Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU PHÚ

TỈNH AN GIANG

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 21 tháng 02 năm 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Bờ - ông Đoàn Văn Hiển.

Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Triệu Nhựt Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:

1. Trần Thế T, sinh năm 1999; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn O và bà Lê Thị Cà T1; bị cáo có vợ tên Huỳnh Thị Tú T2 và chưa có con;

Tiền án: 02 lần. Lần 1: Ngày 24/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang xử phạt 05 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản, Hiếp dâm”, đến ngày 22/01/2020 chấp hành xong hình phạt tù. Lần 2: Ngày 31/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 04 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 23/02/2024 chấp hành xong hình phạt tù.

Tiền sự: Không; nhân thân: Chưa phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

2. Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1993; nơi sinh: Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã T, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh L và bà Nguyễn Thị T4; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 16/5/2014, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 26/9/2014 chấp hành xong hình phạt tù;

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Văn T5, sinh năm 2002; nơi sinh: Huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật giáo H; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D và bà Hồ Thị Mỹ N; bị cáo có vợ tên Hồ Thị Hồng T6 và có 02 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Chưa phát hiện hành vi vi phạm pháp luật nào khác; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/9/2024 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Lê Pháp L1, sinh năm 1980; nơi cư trú: Tổ H, ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Minh K, sinh năm 2003; nơi cư trú: Ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang (vắng mặt)

- Người làm chứng được triệu tập đến phiên tòa: Đoàn Văn Ứ (vắng mặt), Nguyễn Thị Mỹ T7 (vắng mặt), Dương Văn T8 (vắng mặt), Phạm Văn B (vắng mặt), Nguyễn Văn  (vắng mặt), Huỳnh Văn T9 (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Thế T và Nguyễn Thanh T3 đến nhà của Nguyễn Văn T5 chơi. Tại đây, T, T3 và T5 rủ nhau đi tìm tài sản trộm bán lấy tiền chia nhau tiêu xài thì tất cả đồng ý. Để thực hiện T5, T chuẩn bị một số dụng cụ như: Vít, kiềm, cưa, kéo, dao, đoản, chìa khóa, băng keo đựng trong giỏ xách.

Khoảng 00 giờ ngày 25/9/2024, T điều khiển xe mô tô biển số 67L1-236.86 chở T5 mang theo giỏ xách, T3 điều khiển xe mô tô biển số 67C1-093.44 (xe do Tân mượn của Phạm Minh K) đến khu vực tổ B, ấp B, xã B, huyện C thì phát hiện trại chứa vật tư nông nghiệp của anh Lê Pháp L1 không người trông giữ, nên tất cả dừng xe lại. T5 đứng bên ngoài cảnh giới còn T và T3 xuống xe dùng kéo cắt ổ khóa dây rồi đi vào bên trong trại. T3 dùng kiềm tháo hai đầu nối mô tơ điện hiệu TAIFU 3HP, còn T lấy 01 bình xịt thuốc hiệu MISU TL26 mang ra ngoài, để bình xịt thuốc và mô tơ lên xe T5 điều khiển chở T3 ngồi sau ôm, T thì điều khiển xe một mình. Nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, lực lượng Công an xã B phối hợp Công an xã B đến nơi phát hiện T, T3 và T5 đang điều khiển xe chở mô tơ, bình xịt trên đường, nên tiến hành dừng phương tiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T5, T3 và thu giữ vật chứng. Riêng T lẫn trốn, đến 20 giờ cùng ngày T đến Công an huyện C đầu thú.

Sau khi sự việc xảy ra bị hại Lê Pháp L1 đã nhận lại 01 mô tơ điện và yêu cầu các bị cáo bồi thường 01 khóa dây và 01 máy xịt thuốc động cơ xăng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 và số 40/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, kết luận:

- 01 (một) motor điện bơm nước hiệu TAIFU 3HP, made in TAIWAN màu xanh, trị giá 3.700.000 đồng.

- 01 (một) máy xịt thuốc động cơ xăng, hiệu MITSU TL26, trị giá 1.000.000 đồng.

Tổng trị giá: 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

- 01 (một) khóa dây trị giá 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng).

Vật chứng, tài sản, giấy tờ thu giữ trong vụ án gồm:

- 01 (một) xe mô tô biển số 67L1-236.86 (đã chuyển giao cho Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp theo biên bản ngày 06/12/2024)

- 01 (một) mô tơ điện bơm nước hiệu TAIFU 3HP, made in TAIWAN màu xanh (đã trao trả cho bị hại Lê Pháp L1 theo biên bản ngày 04/12/2024)

- 01 (một) biển số xe 67L1-236.86; 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu SAVANT màu đỏ-đen, biển số 67C1-093.44; 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 009617; 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh-đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi HyperOS màu đen; 01 (một) giấy căn cước công dân tên Trần Thế T; 01 (một) cái giỏ xách (nhiều màu); 01 (một) vít thử điện; 01 (một) vít vặn hai đầu (dẹp và bake); 01 (một) dao cắt giấy, nẹp mủ màu đỏ; 02 (hai) cây ống điếu 10mm; 01 (một) cây ống điếu 13mm; 01 (một) cây chìa khóa 12; 01 (một) cây chìa khóa 13; 01 (một) cây chìa khóa 14; 01 (một) cây chìa khóa đầu 14 và đầu 15; 01 (một) cây chìa khóa đầu 27 và đầu 30; 02 (hai) cây kiềm; 01 (một) cây lục giác; 01 (một) cây cưa sắt; 01 (một) cuồn băng keo trong cỡ lớn; 03 (ba) sợi dây thun buộc gàng; 01 (một) cái túi xách đeo chéo màu đen; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) cây dao tự chế dài 35cm, cán màu đen; 01 (một) cây dao tự chế dài 17 cm, cán dài 12cm bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo đen loại nhỏ; 02 (hai) cây chìa khóa một đầu vặn; 01 (một) cây chìa kiềm cộng lực; 01 (một) cây vít dẹp bị bẻ cong mũi; 01 (một) cây đèn pin đội đầu màu rằn ri LK-621.

Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:

- Bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

- Bị hại Lê Pháp L1 trình bày phù hợp với nội dung của vụ án. Yêu cầu các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Văn T5 có trách nhiệm liên đới bồi thường 01 khóa dây (trị giá 100.000 đồng) và 01 máy xịt thuốc động cơ xăng (giá trị 1.000.000 đồng).

- Người có quyền lợi liên quan Phạm Minh K khai phù hợp nội dung vụ án. K cho bị cáo Tân mượn xe mô tô biển số 67C1-093.44 nhưng không biết T3 sử dụng để làm phương tiện phạm tội, xin nhận lại xe.

- Người làm chứng Đoàn Văn Ứ, Nguyễn Thị Mỹ T7, Dương Văn T8, Phạm Văn B, Nguyễn Văn Â, Huỳnh Văn T9 khai phù hợp nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số: 06/CT-VKSCP ngày 08 tháng 01 năm 2025: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Trần Thế T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Các bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo là đúng, các bị cáo nhận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt. Về bồi thường thiệt hại, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại Lê Pháp L1 số tiền 1.100.000 đồng, tiền này là của các bị cáo.

Bị hại Lê Pháp L1 trình bày phù hợp lời khai của mình trong giai đoạn điều tra, truy tố. Ông L1 đã nhận số tiền bồi thường 1.100.000 đồng của các bị cáo nên không yêu cầu gì thêm. Ông L1 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo T, T3 và T5.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa: Giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân các bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 53, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Thế T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T3 từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5 từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo T, T3 và T5.

- Về xử lý vật chứng:

+ Đề nghị trả lại cho Phạm Minh K 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu SAVANT màu đỏ-đen, biển số 67C1-093.44 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 009617;

+ Đề nghị trả lại cho bị cáo Trần Thế T 01 (một) căn cước công dân;

+ Đề nghị tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh-đen; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi HyperOS màu đen;

+ Đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) biển số xe 67L1-236.86; 01 (một) cái giỏ xách (nhiều màu); 01 (một) vít thử điện; 01 (một) vít vặn hai đầu (dẹp và bake); 01 (một) dao cắt giấy, nẹp mủ màu đỏ; 02 (hai) cây ống điếu 10mm; 01 (một) cây ống điếu 13mm; 01 (một) cây chìa khóa 12; 01 (một) cây chìa khóa 13; 01 (một) cây chìa khóa 14; 01 (một) cây chìa khóa đầu 14 và đầu 15; 01 (một) cây chìa khóa đầu 27 và đầu 30; 02 (hai) cây kiềm; 01 (một) cây lục giác; 01 (một) cây cưa sắt; 01 (một) cuồn băng keo trong cỡ lớn; 03 (ba) sợi dây thun buộc gàng; 01 (một) cái túi xách đeo chéo màu đen; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) cây dao tự chế dài 35cm, cán màu đen; 01 (một) cây dao tự chế dài 17 cm, cán dài 12cm bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo đen loại nhỏ; 02 (hai) cây chìa khóa một đầu vặn; 01 (một) cây chìa kiềm cộng lực; 01 (một) cây vít dẹp bị bẻ cong mũi; 01 (một) cây đèn pin đội đầu màu rằn ri LK-621.

- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

- Về án phí: Giải quyết theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang và Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 25/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Bản kết luận định giá tài sản số 33/KL-HĐĐGTS ngày 30/9/2024 và số 40/KL-HĐĐGTS ngày 26/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, và các vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 25/9/2024 các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 đã có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của Lê Pháp L1 gồm 01 (một) motor điện bơm nước hiệu TAIFU 3HP, made in TAIWAN và 01 (một) máy xịt thuốc động cơ xăng, hiệu MITSU TL26, có tổng trị giá: 4.700.000 đồng (Bốn triệu bảy trăm nghìn đồng).

[2.2] Xét thấy, các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Riêng đối với bị cáo Trần Thế T phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Thế T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[2.3] Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân các bị cáo nhận thấy: Các bị cáo T, T3 và T5 là người có sức khỏe để lao động nhưng vì lòng tham, muốn có tiền tiêu xài mà không phải mất sức lao động nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Các bị cáo có chuẩn bị trước công cụ, phương tiện và lợi dụng đêm khuya, tài sản không người trông coi để dễ dàng đột nhập, lấy trộm tài sản. Bản thân bị cáo T và bị cáo T3 từng bị xử phạt tù về tội trộm cắp tài sản, nhưng các bị cáo không tự cải thiện bản thân mà tiếp tục phạm tội. Từ đó cho thấy thái độ xem thường pháp luật của các bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng để răn đe, giáo dục đối với các bị cáo và phòng ngừa chung, đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật.

Các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó: T và T3 là người thực hành, trực tiếp đột nhập lấy trộm tài sản; T3 là người lấy công cụ mang theo, trực tiếp cắt khóa dây và lấy mô tơ điện; T là người lấy bình xịt thuốc. T5 là người giúp sức, đã rủ T và T3 đi trộm tài sản, bên ngoài cảnh giới cho T, T3 vào lấy trộm tài sản và di chuyển tài sản đi nơi khác. Về nhân thân của T và T3 có nhân thân xấu. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt của T phải cao hơn của T3 và T5. Mức hình phạt của T3 phải cao hơn của T5 là phù hợp.

[2.4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo T tự nguyện đầu thú. Riêng bị cáo Trọng phạm T10 lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo T, T3 và T5 quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Riêng T5 còn được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.

[2.5] Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với các bị cáo.

[3] Về biện pháp tư pháp:

[3.1] Đối với 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu SAVANT màu đỏ-đen, biển số 67C1-093.44 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 009617, do bị cáo Nguyễn Thanh T3 mượn của Phạm Minh K. Xét thấy, K không biết bị cáo Tân mượn xe này để đi trộm cắp tài sản; giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Đoàn Văn Ứ nhưng Ứ khai đã bán xe vào năm 2016 và không tranh chấp về quyền sở hữu xe. Do đó, cần giao trả xe này kèm giấy chứng nhận đăng ký xe cho Phạm Minh K tiếp tục quản lý, sử dụng. Trường hợp có tranh chấp về quyền sở hữu đối vớ xe này thì giải quyết theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

[3.2] Đối với 01 (một) căn cước công dân mang tên Trần Thế T. Xét thấy, đây là giấy tờ tùy thân nên cần giao trả lại cho bị cáo T.

[3.3] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh-đen, có gắn sim số 0354858272 của bị cáo Nguyễn Thanh T3; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi HyperOS màu đen, có gắn sim số 0919575129 của bị cáo Trần Thế T. Xét thấy, T3 và T đã sử dụng các điện thoại này để làm phương tiện liên lạc khi đi trộm cắp tài sản, hiện còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

[3.4] Đối với 01 (một) biển số xe 67L1-236.86, là của ông Phạm Văn B đã bị mất, ông B đã làm thủ tục cấp lại biển số xe mới nên biển số xe này không còn giá trị sử dụng, không cần thiết trả lại cho ông B mà cần tịch thu tiêu hủy.

[3.5] Đối với 01 (một) xe mô tô biển số 67L1-236.86 do Trần Thế T điều khiển đi trộm tài sản, thực chất là xe mô tô mang biển số 59P2-208.92. Xe này đang được Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp điều tra trong vụ án khác nên Cơ quan điều tra Công an huyện C đã chuyển giao xe này cho Công an huyện T, tỉnh Đồng Tháp để điều tra, xử lý là phù hợp.

[3.6] Đối với các vật chứng gồm: 01 (một) cái giỏ xách (nhiều màu); 01 (một) vít thử điện; 01 (một) vít vặn hai đầu (dẹp và bake); 01 (một) dao cắt giấy, nẹp mủ màu đỏ; 02 (hai) cây ống điếu 10mm; 01 (một) cây ống điếu 13mm; 01 (một) cây chìa khóa 12; 01 (một) cây chìa khóa 13; 01 (một) cây chìa khóa 14; 01 (một) cây chìa khóa đầu 14 và đầu 15; 01 (một) cây chìa khóa đầu 27 và đầu 30; 02 (hai) cây kiềm; 01 (một) cây lục giác; 01 (một) cây cưa sắt; 01 (một) cuồn băng keo trong cỡ lớn; 03 (ba) sợi dây thun buộc gàng; 01 (một) cái túi xách đeo chéo màu đen; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) cây dao tự chế dài 35cm, cán màu đen; 01 (một) cây dao tự chế dài 17 cm, cán dài 12cm bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo đen loại nhỏ; 02 (hai) cây chìa khóa một đầu vặn; 01 (một) cây chìa kiềm cộng lực; 01 (một) cây vít dẹp bị bẻ cong mũi; 01 (một) cây đèn pin đội đầu màu rằn ri LK-621. Đây là những công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, riêng dao tự chế là hung khí nguy hiểm, các vật này không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

[3.7] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[4] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 53, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Thế T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trần Thế T: 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 25 (hai mươi lăm) tháng 9 (chín) năm 2024 (hai không hai bốn).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Thế T.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T3 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T3: 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 25 (hai mươi lăm) tháng 9 (chín) năm 2024 (hai không hai bốn).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thanh T3.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 17, Điều 38, các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn Trọng phạm T10 “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T5: 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính kể từ ngày 25 (hai mươi lăm) tháng 9 (chín) năm 2024 (hai không hai bốn).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn T5.

Căn cứ vào Điều 46, điểm a, c khoản 1 và khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Về xử lý vật chứng:

- Trả lại cho bị cáo Trần Thế T 01 (một) giấy căn cước công dân mang tên Trần Thế T;

- Trả lại cho Phạm Minh K 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu SAVANT màu đỏ-đen, biển số 67C1-093.44 và 01 (một) giấy chứng nhận đăng ký xe số 009617;

- Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước đối với: 01 (một) điện thoại di động hiệu Masstel màu xanh-đen, có gắn sim số 0354858272; 01 (một) điện thoại di động hiệu Xiaomi HyperOS màu vàng-đen (loại đồng hồ thông minh, đã qua sử dụng), có gắn sim số 0919575129;

- Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 (một) biển số xe 67L1-236.86; 01 (một) cái giỏ xách (nhiều màu); 01 (một) vít thử điện; 01 (một) vít vặn hai đầu (dẹp và bake); 01 (một) dao cắt giấy, nẹp mủ màu đỏ; 02 (hai) cây ống điếu 10mm; 01 (một) cây ống điếu 13mm; 01 (một) cây chìa khóa 12; 01 (một) cây chìa khóa 13; 01 (một) cây chìa khóa 14; 01 (một) cây chìa khóa đầu 14 và đầu 15; 01 (một) cây chìa khóa đầu 27 và đầu 30; 02 (hai) cây kiềm; 01 (một) cây lục giác; 01 (một) cây cưa sắt; 01 (một) cuồn băng keo trong cỡ lớn; 03 (ba) sợi dây thun buộc gàng; 01 (một) cái túi xách đeo chéo màu đen; 01 (một) cây kiềm; 01 (một) cây dao tự chế dài 35cm, cán màu đen; 01 (một) cây dao tự chế dài 17 cm, cán dài 12cm bằng kim loại; 02 (hai) cuộn băng keo đen loại nhỏ; 02 (hai) cây chìa khóa một đầu vặn; 01 (một) cây chìa kiềm cộng lực; 01 (một) cây vít dẹp bị bẻ cong mũi; 01 (một) cây đèn pin đội đầu màu rằn ri LK-621.

- Tất cả vật chứng, tài sản, giấy tờ nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20 tháng 02 năm 2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh An Giang và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong, bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Q;

- Về án phí: Các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3 và Nguyễn Văn T5 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Trần Thế T, Nguyễn Thanh T3, Nguyễn Văn T5 và bị hại Lê Pháp L1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại, đương sự;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Châu Phú;
  • - CQCSĐT - CA.H.Châu Phú;
  • - Chi cục THADS H.Châu Phú;
  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh AG;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh AG;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu: VT (1).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Duy Linh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt tù
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger