Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MỎ CÀY BẮC

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 03/04/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Thanh Minh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Bảy
  2. Ông Kiều Công Trường

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Nguyệt – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Thạch Thiện – Kiểm sát viên.

Trong ngày 03 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn D, sinh năm 1975. Tên gọi khác: không có. Nơi cư trú: Ấp V, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: kinh doanh chỉ xơ dừa; Trình độ học vấn: lớp 07/12; Giới tính: nam; Dân tộc: kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1952 và bà Nguyễn Thị T (chết). Vợ là: Dương Thị Bích T1, sinh năm 1979. Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 13/11/2009 bị Tòa án nhân dân huyện Mỏ Cày Nam xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 41/2009/HSST (đã chấp hành xong thời gian thử thách).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/12/2024 đến nay.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại tòa.

Đại diện hợp pháp của bị hại Võ Văn T2: Bà Trần Thị T3, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp A, xã T, huyện M, tỉnh Bến Tre. (có mặt)

Người làm chứng: Ngô Hoàng T4, sinh năm 1995; (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp T, xã K, huyện M, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 27/5/2024, anh Võ Văn T2, sinh năm 1974, cư trú: ấp A, xã T, huyện M và anh Ngô Hoàng T4, sinh năm 1995, cư trú: ấp T, xã K, huyện M làm cho H kinh doanh Nguyễn D do Nguyễn Văn D (không có hợp đồng lao động) vận hành băng chuyền mụn dừa, chỉ xơ dừa từ dưới đất lên cao trong khu vực sản xuất của cơ sở của D. Để vận hành băng chuyền, D cho kết nối mô tơ băng chuyền với nguồn điện bằng 01 đoạn dây điện dài 23,5m (loại ruột có 03 sợi) được bỏ nằm trên nền xi măng và bị hỡ lõi kim loại bên trong tại vị trí anh T2 đứng làm việc. Đến khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, trong lúc đang làm việc anh T2 dẫm chân đạp trúng vị trí dây điện bị hở lõi kim loại nên bị giật té ngã vào băng chuyền. D và anh T4 liền ngắt nguồn điện và sơ cứu nhưng anh T2 đã tử vong. Thời điểm khám nghiệm hiện trường, dòng điện áp đo được tại vị trí bị hở lõi kim loại là 404,11V.

* Vật chứng: 01 đoạn dây điện hiệu Fadaco, dây bọc P1, chiều dày vỏ 0,8mm, chất liệu lõi đồng, tiết diện lõi Fa tròn (03x2,5)mm, loại ba pha, dài 23,5 mét, có vỏ ngoài màu xám, lõi gồm 03 sợi dây điện màu vàng, xanh, đỏ, loại 01 cm, trên đoạn dây có nhiều vết bong tróc vỏ màu xám lộ 03 lõi bên trong, ruột bên trong bị xoắn, trên đoạn dây cách đầu dây điện kết nối vào mô tơ 5,1 mét có quấn 01 lớp băng keo dài 05 cm, vị trí phần đầu băng keo lớp vỏ cách điện bị bong tróc hở dài (0,5x0,4) cm nhìn thấy phần kim loại của dây dẫn điện.

* Kết luận giám định tử thi số 50/KLGĐTT-KTHS ngày 27/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Nạn nhân Võ Văn T2 chết do điện giật.

* Công văn số 263/BC-ĐLMCB ngày 15/7/2024 của Điện lực huyện M xác định:

  1. Theo Hợp đồng kinh tế mua bán điện số 08/000060 ngày 02/3/2008 được ký kết giữa Chi nhánh Đ – Điện lực B1 (Bên bán điện) và H kinh doanh cá thể Huỳnh Văn T5 tại khoản 13 của Phụ lục I: Ranh giới sở hữu tài sản công trình cấp điện cho bên mua điện: Các thiết bị điện từ hệ thống đo đếm điện năng trở ra lưới điện quốc gia là tài sản của bên bán điện.

Trong quá trình sử dụng điện thì H kinh doanh cá thể Huỳnh Văn T5 và H kinh doanh chỉ xơ dừa Nguyễn D tự ý thỏa thuận trao đổi quyền sử dụng điện, không thông báo đến Điện lực Mỏ Cày B để sang tên trên Hợp đồng mua bán điện (đính kèm Hợp đồng mua bán điện).

  1. Hộ kinh doanh chỉ xơ dừa Nguyễn D đã vi phạm về an toàn sử dụng điện theo Điều 57 Luật Điện lực ở phía sau điện kế (công tơ điện) thuộc quyền quản lý của khách hàng: để dây điện nằm dưới đất tại thời điểm xảy ra tai nạn.
  2. Nguồn điện tại cơ sở sản xuất của D (phía sau điện kế): Sử dụng nguồn điện 03 pha. Motor vận hành băng chuyền sử dụng nguồn điện 03 pha do motor đã vận hành lâu năm nên đã mất mạc nhãn hiệu chủng loại của motor nên không xác định được chính xác công suất của motor. Motor sử dụng nguồn điện trực tiếp không có qua bộ chuyển đổi nguồn điện.

Do đó, vi phạm về an toàn sử dụng điện để xảy ra tai nạn tại sự việc trên là trách nhiệm của khách hàng Hộ kinh doanh chỉ xơ dừa Nguyễn D, không thuộc trách nhiệm của Điện lực Mỏ Cày B.

* Kết luận giám định số 4680/KL-KTHS ngày 22/8/2024 của Phân Viện Khoa học hình sự Bộ C kết luận:

- Đoạn dây dẫn điện gửi giám định không đảm bảo an toàn kỹ thuật điện, trên đoạn dấy phát hiện 01 vị trí bị rách lớp vỏ cách điện lộ lõi kim loại bên trong (cách đầu dây không có chuôi cắm 5,1m). Khi cấp nguồn điện 380V (AC) vào dây, điện áp rò trực tiếp tại vị trí vết rách lớp vỏ cách điện đo được là 380V (AC).

- Điện áp 380V (AC) gây nguy hiểm cho người, khi người tiếp xúc trực tiếp với điện áp này sẽ bị giật và có khả năng dẫn đến tử vong.

* Công văn số 4316/SLĐTBXH-TTr ngày 08/10/2024 của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh B về kết quả giám định: Nguyễn Văn D là người sử dụng lao động; phải có trách nhiệm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc cho người lao động. Tuy nhiên, D đã lắp đường dây điện thả trên mặt nền nhà xưởng, nơi làm việc của người lao động mà không có các biện pháp bảo vệ tránh tác động gây hư hỏng dây điện để dây điện bị dập vỏ hở lõi kim loại. D thiếu kiểm tra giám sát không phát hiện đường dây điện bị hư hỏng để khắc phục kịp thời; từ đó người lao động trong quá trình làm việc đã dẫm chân trúng nơi bị hở lõi kim loại của dây dẫn điện và bị điện giật tử vong. Do đó, D vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Điều 7, Điều 16, Điều 18, Điều 80 Luật An toàn, vệ sinh lao động và Điều 57 Luật Điện lực dẫn đến hậu quả làm anh Võ Văn T2 tử vong.

Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị T3 số tiền là 98.698.000 đồng.

Quá trình điều tra, lời khai của Nguyễn Văn D phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

Tại Cáo trạng số: 10/CT-VKSMCB ngày 03/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quan điểm cáo trạng đã truy tố và đề nghị:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Văn D từ 40.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.

Đại diện gia đình bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo và áp dụng hình phạt chính bằng phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị:

Tịch thu tiêu huỷ 01 đoạn dây điện hiệu Fadaco, dây bọc P1, chiều dày vỏ 0,8mm, chất liệu lõi đồng, tiết diện lõi Fa tròn (03x2,5)mm, loại ba pha, dài 23,5 mét, có vỏ ngoài màu xám, lõi gồm 03 sợi dây điện màu vàng, xanh, đỏ, loại 01 cm, trên đoạn dây có nhiều vết bong tróc vỏ màu xám lộ 03 lõi bên trong, ruột bên trong bị xoắn, trên đoạn dây cách đầu dây điện kết nối vào mô tơ 5,1 mét có quấn 01 lớp băng keo dài 05 cm, vị trí phần đầu băng keo lớp vỏ cách điện bị bong tróc hở dài (0,5x0,4) cm nhìn thấy phần kim loại của dây dẫn điện.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị T3 số tiền là 98.698.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại không còn có yêu cầu gì về dân sự, nên đề nghị Tòa ghi nhận.

Tại Tòa bị cáo Nguyễn Văn D khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật nên không có ý kiến tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát nhưng có yêu cầu xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị T3 trình bày: Bị cáo Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại số tiền là 98.698.000 đồng; nay chị không còn có yêu cầu gì về dân sự và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn D không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn D thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo; lời khai nhận tội của bị cáo là hoàn toàn phù hợp với lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với lời khai của người đại diện hợp pháp cho bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn D là chủ hộ kinh doanh chỉ xơ dừa Nguyễn D do không tổ chức huấn luyện an toàn lao động, trang cấp các dụng cụ bảo hộ lao động cho người lao động, thực hiện các biện pháp bảo đảm an toàn trong quá trình lao động nên khoảng 07 giờ 30 phút ngày 27/5/2024 tại ấp V, xã K, huyện M, anh Võ Văn T2 trong lúc đang vận hành băng chuyền cho mụn dừa từ dưới đất lên cao trong cơ sở sản xuất của Nguyễn Văn D thì chân đạp trúng vị trí dây điện hở lõi kim loại (dòng điện áp 404,11V) bị điện giật dẫn đến tử vong. Hành vi của Nguyễn Văn D đã vi phạm quy định về an toàn, vệ sinh lao động theo quy định tại Điều 7, Điều 16, Điều 18, Điều 80 Luật An toàn, vệ sinh lao động và Điều 57 Luật Điện lực.

Vì vậy, bản Cáo trạng số: 10/CT-VKS, ngày 03/03/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỏ Cày Bắc truy tố bị cáo Nguyễn Văn D về tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Điều 295 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định:

“Tội vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người:

1. Người nào vi phạm quy định về an toàn lao động, vệ sinh lao động, về an toàn ở nơi đông người gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người

[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn D là nguy hiểm cho xã hội do bị cáo thực hiện không đầy đủ, không đúng quy trình quy định về an toàn lao động nên đã gây ra hậu quả là làm chết người xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, làm ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội và gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân. Hơn nữa, đã để lại hậu quả nặng nề, gây mất mát đau thương cho gia đình nạn nhân mà không gì bù đắp được. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải gánh chịu trách nhiệm hình sự đối với hậu quả do hành vi của bị cáo đã trực tiếp gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng mức án tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét một cách toàn diện về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn D không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu cho gia đình bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đại diện hợp pháp của bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[7] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Nguyễn Văn D có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đồng thời xét thấy bị cáo Nguyễn Văn D có nơi cư trú rõ ràng, ổn định có khả năng kinh tế. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy bị cáo có đủ các điều kiện áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội, nhưng để có thời gian cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng cần áp dụng hình chính bằng tiền đối với bị cáo.

Xét thấy sau khi vi phạm, bị cáo luôn tỏ rõ sự ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, kịp thời khắc phục thiệt hại về vật chất và tinh thần cho gia đình bị hại và được gia đình bị hại có đơn yêu cầu đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; Và đã áp dụng hình phạt chính bằng tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ 01 đoạn dây điện hiệu Fadaco, dây bọc P1, chiều dày vỏ 0,8mm, chất liệu lõi đồng, tiết diện lõi Fa tròn (03x2,5)mm, loại ba pha, dài 23,5 mét, có vỏ ngoài màu xám, lõi gồm 03 sợi dây điện màu vàng, xanh, đỏ, loại 01 cm, trên đoạn dây có nhiều vết bong tróc vỏ màu xám lộ 03 lõi bên trong, ruột bên trong bị xoắn, trên đoạn dây cách đầu dây điện kết nối vào mô tơ 5,1 mét có quấn 01 lớp băng keo dài 05 cm, vị trí phần đầu băng keo lớp vỏ cách điện bị bong tróc hở dài (0,5x0,4) cm nhìn thấy phần kim loại của dây dẫn điện.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị T3 số tiền là 98.698.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại không còn có yêu cầu gì về dân sự, nên Tòa ghi nhận.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[11]Về án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1]. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 295; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Văn D phạm tội “Vi phạm quy định về an toàn lao động”

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn D 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng)

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định đối với bị cáo.

[2]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:

Tịch thu tiêu huỷ 01 đoạn dây điện hiệu Fadaco, dây bọc P1, chiều dày vỏ 0,8mm, chất liệu lõi đồng, tiết diện lõi Fa tròn (03x2,5)mm, loại ba pha, dài 23,5 mét, có vỏ ngoài màu xám, lõi gồm 03 sợi dây điện màu vàng, xanh, đỏ, loại 01 cm, trên đoạn dây có nhiều vết bong tróc vỏ màu xám lộ 03 lõi bên trong, ruột bên trong bị xoắn, trên đoạn dây cách đầu dây điện kết nối vào mô tơ 5,1 mét có quấn 01 lớp băng keo dài 05 cm, vị trí phần đầu băng keo lớp vỏ cách điện bị bong tróc hở dài (0,5x0,4) cm nhìn thấy phần kim loại của dây dẫn điện.

Vật chứng này hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre tạm giữ theo Biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 11/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện M, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mỏ Cày Bắc, tỉnh Bến Tre.

[3]. Về trách nhiệm dân sự: Nguyễn Văn D đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho đại diện hợp pháp của bị hại là chị Trần Thị T3 số tiền là 98.698.000 đồng và đại diện hợp pháp của bị hại không còn có yêu cầu gì về dân sự, nên Tòa ghi nhận.

[4]. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí của Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn D phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[5]. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm bị cáo, người đại diện hợp pháp cho bị hại được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre;
  • - Chi cục THADS huyện Mỏ Cày Bắc;
  • - Bộ phận HSNV Công an tỉnh Bến Tre;
  • - Bị cáo;
  • - Người đại diện hợp pháp của bị hại;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Cao Thanh Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE về vi phạm quy định về an toàn lao động

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về an toàn lao động
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỎ CÀY BẮC, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn D phạm tội vi phạm quy định về an toàn lao động
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger