|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số 09/2025/HS-ST Ngày 01/4/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Xuân Hải.
- Các Hội thẩm nhân dân: ông Mai Văn Ánh và bà Trần Thị Thu Huyền.
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Ngọc Thúy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Huân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 04 năm 2025, tại Hội trường Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 03 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 03 năm 2025 đối với bị cáo:
- Nguyễn Công N, sinh ngày 01/02/2007; nơi cư trú: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; số căn cước công dân: [...], cấp ngày 10/5/2021, nơi cấp Cục cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; con ông Nguyễn Công Đ, sinh năm 1973 và bà Võ Thị Kim Y, sinh năm 1984, đều trú tại: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ con: chưa có.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” - Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Trần Xuân M, sinh năm 1987; nơi cư trú: chung cư X, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định - Vắng mặt.
+ Ông Đặng Hoàng T, sinh năm 1993; nơi cư trú: số G, đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua tìm hiểu trên mạng xã hội Nguyễn Công N, sinh ngày 01/02/2007; trú tại: thôn Q, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị, biết có nhiều người thiết lập ra website có tính năng thu thập thông tin, dữ liệu để chiếm quyền sử dụng tài khoản Facebook của người khác nên đã nảy sinh ý định tạo ra một website có tính năng tương tự như trên để đánh cắp tài khoản Facebook của người khác nhằm lừa đảo chiếm đoạt tài sản. N liên hệ với với một
người không rõ lai lịch, địa chỉ trên mạng xã hội, mua tài khoản W.com với tên tài khoản đăng nhập longmongga001@hotmail.com, mật khẩu 01012001alo, có sẵn đường link giionghattvietnhii.weebly.com. Sau khi có được website này, N đã gửi địa chỉ website này cho người khác và đề nghị họ truy cập vào website trên để “bình chọn” giúp. Khi người khác tin tưởng và truy cập vào website trên để bình chọn thì website sẽ yêu cầu nhập toàn bộ thông tin tài khoản Facebook của mình để có thể “bình chọn”. Nếu người dùng nhập thông tin tài khoản Facebook vào các ô trống theo hướng dẫn và nhấn “đăng nhập” thì toàn bộ thông tin, dữ liệu sẽ được gửi về tài khoản tại website "weebly.com" do N quản lý. N sử dụng dữ liệu thu thập được truy cập vào tài khoản Facebook của người đó sau đó đăng nhập, thay đổi mật khẩu rồi chiếm đoạt các Faebook này. Sau khi chiếm đoạt được các tài khoản Facebook, N truy cập vào danh bạ trên ứng dụng Messenger nhắn tin để mượn tiền. Đồng thời N sử dụng tài khoản Telegram có tên “Con tắc kè” có usernam "mtpsontuong”, số điện thoại 0796.947.xxx tìm người có tài khoản “Jun Hype”, có uername “@junkerhype” hỏi mua được tài khoản ngân hàng V số [...], mang tên Nguyễn Hồng T1 (tài khoản đăng nhập 0523978466, mật khẩu zdjf9bUy, theo người bán nói tài khoản này chỉ sử dụng được trong ngày) để thực hiện việc giao dịch tiền mà mình chiếm đoạt được. Ngày 25/3/2024, sau khi chiếm đoạt được tài khoản Facebook “Nguyễn T1” của anh Nguyễn Hồng T1, sinh ngày 09/4/1993, trú tại số F đường C, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định, N truy cập vào ứng dụng Facebook Messenger nhắn tin đến Facebook có tên “Milo Trần” của anh Trần Xuân M, sinh năm 1987, trú tại Chung cư X, phường Q, thành phố Q, tỉnh Bình Định mạo danh anh T1 hỏi mượn số tiền 5.000.000 đồng, nghĩ đó là anh T1 nên anh M đồng ý. N gửi số tài khoản ngân hàng V số [...] mang tên Nguyễn Hồng T1 cho anh M. Anh M sử dụng ngân hàng T4 số 3645080287 chuyển đến số tài khoản ngân hàng trên số tiền 5.000.000 đồng. Nhận được tiền, N tiếp tục nhắn tin “còn tiền không, em còn thiếu 7.000.000 đồng”. Anh M điện thoại cho anh T1 để xác nhận thì được thông báo anh T1 không có mượn tiền và biết mình đã bị lừa nên không chuyển tiền thêm. Đến khoảng 13 giờ 13 phút cùng ngày, N tiếp tục nhắn tin đến tài khoản Facebook “Triều Hoàng” của anh Đặng Hoàng T, sinh năm 1993, trú tại số G, đường T, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định để mượn số tiền 5.000.000 đồng nhưng do anh T chỉ có 2.500.000 đồng nên anh T hỏi 2.500.000 đồng có được không thì N đồng ý và nhắn số tài khoản ngân hàng V số [...] mang tên Nguyễn Hồng T1 cho anh T. Anh T nhờ em trai là anh Đặng Lê Hoàng A sử dụng tài khoản ngân hàng M1 số 1905976789999 của mình chuyển số tiền 2.500.000 đồng đến tài khoản trên. Đến chiều cùng ngày, anh T liên lạc với anh T1 thì biết mình đã bị lừa. Biết đã bị lộ nên N đã chặn liên lạc với Facebook anh T. Sau khi chiếm đoạt được tiền, N liên hệ với tài khoản T2 “Tiểu Vy” và chuyển số tiền 7.500.000 đồng vào tài khoản A1 số 16584681 mang tên Trần Phương N1 nhằm mục đích mua thẻ game để chơi, số tiền này sau đó được chuyển qua các tài khoản ngân hàng TMCP Đ1 (S) số [...] mang tên Nguyễn Gia L, tài khoản Ngân hàngTMCP An Bình số 0511054432073 mang tên Nguyễn Minh L1. Do không mua được thẻ game, tài khoản “Tiểu Vy” đã sử dụng tài khoản ngân hàng A2 số 0511054432073 mang tên Nguyễn Minh L1 chuyển vào tài khoản ngân hàng M2 0804161122007 của N số tiền 6.750.000 đồng sau khi đã trừ đi các chi phí mua hộ thẻ game. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt được, N tiêu xài cá nhân hết. Ngày 28/5/2024, Nguyễn Công N đến Cơ quan Cảnh sát điều tra
Công an huyện T để khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 09/CT-VKSTP ngày 01/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị truy tố Nguyễn Công N về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố Nguyễn Công N phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 36; các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 90; Điều 91; khoản 1, 2 Điều 100 Bộ luật Hình sự xử phạt Nguyễn Công N từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 6 plus; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 promax. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Triệu Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lợi dụng sự lỏng lẻo trong việc bảo mật thông tin trên mạng xã hội của người khác nên vào ngày 23/4/2024, Nguyễn Công N đã thông qua Facebook, messerger để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của các bị hại để kiếm tiền tiêu xài cá nhân, cụ thể: thông qua mạng xã hội, Nguyễn Công N mua tài khoản W.com với tên tài khoản đăng nhập longmongga001@hotmail.com, mật khẩu 01012001alo, có sẵn đường link giionghattvietnhii.weebly.com. Sau khi có được website này, bị cáo đã gửi địa chỉ website này cho người khác và đề nghị họ truy cập vào website trên để “bình chọn” giúp. Khi người khác tin tưởng và truy cập vào website trên để bình chọn thì website sẽ yêu cầu nhập toàn bộ thông tin tài khoản Facebook của mình để có thể “bình chọn”, sau khi người dùng nhập thông tin tài khoản Facebook vào các ô trống theo hướng dẫn và nhấn “đăng nhập” thì toàn bộ thông tin, dữ liệu sẽ được gửi về tài khoản tại website "weebly.com" do bị cáo N quản lý và bị cáo sử dụng dữ liệu thu thập được truy cập vào tài khoản Facebook của người đó sau đó đăng nhập, thay đổi mật khẩu rồi chiếm đoạt các Facebook này. Sau khi chiếm đoạt được các tài khoản Facebook, bị cáo truy cập vào danh bạ trên ứng dụng Messenger nhắn tin để mượn tiền. Với thủ đoạn đó, bị cáo đã thực hiện chiếm đoạt của ông Trần Xuân M có tên F “Milo T3” với số tiền 5.000.000 đồng và của ông Đặng Hoàng T có tên F “Triều H” với số tiền 2.500.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo Nguyễn Công N chiếm đoạt của hai bị hại là 7.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Công N đã xâm phạm vào quyền sở
hữu tài sản của người khác và đã có đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" được quy định xử phạt theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy: bị cáo Nguyễn Công N có tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe để tự lao động nuôi sống bản thân nhưng không chịu khó lao động, lại muốn hưởng thụ, xem thường pháp luật, xem thường việc sở hữu tài sản của người khác mà dẫn đến phạm tội. Hành vi phạm tội của bị cáo không những trực tiếp xâm phạm đến tài sản của người khác mà còn làm ảnh hưởng xấu, gây dư luận không tốt đến việc khai thác sử dụng các trang mạng xã hội đã được Nhà nước cho phép sử dụng. Vì vậy, cần xử lý một cách nghiêm khắc mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm đang có chiều hướng gia tăng trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, khi xem xét quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm b, r và s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ trách hình sự cho bị cáo vì: quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo tỏ thái độ thần khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội của mình tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q và bị cáo đã tự nguyện khắc phục toàn bộ thiệt hại cho các bị hại. Xét tình tiết tăng nặng: trong cùng một ngày 25/3/2024, bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của các bị hại, mỗi lần đều có đủ yếu tố cấu thành tội phạm độc lập nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nhưng khi thực hiện hành vi phạm tội thì không có ai xúi dục hay có thêm đồng phạm khác mà bị cáo chỉ thực hiện hành vi phạm tội một mình và mang tính bột phát, bị cáo phạm tội khi tâm, sinh lý chưa được phát triển hoàn thiện. Do đó, khi xem xét quyết định mức hình phạt cũng như áp dụng loại hình phạt cần áp dụng các Điều 36, Điều 90, Điều 91và Điều 100 Bộ luật hình sự để xem xét quyết định mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp với chính sách xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội.
Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và quá trình nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: tại thời điểm phạm tội bị cáo là người chưa thành niên nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự, giao bị cáo cho gia đình và chính quyền địa phương giám sát giáo dục là thể hiện tính nhân đạo của pháp luật Nhà nước ta khi xử lý về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Công N bị xử phạt cải tạo không giam giữ nên Hội đồng xét xử cần ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” theo lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 05/2025/LCĐKNCT-TA ngày 04/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong đối với bị cáo theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự. Đồng thời ra quyết định tạm hoãn xuất nhập cảnh theo quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2, khoản 3 Điều 124 Bộ luật Tố tụng hình sự. Thời hạn tạm hoãn xuất nhập cảnh kể từ ngày tuyên án cho đến khi chấp hành xong bản án.
[4] Về trách nhiệm dân sự: trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho các bị hại, nay các bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 6 plus, màu trắng, phía mặt trước bị bể, số IMEI:352887076595236, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 promax, màu đen số IMEI: 353890104796229 đã qua sử dụng của bị cáo Nguyễn Công N, Hội đồng xét xử thấy: đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 6 plus, đây là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách nhà nước; đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 promax của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: đây là tài sản thuộc quyền sử dụng của bị cáo, không liên quan đến việc thực hiện hành vi phạm tội nên cần áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định.
[6] Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Công N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Công N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 174; Điều 36; các điểm b, r, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 52; Điều 90; Điều 91 và khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Công N 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của Nguyễn Công N được tính từ ngày Phân trại tạm giam khu vực huyện T nhận được quyết định thi hành án. Giao bị cáo Nguyễn Công N cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị giám sát giáo dục, gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T trong việc giám sát giáo dục bị cáo. Không khấu trừ thu nhập của bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 100 Bộ luật hình sự.
2. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2, điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple iphone 6 plus, màu trắng, phía mặt trước bị bể, số IMEI:352887076595236, đã qua sử dụng.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Công N 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple Iphone 11 promax, màu đen số IMEI: 353890104796229, đã qua sử dụng.
(Các vật chứng nói trên hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị; đặc điểm của vật chứng này được thể hiện theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 28/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Triệu Phong).
3. Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc bị cáo Nguyễn Công N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án trên một cấp để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Riêng các bị hại vắng mặt có quyền này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hải |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRIỆU PHONG, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo chiếm đoạt tiền
