Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – BẮC NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 26 tháng 11 năm 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cáp Văn Dũng
  • Ông Nguyễn Văn Hiệp
  • Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh, Tòa án nhân dân khu vực 6 – Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Đỗ Văn Đ, sinh năm 1984;

Nơi thường trú: Thôn Đ, xã C, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Quang V, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1946; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; có vợ là Vũ Thị Kim B, sinh năm 1989 (đã ly hôn) và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2008, con nhỏ nhất sinh năm 2016, 01 con sinh năm 2011 đã chết.

Nhân thân, tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/8/2025 đến ngày 22/8/2025, được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. (Có mặt).

Bị hại:

  1. Anh Nông Văn S, sinh năm 1983; nơi thường trú: Xóm L, xã B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
  2. Chị Vầy Thị N, sinh năm 1993; nơi thường trú: Thôn N, xã M, tỉnh Tuyên Quang. (Vắng mặt)
  3. Chị Triệu Thị N1, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Xóm L, xã B, tỉnh Cao Bằng. (Vắng mặt)
  4. Chị Phạm Thị H1, sinh năm 1996; Nơi thường trú: Bản G, xã L, tỉnh Thanh Hóa. (Vắng mặt)
  5. Chị Mạc Thu P, sinh năm 1997; Nơi thường trú: Thôn T, xã Q, tỉnh Lào Cai. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH G; địa chỉ trụ sở: KCN Nam Sơn - H, tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đỗ Văn Đ làm công nhân tại Công ty G thuộc KCN N – Hạp Lĩnh từ tháng 05/2025 đến ngày 13/8/2025 thì nghỉ việc. Sau khi nghỉ việc, Đ không trả lại Công ty G thẻ ra vào cổng Công ty. Do không có tiền tiêu sài nên Đ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản trong các tủ để đồ cá nhân tại Công ty G1 để bán. Khoảng 19 giờ ngày 14/8/2025, Đ đi bộ đến một cửa hàng bán đồ kim khí gần khu vực cầu B, phường H, tỉnh Bắc Ninh để mua khóa cắt tủ (Đ không nhớ địa chỉ cụ thể của cửa hàng này). Tại đây, Đ mua 01 chiếc kìm kim loại (dạng kìm dùng để cắt tôn) loại dài 25cm, có một đầu nhọn bằng kim loại màu đen, có chuôi bằng kim loại màu ghi và cam với giá 190.000 đồng rồi đi về nhà trọ. Khoảng 15 phút sau, Đ gài chiếc kìm vừa mua được ở thắt lưng rồi bắt xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến Công ty G1. Khi đến nơi, Đ đi bộ đến tầng 1 của dãy nhà C và ngồi chờ. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, Đ đi bộ đến khu vực để đồ cá nhân tại tầng 4. Tại đây, Đ quan sát xung quanh thấy không có ai trông giữ nên đã dùng kìm kim loại, xỏ kìm vào tai khóa và cắt khóa để chiếm đoạt tài sản bên trong tủ để đồ. Tổng số tủ Đ đã cắt là 09 tủ, trong các tủ này Đ đã chiếm đoạt 05 chiếc điện thoại di động gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A31, màu đỏ, dung lượng 128GB của anh Nông Văn S; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, dung lượng: 64GB của chị Vầy Thị N; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y01, màu xanh, dung lượng: 32GB của chị Triệu Thị N1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, dung lượng: 64GB của chị Phạm Thị H1; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13, màu trắng, dung lượng: 128GB của chị Mạc Thu P. Sau khi chiếm đoạt 05 chiếc điện thoại nên trên, Đức đút các điện thoại vào 02 túi quần đang mặc, gài kìm vào thắt lưng rồi đi về phòng trọ cất giấu.

Ngày 15/8/2025, các bị hại là anh Nông Văn S, chị Vầy Thị N, chị Triệu Thị N1, chị Phạm Thị H1, chị Mạc Thu P có đơn trình báo đến Công an phường N, tỉnh Bắc Ninh về việc bị mất trộm điện thoại tại Công ty G. Cùng ngày, Công an phường N triệu tập Đỗ Văn Đ lên làm việc, tại cơ quan điều tra Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân và giao nộp vật chứng như sau:

  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, dung lượng: 64GB, IMEI: 353900103166249, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu iPhone 13, màu trắng, dung lượng: 128GB, IMEI: 351548605863953, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, dung lượng: 64GB, IMEI: 867950064714015, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y01, màu xanh, dung lượng: 32GB, IMEI: 866816052796481, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A31, màu đỏ, dung lượng: 128GB, IMEI: 865659056855973, máy cũ đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) chiếc kìm bằng kim loại dài 25cm, có một đầu nhọn bằng kim loại màu đen, có chuôi bằng kim loại màu ghi và cam, đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số 82/KL-HĐĐGTS ngày 19/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND tỉnh B kết luận:

  • “- 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, dung lượng: 64GB, IMEI: 353900103166249, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị 7.000.000 đồng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 13, màu trắng, dung lượng: 128GB, có số IMEI: 351548605863953, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị 9.000.000 đồng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A57, màu đen, IMEI: 867950064714015, dung lượng: 64GB, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị 2.000.000 đồng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y01, màu xanh, dung lượng: 32GB, IMEI: 866816052796481, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị 1.000.000 đồng;
  • 01 (một) chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A31, màu đỏ, dung lượng: 128GB, IMEI: 865659056855973, máy cũ đã qua sử dụng có giá trị 1.000.000 đồng”.

Tổng giá trị tài sản bị trộm cắp là 20.000.000 đồng.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đỗ Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Với nội dung trên, Cáo trạng số 14/CT-VKSKV6 ngày 06/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố Đỗ Văn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu và thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa, các bị hại là anh Nông Văn S, chị Vầy Thị N, chị Triệu Thị N1, chị Phạm Thị H1, chị Mạc Thu P vắng mặt, các bị hại đều có lời khai trong hồ sơ, thể hiện: Anh S, chị N, chị Nuôi, chị H1 và chị P đã nhận lại tài sản bị trộm cắp, không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Đ đồng thời đều đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH G vắng mặt tại phiên tòa, lời khai trong hồ sơ thể hiện: Công ty TNHH G không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, căn cứ vào nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ từ 15 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 30 đến 40 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kìm kim loại là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo đồng ý với tội danh, mức hình phạt như đại diện Viện kiểm sát đưa ra, không tham gia tranh luận. Bị cáo ăn năn hối hận về hành vi của mình, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt nhẹ nhất, xem xét hoàn cảnh gia đình do bị cáo là lao động chính, đang nuôi 03 con nhỏ dưới 18 tuổi và mẹ già.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt. Xét thấy, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều có lời khai đầy đủ tại cơ quan điều tra, việc xét xử vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án, căn cứ vào Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, kết luận định giá tài sản và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 21 giờ ngày 14/8/2025, tại khu tủ để đồ cá nhân tại tầng 4, tòa nhà C8 Công ty TNHH G có địa chỉ: KCN N - H, tổ dân phố T, phường N, tỉnh Bắc Ninh, bị cáo Đỗ Văn Đ đã có hành vi lén lút dùng kìm kim loại cắt 09 khóa tủ cá nhân và trộm cắp được 05 chiếc điện thoại di động gồm có: 01 chiếc điện thoại Iphone 11 Promax của chị Phạm Thị H1 trị giá: 7.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại Iphone 13 của chị Mạc Thu P trị giá: 9.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại OPPO A57 của chị Vầy Thị N trị giá 2.000.000; 01 chiếc điện thoại VIVO Y01 của chị Triệu Thị N1 trị giá 1.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại OPPO A31 của anh Nông Văn S trị giá 1.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 20.000.000 đồng.

Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Văn Đ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 - Bắc Ninh truy tố là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội và gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, muốn hưởng lợi một cách nhanh chóng nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội của mình. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngoài ra, bị cáo có bố đẻ là ông Đỗ Quang V được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Ba; tại cơ quan điều tra các bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất và mức độ hành vi phạm tội cũng như nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và đối chiếu quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự, Văn bản hợp nhất số 03/VNHN-TANDTC của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Đỗ Văn Đ không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng nên chấp nhận như quan điểm đề xuất của đại diện Viện kiểm sát, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản riêng, đang nuôi con nhỏ nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với 05 chiếc điện thoại di động mà bị cáo trộm cắp xác định là tài sản hợp pháp của bị hại. Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu là phù hợp.

Đối với 01 chiếc kìm kim loại có một đầu nhọn bằng kim loại màu đen, có chuôi bằng kim loại màu ghi và cam là công cụ bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Nông Văn S, chị Vầy Thị N, chị Triệu Thị N1, chị Phạm Thị H1, chị Mạc Thu P đều đã được nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Đối với 09 chiếc khóa tủ bị cáo cắt để trộm cắp tài sản là tài sản của Công ty TNHH G, Công ty không yêu cầu bị cáo phải bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[9] Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  3. Giao bị cáo Đỗ Văn Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Ninh Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 kìm bằng kim loại dài 25 cm, có một đầu nhọn bằng kim loại màu đen, có chuôi bằng kim loại màu ghi và cam đã qua sử dụng là công cụ dùng việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 22/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 6 – Bắc Ninh).

  5. Về án phí: Bị cáo Đỗ Văn Đ phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND khu vực 6 – Bắc Ninh;
  • - Phòng THADS khu vực 6 – Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - UBND xã Cổ Lễ, tỉnh Ninh Bình.
  • - Lưu HS, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đã ký

Lưu Thị Tuyết Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 26/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger