ thác điều tra số C176 ngày 18/07/2025 cho cơ quan CSĐT Công an tỉnh T và ra Quyết định uỷ thác điều tra số C236 ngày 28/07/2025 cho cơ quan CSĐT Công an thành phố H tiến hành xác minh về nội dung giao dịch trên của những công dân Trương Quốc Q, Phạm Thị Ngọc G và Nguyễn Thị Hồng L2. Kết quả xác minh cụ thể như sau:

+ Đối với Trương Quốc Q và Nguyễn Thị Hồng L2: Hiện nay Q và L2 đang vắng mặt tại địa phương, không xác định được Q và L2 đang làm công việc gì, ở đâu. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, trong trường hợp nếu xác định Q và L2 có liên quan đến hành vi trộm cắp của S sẽ tách hồ sơ đề cập xử lý sau.

+ Đối với Phạm Thị Ngọc G: Quá trình điều tra chị G khai nhận bị rơi mất căn cước công dân ở TP . từ tháng 5 năm 2022, từ trước đến nay chị G không đăng ký và sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 0344116752 bao giờ. Chị G khẳng định không quen biết và không nhận tiền chuyển khoản của Nguyễn Hồng S bao giờ.

Đối với Vũ Thị T1, sinh năm 1988 trú tại: Thôn L, xã Q, TP .; Nguyễn Thị L1, sinh năm 1987 trú tại: Khu G, xã S, TP . và Lê Chi M1, sinh năm 1986 trú tại: Phố V, xã T, tỉnh Phú Thọ: Quá trình điều tra đã làm rõ chị Vũ Thị T1, Nguyễn Thị L1 và Lê Chi M1 đều là các chủ cơ sở kinh doanh có điều kiện mua bán vàng và đã mua số vàng trên do Nguyễn Hồng S trộm cắp được mà có. Tuy nhiên, quá trình mua bán, chị T1, chị L1 và chị M1 đều không biết về nguồn gốc số vàng S mang bán là do phạm tội mà có nên việc giao dịch mua bán diễn ra như bình thường đúng với giá mua bán vàng thực tế tại thời điểm đó.

Đối với Phạm Thị N2, sinh năm 1971 trú tại khu B, xã T, tỉnh Phú Thọ và Phùng Văn T2, sinh năm 1996 trú tại khu Đ, xã C, tỉnh Phú Thọ: Quá trình điều tra làm rõ đây là những người được Nguyễn Hồng S chuyển khoản để thực hiện việc giao dịch dân sự. Trong đó, giao dịch S chuyển khoản cho Phạm Thị N2 là việc mua bán đồ điện dân dụng còn giao dịch S chuyển khoản cho Phùng Văn T2 là trả nợ dân sự trước đó.

Đối với người nam giới lái xe ôm công nghệ G1 không xác định được thông tin tên, tuổi, địa chỉ hoạt động ở khu vực đoạn đường X, thành phố Hà Nội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa S khai nhận đây là người mà S đã thuê nhờ đổi từ chiếc nhẫn vàng mà S trộm cắp được sang chiếc kiềng vàng khác để mang về bán tránh bị phát hiện và được hưởng số tiền công 2.000.000 đồng là tiền của S do lao động tích cóp mà có. Tuy nhiên, S không nói cho người này biết việc đây là tài sản do S trộm cắp mà có được. Cơ quan điều tra đã tiến hành phối hợp với chính quyền địa phương thuộc xã Đ, TP . để rà soát, xác minh thông tin nhân thân và làm việc được với người nam giới lái xe ôm công nghệ này tuy nhiên không xác định được. Do đó, không đủ căn cứ để xác định người này có liên quan đến hành vi vi phạm của S nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với Phùng Thị Thùy L, sinh năm 2003, trú tại khu Đ, xã H, tỉnh Phú Thọ: Việc Nguyễn Hồng S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không bàn bạc, trao đổi nói hay kể gì cho vợ là Phùng Thị Thùy L biết. L cũng không được hưởng lợi bất cứ khoản tiền nào từ vi phạm của S. Đối với việc S sử dụng chiếc xe mô tô BKS: 19C1 - 485.33 do L đứng tên là chủ sở hữu hợp pháp để làm phương tiện di chuyển trong những lần mang tài sản đi bán lấy tiền tiêu xài thì L không biết việc. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Phùng Thị Thị L.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Ngày 11/6/2025 Nguyễn Hồng S đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân D số tiền 40.000.000 đồng và gia đình bà Lương Thị M số tiền 80.000.000 đồng. Đến nay gia đình ông D và bà M không yêu cầu Bị cáo S phải bồi thường thêm gì.

3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

Tại Bản cáo trạng số: 04/CT-VKSKV7 ngày 29/9/2025 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân khu vực 7 – P đã truy tố Bị cáo: Nguyễn Hồng S về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c, khoản 2 Điều 173 của BLHS năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Áp dụng điểm c, khoản 2, Điều 173; điểm b, s, r khoản 1, khoản 2, Điều 51; điểm g, khoản 1, Điều 52 và khoản 1, 2, 5 Điều 65 của BLHS năm 2015 đối với Bị cáo Nguyễn Hồng S;
  • Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên: Bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Xử phạt Bị cáo: Nguyễn Hồng S từ 27 (hai mươi bảy) đến 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 54 (năm mươi tư) đến 60 (sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với Bị cáo Nguyễn Hồng S;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú đối với Bị cáo.
  • Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 (đã được sửa bổ bổ sung ngày 27/8/2025 – dưới đây viết tắt là BLTTHS năm 2015) . Trả lại cho Bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu trắng đã qua sử dụng số IMEI 1: 35501532479173, số IMEI 2: 355015325296662, kèm theo sim số 0373.315.753;
  • Trách nhiệm dân sự: Xác nhận ngày 11/6/2025 Nguyễn Hồng S đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân D số tiền 40.000.000 đồng và gia đình bà Lương Thị M số tiền 80.000.000 đồng.

4. Bị cáo nói lời sau cùng:

Bị cáo ăn năn, hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét để được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên Công an tỉnh P và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội:

Tại phiên tòa hôm nay Bị cáo: Nguyễn Hồng S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của Bị cáo thống nhất, phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Biên bản tiếp nhận người phạm tội tự thú, phù hợp với lời khai của các Bị hại và những Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Do đó, đủ căn cứ xác định:

+ Trong các ngày 06/5/2025 và ngày 08/6/2025 Nguyễn Hồng S đã có hành vi trộm cắp tài sản của ông Nguyễn Xuân D và vợ là Đinh Thị H trị giá tài sản 44.133.000 đồng, gồm 10.000.000 đồng tiền mặt và 01 nhẫn vàng, có trọng lượng 3 chỉ, trị giá 34.133.000 đồng;

+ Trong các ngày 20/5/2025 và 08/6/2025, Nguyễn Hồng S đã có hành vi trộm cắp tài sản của bà Lương Thị M và chồng là Nguyễn Văn T, trị giá tài sản 90.900.000 đồng, gồm 10.000.000 đồng tiền mặt và 01 nhẫn vàng, có trọng lượng 2 chỉ, trị giá 23.200.000 đồng; 01 dây chuyền vàng, có trọng lượng 5 chỉ, trị giá 57.700.000 đồng.

+ Tổng số tiền Nguyễn Hồng S trộm cắp của ông D và bà M là 135.033.000 đồng.

Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quan hệ về sở hữu nhưng do mong muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để phục vụ cho nhu cầu cá nhân nên cố ý thực hiện. Số tiền Bị cáo chiếm đoạt trị giá là 135.033.000 đồng thuộc trường hợp định khung tại điểm c, khoản 2, Điều 173 của Bộ luật hình sự là “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

Từ các nhận định trên đã đủ cơ sở xác định hành vi của Bị cáo: Nguyễn Hồng S đã thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm c, khoản 2, Điều 173 của BLHS năm 2015. Cụ thể như sau:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của Bị cáo là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

- Về đồng phạm: Trong vụ án, một mình Bị cáo thực hiện toàn bộ các lần trộm cắp tài sản, không có người giúp sức, những người giúp Bị cáo rút tiền từ trong tài khoản thành tiền mặt, nhận tiền Bị cáo trả nợ và những người mua tài sản của Bị cáo (mua vàng) đều ngay tình và không biết tài sản có nguồn gốc từ việc phạm tội mà có nên không xác định là đồng phạm.

- Về nhân thân: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, chấp hành tốt quy định của pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội 2 lần trở lên theo quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã khắc phục hậu quả và tự thú tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P, vì vậy, Bị cáo được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, r, s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó, các Bị hại đều xin giảm nhẹ hình phạt cho Bị cáo, Bị cáo tích cực cùng với đoàn thanh niên khu dân cư nơi mình sinh sống giúp đỡ, khắc phục hậu quả thiệt hại do thiên tai gây ra. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2, Điều 51 của Bộ luật hình sự mà Bị cáo được hưởng.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình hình tài sản, khả năng thi hành án để đưa ra mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của Bị cáo. Cụ thể như sau:

Bị cáo có 03 (ba) tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 1 Điều 51, và có thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51, Bị cáo chỉ phải chịu 01 (một) tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Trong vụ án này, Hội đồng xét xử đánh giá quá trình chuyển biến tâm lý, sự ăn năn hối cải của Bị cáo thể hiện khi chưa bị phát hiện hành vi phạm tội, Bị cáo đã tự thú trước cơ quan có thẩm quyền, khai báo thành khẩn các lần phạm tội. Theo quy định tại điểm đ, Điều 3 của Bộ luật hình sự về nguyên tắc xử lý hình sự đối với người phạm tội thì “Khoan hồng với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo...”. Đây là nguyên tắc được Hội đồng xét xử bám sát để lượng hình đối với Bị cáo.

Tiếp đó, tại điểm đ, khoản 5, Điều 3 của Nghị quyết số 02/VBHΗΝ – TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao thì có thể cho người phạm tội được hưởng án treo nếu “Các lần phạm tội do người phạm tội tự thú”. Mặt khác, bản thân Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng; bản thân Bị cáo có khả năng tự cải tạo nên xử Bị cáo ở mức hình phạt theo đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; không cần cách ly Bị cáo khỏi xã hội mà cho Bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách 5 (năm) năm để giáo dục Bị cáo là phù hợp với, khoản 1, 2 Điều 65 của BLHS năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tại biên bản xác minh ngày 23/6/2025 (bút lục số 206 và 207) của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh P đã xác định: Bị cáo hiện không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng gì có giá trị, đang sống phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy, miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu trắng, gồm hai số IMEI: 3550153247917 và 355015325296662, gắn sim số 0373.315.753, đã qua sử dụng của Nguyễn Hồng S. Đây là tài sản của Bị cáo không dùng vào việc phạm tội nên cần trả lại.

[5].Về trách nhiệm dân sự:

Xác nhận ngày 11/6/2025 Nguyễn Hồng S đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân D số tiền 40.000.000 đồng và gia đình bà Lương Thị M số tiền 80.000.000 đồng. Tại phiên tòa các Bị hại và Bị cáo đã thống nhất giải quyết xong về việc bồi thường thiệt hại.

[6] Các vấn đề khác của vụ án:

[6.1]. Đối với chị Vũ Thị T1, Nguyễn Thị L1 và Lê Chi M1:

Quá trình điều tra đã làm rõ những người này là chủ cơ sở kinh doanh có đủ điều kiện kinh doanh vàng bạc, khi mua bán đều ngay tình nên Cơ quan cảnh sát điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo là phù hợp.

[6.2]. Đối với chị Phạm Thị N2 và anh Phùng Văn T2:

Quá trình điều tra làm rõ đây là những người được Nguyễn Hồng S trả tiền nợ đã mua hàng hóa, chị N2, anh T2 đều ngay tình nên Cơ quan cảnh sát điều tra xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của Bị cáo là phù hợp.

[6.3]. Đối với Phùng Thị Thùy L là vợ của Bị cáo:

Việc Nguyễn Hồng S thực hiện hành vi trộm cắp tài sản không bàn bạc, trao đổi gì với chị L, chị L cũng không được hưởng lợi bất cứ khoản tiền nào từ vi phạm của S. Đối với việc S sử dụng chiếc xe mô tô BKS: 19C1 - 485.33 do L đứng tên là chủ sở hữu hợp pháp để làm phương tiện di chuyển trong những lần mang tài sản đi bán lấy tiền tiêu xài thì L không biết việc. Do đó, Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Phùng Thị Thị L là phù hợp.

[6.4]. Đối với người nam giới lái xe ôm công nghệ G1:

Cơ quan cảnh sát điều tra không xác định được thông tin tên, tuổi, địa chỉ của N4 lái xe ôm công nghệ, tại phiên tòa, Bị cáo thừa nhận số tiền công 2.000.000 đồng là tiền của Bị cáo do lao động mà có. Mặt khác, khi S yêu cầu người đàn ông này đổi tài sản từ N1 vàng thành Kiềng vàng, S đã che dấu nguồn gốc tài sản, nên người này không biết nguồn gốc tài sản. Do đó, không đủ căn cứ để xác định người này có liên quan đến hành vi vi phạm của S nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

[6.5]. Đối với chị Nguyễn Thị Hồng L2, Phạm Thị Ngọc G và anh Trương Quốc Q:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa Nguyễn Hồng S khai nhận đây là những người là S không quen biết gì gặp ngẫu nhiên ở thành phố Hà Nội trong quá trình S một mình đi chơi, ăn uống, tiêu xài số tiền mà S có được do phạm tội mà có và nhờ những người không quen biết sử dụng tài khoản ngân hàng có thông tin chủ tài khoản như trên để đổi tiền từ tiền trong tài khoản ngân hàng sang tiền mặt để tiện cho việc tiêu xài cá nhân và tránh bị phát hiện.

Đối với Trương Quốc Q và Nguyễn Thị Hồng L2: Hiện nay Cơ quan điều tra chưa làm việc được do Q và L2 không có mặt tại địa phương nên chưa thể xác định được Q và L2 có liên quan đến hành vi vi phạm của S. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh nếu xác định được có liên quan đến vi phạm của S sẽ tách hồ sơ đề cập xử lý sau.

Đối với Phạm Thị Ngọc G: Quá trình điều tra đã làm rõ chị G không đăng ký và sử dụng tài khoản ngân hàng M2 số 0344116752 và không quen biết hay nhận tiền chuyển khoản của Nguyễn Hồng S. Do đó không có căn cứ để xác định chị Giàu C1 liên quan đến hành vi vi phạm của S nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

[7] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Đề nghị của Kiểm sát viên:

Tại phiên tòa đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

  • Áp dụng điểm c khoản 2, Điều 173; điểm b, r, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52; khoản 1, 2, 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với Bị cáo Nguyễn Hồng S;
  • Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Hồng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hồng S 30 (ba mươi) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 05 (năm) năm. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với Bị cáo.
  • Giao Bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã H, tỉnh Phú Thọ để giám sát, giáo dục. Gia đình Bị cáo S có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Bị cáo. Trường hợp Bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  • Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 125 của BLTTHS năm 2105, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú số: 26/LCĐKNCT - TA ngày 13/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 7 – Phú Thọ đối với Nguyễn Hồng S.

3. Về trách nhiệm dân sự:

Áp dụng Điều Khoản 1, Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 584, 585, 586, 599 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Xác nhận ngày 11/6/2025, Bị cáo Nguyễn Hồng S đã bồi thường cho gia đình ông Nguyễn Xuân D số tiền 40.000.000 đồng và gia đình bà Lương Thị M số tiền 80.000.000 đồng. Các bên đã thống nhất toàn bộ về trách nhiệm bồi thường thiệt hại, không có yêu cầu gì khác.

4. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 và điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS năm 2015.

Trả lại cho Bị cáo 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro, màu trắng đã qua sử dụng số IMEI 1: 35501532479173, số IMEI 2: 355015325296662, kèm theo sim số 0373.315.753.

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P bàn giao cho Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 - Phú Thọ ngày 20/10/2025.

5. Về án phí:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 của BLTTHS năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 và Danh mục án phí lệ phí ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Buộc Bị cáo Nguyễn Hồng S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo:

Áp dụng Điều 331, 333 BLTTHS năm 2015, Bị cáo, Bị hại có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - VKSND khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - CQ CSĐT Công an tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh;
  • - Cơ quan THA Dân sự tỉnh;
  • - Phòng thi hành án dân sự khu vực 7 – Phú Thọ;
  • - UBND xã nơi b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Tân Khải Nhân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: HS - ST
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger