Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

VÂN ĐỒN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 23/01/2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Hồng Thắng.
  • Các Hội thẩm nhân dân: bà Hoàng Thị Ngọc Lan và bà Nguyễn Thị Hòa
  • Thư ký phiên toà: ông Lê Đức Long - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Trương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 48/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Ánh T; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày: 08/12/1982, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 01/12; con ông (không rõ) và bà Nguyễn Thị N; chồng: không có và có 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

2. Họ và tên: Lường Thị N1; tên gọi khác: không; giới tính: nữ; sinh ngày 16/8/1982, tại thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi thường trú: bản S, xã N, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nơi ở hiện tại: khu I, trị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 5/12; con ông Lường Văn X và bà Lò Thị M; chồng: không có và có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. Có mặt.

3. Họ và tên: Nguyễn Văn B; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 15/7/1991, tại huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn A, xã H, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu I, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; Trình độ học vấn: 0/12; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Đinh Thị N2; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/11/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

4. Họ và tên: Lê Văn T2; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 21/10/1986, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn B, xã T, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu I, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 03/12; con ông Lê Văn N3 và bà Vũ Thị H; vợ, con: Chưa có; tiền án: ngày 16/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 12 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 11/7/2023 chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V, tỉnh Quảng Ninh. Có mặt

5. Họ và tên: Vũ Văn X1; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày 11/7/1989, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: khu E, phường N, thị xã Q, Quảng Ninh; nơi ở hiện tại: khu I, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; con ông Vũ Văn K và Nguyễn Thị L; vợ là Trần Thu L1 và có 01 con; tiền án, tiền sự: không

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 16/7/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Q. có mặt.

Người làm chứng: anh Phạm Trung K1. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13 giờ 40 phút ngày 15/7/2024, tại khu I, thị trấn C, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, tổ công tác của Công an huyện V bắt quả tang Lường Thị N1 có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần bên phải của N1 01 gói giấy màu trắng có buộc dây nịt, bên trong gói giấy có 02 túi nilon, bên trong mỗi túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng ghi là ma túy; thu giữ tại túi quần bên trái của N1 01 gói giấy màu trắng, bên trong có 02 túi nilon đều chứa chất tinh thể màu trắng ghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO.

Khám xét khẩn cấp người và chỗ ở đối với Nguyễn Ánh T tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, phát hiện: thu giữ trên người Thùy: 1.050.000 đồng; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng, mặt sau màu xanh có chữ OPPO; thu giữ tại ngăn kéo đầu giường số tiền: 1.240.000 đồng; thu giữ trong túi nilon màu đen treo trên tường bên cạnh cửa ra vào nhà tắm: 01 hộp giấy bên trong có chứa 120 túi nilon kích thước mỗi túi (1,5x2)cm, hàn kín 03 mép, 01 mép có khóa bằng nhựa, trên khóa nhựa có viền màu xanh; 02 ống hút nhựa hàn kín một đầu, một đầu cắt vát, bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy và 01 cân tiểu ly màu đen; thu giữ trong chăn cạnh cửa ra vào nhà tắm: 01 hộp nhựa bên trong có chứa 01 túi nilon kích thước (7x4)cm, hàn kín 03 mép có khóa bằng nhựa, trên khóa có đường viền khóa màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; thu tại thùng nhựa bên cạnh cửa ra vào nhà tắm: 01 chai nhựa, nắp chai nhựa đục hai lỗ, một lỗ gắn ống hút nhựa, một lỗ gắn ống hút thủy tinh uốn cong một đầu có bầu tròn, bên trong ống thủy tinh có bám dính chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 bật lửa màu đỏ có gắn một đầu đốt bằng kim loại.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo khai như sau:

Bị cáo Nguyễn Văn B khai: bị cáo với Lường Thị N1 chung sống với nhau như vợ chồng. Bị cáo với T2 và T là chỗ quen biết xã hội. Bị cáo biết T có ma túy bán vì đã có lần bị cáo nhờ T mua hộ ma túy. Đầu giờ chiều ngày 15/7/2024, T2 có gọi điện nhờ bị cáo mua hộ 500.000 đồng tiền ma túy đá, bị cáo có nhận lời và bảo T2 đưa tiền để bị cáo đi mua ma túy. Sau khi T2 đưa tiền (đưa cho N1) thì bị cáo bảo N1 đi đến nhà T ở thôn Đ, xã Đ để mua ma túy. Trước đó bị cáo đã gọi điện cho T hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy, bị cáo cũng thỏa thuận với T là xin 50.000 đồng để trả tiền xe ôm và xin T riêng một ít ma túy để sử dụng, T đồng ý. Mục đích bị cáo mua hộ ma túy cho T2 vì là chỗ anh em quen biết chơi với nhau, bị cáo mua hộ không vì lợi ích gì.

Bị cáo Lê Văn T2 khai: Ngày 15/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo đã nhờ B là chỗ anh em quen biết chơi với nhau, mua hộ 500.000 đồng tiền ma túy đá để về sử dụng một mình. Ba đồng ý mua hộ và bảo bị cáo đưa tiền cho N1. Bị cáo đã đưa cho N1 500.000 đồng để N1 đi mua ma túy hộ. Ba hẹn với bị cáo khi nào N1 lấy được ma túy về sẽ nhắn tin cho bị cáo để bị cáo đến lấy. Bị cáo không thỏa thuận trả công mua hộ ma túy cho Ba và cũng không thỏa thuận cho Ba cùng sử dụng ma túy.

Bị cáo Lường Thị N1 khai: Bị cáo và Nguyễn Văn B chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017. Trưa ngày 15/7/2024, Lê Văn T2 có gọi điện thoại cho B nhờ mua hộ ma túy đá về sử dụng, B đã đồng ý và bảo T2 đưa tiền cho bị cáo. T2 đã đưa cho bị cáo 500.000 đồng. Sau khi bị cáo cầm tiền của T2 đưa thì B gọi điện thoại cho T hỏi mua 500.000 đồng ma túy, sau đó B bảo bị cáo đi đến nhà T ở thôn Đ, xã Đ, huyện V mua ma túy. Bị cáo đi lên bờ và gọi xe ôm chở bị cáo đến nhà T. Trên đường đi bị cáo nhắn tin cho T bảo T cho sẵn ma túy vào trong hộp mỹ phẩm cho bị cáo. Gặp Thùy bị cáo đưa cho T 450.000 đồng như T đã thỏa thuận với Ba, số tiền 50.000 đồng còn lại bị cáo dùng để trả tiền xe ôm. T nhận tiền và đưa cho bị cáo 01 hộp giấy bên trong có chứa ma túy đá. Đồng thời T có nhờ bị cáo cầm hộ ma túy về cho X1 (Vũ Văn X1), nhưng bị cáo chưa nhận lời ngay. Sau đó X1 gọi điện thoại cho bị cáo, nhờ bị cáo nhận hộ số ma túy mà X1 mua của T đem về cảng C cho X1. Vì là chỗ quen biết, nên bị cáo đồng ý giúp X1 đem ma túy về cho X1. Bị cáo cất số ma túy mua hộ cho T2 vào túi quần bên trái và cất số ma túy đem về cho X1 vào túi quần bên phải và đi về. Khi về đến khu vực cảng C thuộc khu I, thị trấn C huyện V thì bị bắt quả tang.

Bị cáo Nguyễn Ánh T khai: Bị cáo với Nguyễn văn B và Vũ Văn X1 là chỗ bạn bè quen biết xã hội. Trưa ngày 15/6/2024, Nguyễn Văn B gọi điện thoại Z cho bị cáo hỏi mua mua ma túy đá, Ba nói chỉ có 500.000 đồng và xin lại 50.000 đồng để đi xe ôm đến lấy ma túy, B cũng hỏi xin một ít ma túy để sử dụng, bị cáo đồng ý bán. Ba cũng nói cho bị cáo biết là T3 tức là N1 sẽ đến lấy ma túy. Một lúc sau Nườn nhắn tin cho bị cáo, bảo bị cáo cho ma túy sẵn vào hộp trang điểm. Trong lúc chờ Nườn đến lấy ma túy thì Vũ Văn X1 có gọi điện thoại hỏi mua của bị cáo 1.000.000 đồng tiền ma túy đá và bảo bị cáo đem xuống cảng Cái R giao cho X1. Bị cáo đồng ý bán, nhưng không đồng ý giao ma túy ở cảng C vì bị cáo bận không đi được. Bị cáo có nói cho X1 biết là N1 đang đến chỗ của bị cáo để lấy ma túy và bảo X1 liên lạc với N1 nhờ đem ma túy về hộ. Do X1 không có số điện thoại của N1, nên khi N1 đến bị cáo có lấy số điện thoại của N1 gửi cho X1.Nườn đến đưa cho bị cáo 450.000 đồng, bị cáo đưa cho N1 01 hộp giấy bên trong có 02 gói ma túy gồm một gói bị cáo bán cho B và 01 gói bị cáo cho Ba. Lúc này N1 nghe điện thoại của X1 gọi đến, sau khi nói chuyện xong với X1, N1 đồng ý đem hộ ma túy về cho X1, bị cáo tiếp tục đưa cho N1 01 gói giấy bên trong có chứa 02 gói ma túy đá và nói với N1 đây là ma túy của X1. Do X1 mua ma túy chưa trả tiền, nên bị cáo có nói với N1 là “em về nhận được tiền thì chuyển khoản cho chị, chị chuyển số tài khoản cho em”. Khi N1 về được một lúc thì cơ quan công an đến khám xét nơi ở của bị cáo và thu giữ của bị cáo một số tài sản đồ vật gồm: 2.290.000 đồng tiền mặt, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, 01 hộp giấy bên trong có chứa 120 chiếc túi nilon, 02 ống hút nhựa, 01 chiếc cân tiểu ly, một hộp nhựa bên trong có chứa 01 túi ma túy đá, 01 chai nhựa, 01 chiếc bật lửa. Toàn bộ số ma túy mà bị cáo đã bán cho Lường Thị N1 và Vũ Văn X1 vào ngày 15/7/2024 và số ma túy mà Cơ quan điều tra khám xét thu giữ tại chỗ ở của T là do bị cáo mua của một người không quen biết ở phường C, thành phố C vào ngày 13/7/2024 với giá 3.500.000 đồng. Số ma túy này, một phần T đã bán cho B và Xô ngày 15/7/2024 như trên, phần còn lại T cất giấu tại chỗ ở để bán kiếm lời.

Bị cáo Vũ Văn X1 khai: đầu giờ chiều ngày 15/7/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, bị cáo có gọi điện cho T hỏi mua 1.000.000 đồng tiền ma túy đá, T đồng ý bán. Bị cáo nói với T là mang ma túy đến cảng C để giao cho bị cáo và nhận tiền mặt, nhưng T nói không đi được và bảo bị cáo gọi điện cho N1 để nhờ N1 cầm về cho. Sau đó bị cáo gọi điện cho N1, nhờ N1 nhận hộ số ma túy mua của T và đem về cảng C cho bị cáo, bị cáo sẽ đưa tiền mặt cho N1, để N1 chuyển khoản cho T, nườn đồng ý.

Tại Bản kết luận giám định số: 1108/KL-KTHS ngày 20/7/2024, của Phòng K2 - Công an tỉnh Q, kết luận:

  • - 02 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M1, M2) thu giữ tại túi quần bên phải của Lường Thị N1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng M1 là 0,114 gam, M2 là 0,162gam. Tổng cộng 0,276gam;
  • - 02 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M3, M4) thu giữ tại túi quần bên trái của Lường Thị N1 là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng M3 là 0,053 gam, M4 là 0,162gam. Tổng cộng 0,215gam;
  • - 01 túi nilon bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (kí hiệu M5); chất màu trắng dạng vết trong 02 ống nhựa một đầu cắt vát, dài 9,5cm (kí hiệu M6, M7); chất rắn màu trắng vàng trong 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn (kí hiệu M8) thu của Nguyễn Ánh T đều là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng M5 là 4,883 gam, M6, M7, M8 là dạng vết không xác định được khối lượng.

Tại bản Cáo trạng số: 1390/CT-VKSVĐ ngày 28/11/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Ánh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm c, i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; truy tố các bị cáo Lường Thị N1, Nguyễn Văn B, Vũ Văn X1 và Lê Văn T2 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn tại phiên tòa: căn cứ vào lời khai của các bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ đã được thu thập trong vụ án có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/7/2024 tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Ánh T có hành vi bán trái phép 0,162 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 450.000 cho Lường Thị N1 và bán trái phép 0,276 gam ma túy, loại Methamphetamine với giá 1.000.000 đồng cho Vũ Văn X1 và đồng thời cất giấu tại chỗ ở 4,883 gam ma túy, loại Methamphetamine mục đích để bán. Tổng số lượng ma túy Methamphetamine mà Nguyễn Ánh T đã bán cho Lường Thị N1, Vũ Văn X1 và cất giấu tại chỗ ở nhằm mục đích để bán là 5,321 gam. Lường Thị N1 có hành vi tàng trữ trái phép 0,491 gam ma túy, loại Methamphetamine, trong đó: có 0,162 gam là do Lê Văn T2 nhờ Nguyễn Văn B và Lường Thị N1 mua hộ với mục đích để sử dụng; có 0,276 gam là của Vũ Văn X1 nhờ N1 cầm hộ với mục đích để sử dụng. Ngoài ra, Nguyễn Văn B còn được Nguyễn Ánh T cho 0,053 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng các điểm c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ánh T với mức hình phạt từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (16/7/2024).
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:
  • + Xử phạt bị cáo Lường Thị N1 với mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/7/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Vũ Văn X1 với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B với mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/11/2024).
  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T2 với mức hình phạt 15 tháng đến 18 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2024).
  • 2. Về vật chứng: căn cứ vào các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Tịch thu tiêu hủy: phong bì số: 1234/KL-KTHS, ngày 12/8/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q (bên trong có 5,12 gam Methamphetamine), 06 chiếc sim điện thoại, 01 chiếc hộp giấy hình chữ nhật, 01 chiếc hộp nhựa, 120 chiếc túi nilon, 01 chiếc cân tiểu ly, 01 chiếc chai thủy tinh và 01 chiếc bật lửa; Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại OPPO A78, 01 chiếc điện thoại OPPO A17k, 01 chiếc điện thoại OPPO A3101 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max và 450.000 đồng; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ánh T số tiền 1.840.000 đồng.
  • Đề nghị Hội đồng xét xử kiến nghị với Cơ quan Công an huyện V xử lý vi phạm hành chính đối với Nguyễn Ánh T về hành vi tàng trữ 0,053 gam ma túy Methamphetamine đã cho Nguyễn Văn B để sử dụng.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Ánh T: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Lường Thị N1: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Nguyễn Văn B đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Vũ Văn X1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo Lê Văn T2 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của các bị cáo: tại phiên tòa cả 05 bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Nguyễn Văn B, Lê Văn T2 và Vũ Văn X1 đều đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng thể hiện. Lời khai của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong vụ án, phù hợp với vật chứng được thu giữ trong vụ án, kết luận giám định. Như vậy đủ cơ sở kết luận:

  • + Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/7/2024 tại thôn Đ, xã Đ huyện V, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Ánh T đã có hành vi bán 0,162 gam ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Văn B với giá 450.000 đồng, bán 0,276gam ma túy Methamphetamine cho Vũ Văn X1 với giá 1.000.000 đồng nhưng chưa thu được tiền và tàng trữ tại chỗ ở 4,883 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Ngoài ra bị cáo còn cho Nguyễn Văn B 0,053 gam ma túy Methamphetamine để Ba sử dụng.
  • + Bị cáo Lường Thị N1 đã có hành vi cất giấu 0,491 gam ma túy Methamphetamine trong người (trong đó có: 0,215 gam của Ba và T2; 0,276 gam của X1) bị bắt quả tang tại khu vực cảng C thuộc khu I, thị trấn C, huyện V.
  • + Bị cáo Nguyễn Văn B có hành vi giao dịch với bị cáo T để mua hộ Lê Văn T2 0,162 gam ma túy Methamphetamine và xin của bị cáo T 0,053 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng.
  • + Bị cáo Vũ Văn X1 có hành vi mua của bị cáo T 0,276 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng và nhờ bị cáo N1 nhận ma túy hộ.
  • + Bị cáo Lê Văn T2 có hành vi đưa tiền cho B và N1 nhờ mua hộ 0,162 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng.

Như vậy: hành vi bán 0,438 gam ma túy Methamphetamine cho hai người là Vũ Văn X1 và Nguyễn Văn B và tàng trữ 4,883 gam ma túy Methamphetamine tại chỗ ở nhằm mục đích để bán của bị cáo Nguyễn Ánh T đã phạm vào tội “mua bán trái phép chất ma túy” được quy định tại các điểm c và i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo: hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương.

Về nhân thân các bị cáo: ngoài bị cáo Lê Văn T2 có tiền án, thì các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B đều phạm tội lần đầu.

[4] Về vai trò của các bị cáo:

Bị cáo Nguyễn Ánh T phạm tội độc lập với vai trò là người bán ma túy;

Các bị cáo Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 phạm tội với tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó hai bị cáo Lê Văn T2 và Vũ Văn X1 là hai người mua ma túy về để sử dụng; hai bị cáo Nguyễn Văn B và L2 Thì N1 là những người giúp T2 và X1 mua ma túy. Trong đó bị cáo Lường Thị N1 phải chịu trách nhiệm hình sự với tổng khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là 0,491 gam; bị cáo Vũ Văn X1 phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy, bị cáo nhờ bị cáo N1 nhận hộ là 0,276 gam; bị cáo Nguyễn Văn Ba P chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị cáo mua hộ T2 và xin của T là 0,215 gam; bị cáo Lê Văn T2 phải chịu trách nhiệm hình sự với khối lượng ma túy bị cáo nhờ bị cáo N1 và Ba mua hộ là 0,162 gam.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bốn bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Riêng đối với bị cáo Lê Văn T2, ngày 11/7/2023 mới chấp hành xong hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số: 37/2022 ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo chưa được xóa án, nay lại tiếp tục phạm tội, nên thuộc trường hợp “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: bốn bị cáo Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 đều là những người mua ma túy nhằm mục đích để sử dụng; bị cáo Nguyễn Ánh T không có công việc ổn định và phải một mình nuôi con nhỏ đang là học sinh. Do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án và tài sản bị tạm giữ: khối lượng ma túy bị thu giữ, sau khi giám định còn lại là 5,12 gam Methamphetamine, (được niêm phong trong phong bì số: 1234/KL-KTHS, ngày 12/8/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q) là vật (chất) Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tịch thu và tiêu hủy; 01 chiếc điện thoại OPPO A78 thu của Nguyễn Ánh T, 01 chiếc điện thoại OPPO A17k thu của Lê Văn T2, 01 chiếc điện thoại OPPO A31 thu của Lường Thị N1 và 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max thu của Vũ Văn X1 là các phương tiện mà các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước; 06 chiếc sim gắn trong 04 chiếc điện thoại trên là phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu và tiêu hủy; 01 chiếc hộp giấy hình chữ nhật, 01 chiếc hộp nhựa, 120 chiếc túi nilon, 01 chiếc cân tiểu ly, 01 chiếc chai thủy tinh, 02 ống nhựa một đầu cắt vát dài 9,5cm, 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn, vỏ bao gói và 01 chiếc bật lửa đều là những vật không có giá trị và không sử dụng được, nên tịch thu và tiêu hủy; số tiền 2.290.000 đồng thu của Nguyễn Ánh T (hiện đang được tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.102077900000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tại Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Quảng Ninh). Trong đó có 450.000 đồng là tiền do phạm tội mà có, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Số tiền còn lại 1.840.000 đồng là tài sản của bị cáo T, nên trả lại cho bị cáo T.

[8] Về các vấn đề khác:

- Hành vi cho Nguyễn Văn B 0,053 gam ma túy Methamphetamine để Ba sử dụng, không nhằm mục đích trả công cho Ba của bị cáo Nguyễn Ánh T, là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tuy nhiên khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ chưa đủ để bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy này của bị cáo T đã vi phạm pháp luật hành chính được quy định tại Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình. Do vậy, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý đối với bị cáo Nguyễn Ánh T, về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.- Căn cứ vào các điểm c, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ánh T 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (16/7/2024).

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự:

  • + Xử phạt bị cáo Lường Thị N1 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 15/7/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Vũ Văn X1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2024).
  • + Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/11/2024).

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn T2 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 16/7/2024).

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ vào các điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, b, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Tịch thu tiêu hủy: phong bì số: 1234/KL-KTHS, ngày 12/8/2024 của Phòng K2 - Công an tỉnh Q (bên trong có 5,12 gam Methamphetamine, 02 ống nhựa một đầu cắt vát dài 9,5cm, 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn và vỏ bao gói), 06 chiếc sim điện thoại, 01 chiếc hộp giấy hình chữ nhật, 01 chiếc hộp nhựa, 120 chiếc túi nilon, 01 chiếc cân tiểu ly, 01 chiếc chai thủy tinh và 01 chiếc bật lửa.
  • + Tịch thu nộp vào ngân sách Nhà nước: 01 chiếc điện thoại OPPO A78, 01 chiếc điện thoại OPPO A17k, 01 chiếc điện thoại OPPO A3, 01 chiếc điện thoại Iphone 14 Pro Max và 450.000 đồng (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng), trong tổng số tiền 2.290.000 đồng (hiện đang được tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.102077900000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tại Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Quảng Ninh).
  • (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 15/BB-CCTHADS ngày 29/11/2024 giữa Công an huyện V với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vân Đồn).
  • + Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ánh T số tiền 1.840.000 đồng (Một triệu tám trăm bốn mươi nghìn đồng), trong tổng số tiền 2.290.000 đồng (hiện đang được tạm giữ tại tài khoản số 3949.0.102077900000 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tại Kho bạc Nhà nước huyện V, tỉnh Quảng Ninh).

3. Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Các bị cáo Nguyễn Ánh T, Lường Thị N1, Vũ Văn X1, Nguyễn Văn B và Lê Văn T2 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo;
  • - Cơ quan CSĐT- CA huyện Vân Đồn;
  • - VKSND huyện Vân Đồn;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Nhà Tạm giữ CA huyện Vân Đồn.
  • - CCTHADS huyện Vân Đồn;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp Quảng Ninh;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về hình sự (mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 15/7/2024 tại thôn Đông Tiến, xã Đông Xá huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, bị cáo Nguyễn Ánh Thùy đã có hành vi bán 0,162 gam ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Văn Ba với giá 450.000 đồng ( Ba mua hộ cho Tuấn), Nườn là người đến nhận nhận ma túy và giao tiền; bán 0,276gam ma túy Methamphetamine cho Vũ Văn Xô với giá 1.000.000 đồng nhưng chưa thu được tiền, số ma túy này Xô nhờ Nườn cầm về hộ: Thùy còn tàng trữ tại chỗ ở 4,883 gam ma túy Methamphetamine nhằm mục đích để bán. Ngoài ra bị cáo còn cho Nguyễn Văn Ba 0,053 gam ma túy Methamphetamine để Ba sử dụng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger