|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ TỈNH HÀ GIANG Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 20 - 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Dương Văn Công.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Khanh.
Bà Nguyễn Hoài Linh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang và điểm cầu thành phần tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2025/TLST-HS ngày 20/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo.
1. Bị cáo: Nguyễn Thế K; sinh năm 1987; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Ngọc Trì, xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; chỗ ở hiện nay: Thôn N, xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Giám đốc Hợp tác xã Hoàng Vũ 666; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T, sinh năm 1958 và con bà Hoàng Thị H, sinh năm 1962; có vợ: Hà Thị K, sinh năm 1990; có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2010, con nhỏ nhất sinh năm 2017; có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxxxxx cấp ngày 10/4/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ Công an; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
2. Bị cáo: Nguyễn Đức C; sinh năm 2001; nơi sinh: Huyện Y, tỉnh Hưng Yên; nơi cư trú: Thôn T, xã Lý T, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn C, sinh năm 1978 (đã chết năm 2015) và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1983; vợ con: Chưa có; có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxxxx cấp ngày 16/8/2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ Công an; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
3. Bị cáo: Nguyễn Thị T; sinh năm 1994; nơi sinh: Huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1954 và con bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1970; có chồng: Trần Quốc H, sinh năm 1992 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2021; có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxxxx cấp ngày 28/6/2022, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ Công an; tạm giữ, tạm giam: Không. Hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế K: Ông Nguyễn Minh Hoàng - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chi cục thuế khu vực VII; người đại diện ông Nguyễn Quang M - Phó đội trưởng đội thuế liên huyện Hà Giang - Bắc Mê (có mặt).
Những người làm chứng: Bà Nông Thị T, sinh năm 1983; ông Thào Đức C, sinh năm 1988; ông Hoàng Văn Đ, sinh năm 1969; ông Lò Văn S, sinh; bà Hà Thị K; bà Nguyễn Thanh T; ông Triệu Văn T, sinh năm 1980; ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; bà Nông Thị T, sinh năm 1989; ông Trương Quang H, sinh năm 1988; bà Hoàng Kim T, sinh năm 1987 (vắng mặt); bà Hà Thị K, sinh năm 1990 (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
- Nguyễn Thế K là Chủ tịch hội đồng quản trị kiêm Giám đốc; người đại diện theo pháp luật của Hợp tác xã Hoàng Vũ 666 hoạt động theo giấy chứng nhận hợp tác xã số 5100491826 do Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Bắc Mê cấp, đăng ký lần đầu ngày 31/5/2022; địa chỉ trụ sở chính: Thôn N, xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang; ngành, nghề đăng ký kinh doanh: Gia công cơ khí, xử lý và tráng phủ kim loại; nhiếp ảnh, In ấn; sửa chữa máy móc thiết bị... gồm có 07 thành viên. Tuy nhiên thực tế Hợp tác xã Hoàng Vũ 666 do Nguyễn Thế K lấy thông tin cá nhân của các thành viên khác đưa vào danh sách thành viên để đủ điều kiện thành lập hợp tác xã với mục đích được ưu đãi vay vốn; các hoạt động của Hợp tác xã đều do một mình Nguyễn Thế K thực hiện không thông qua các thành viên khác, các thành viên khác không tham gia góp vốn và cũng không biết, không tham gia vào quá trình hoạt động, kinh doanh của Hợp tác xã.
Khoảng tháng 7/2022, Nguyễn Thế K biết thông tin Ban quản lý dự án KFW8 các thôn Tả Luồng, thôn Khuổi Nấng thuộc xã Thượng Tân; thôn Nà Cau, thôn Lùng Càng thuộc xã M, huyện Bắc Mê đang có nhu cầu lắp đặt đèn năng lượng mặt trời, camera giám sát và các thiết bị điện dân dụng khác cho các thôn theo chương trình dự án KFW8 (Dự án quản lý rừng bền vững và đa dạng sinh học nhằm giảm phát thải C02 do Chính phủ Cộng hòa Liên bang Đức thông qua Ngân hàng tái thiết Đức tài trợ), nên trực tiếp đến liên hệ với Trưởng ban KFW8 các thôn trên để đặt vấn đề nhận thi công lắp đặt. Sau khi họp thôn, các thôn đồng ý cho Hợp tác xã Hoàng Vũ 666 nhận thi công hệ thống đèn chiếu sáng, lắp đặt hệ thống camera, điện dân dụng... Hợp tác xã Hoàng Vũ 666 có trách nhiệm mua bóng đèn năng lượng mặt trời, cột thép, camera, các nguyên vật liệu liên quan (có hóa đơn GTGT kèm theo) để thi công thành sản phẩm hoàn thiện để lắp đặt đưa vào sử dụng (bao gồm cả nhân công và chi phí lắp đặt).
- Nguyễn Đức C, nghề nghiệp lao động tự do; địa chỉ: Thôn T, xã Lý T, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên, sử dụng tài khoản Zalo của mình số thuê bao 0336.822.823 liên hệ với Kỳ bán sản phẩm. Qua trao đổi, K yêu cầu phải có hóa đơn bán hàng kèm theo thì C trả lời: “Không xuất được hóa đơn” (do C không có đăng ký kinh doanh). K nói: “Bây giờ phải có hóa đơn thì anh mới mua hàng, không thì em giới thiệu người bán hóa đơn cho anh”. Cảnh đồng ý tìm mua hóa đơn cho K giá khoảng 10% trên tổng số giá trị tiền hàng được ghi trên hóa đơn. Thỏa thuận với K xong, C tìm trên mạng Internet phát hiện tài khoản Zalo số thuê bao 0907.511.924 của Nguyễn Thị T có đăng tin bán hóa đơn.
- Nguyễn Thị T, nghề nghiệp lao động tự do; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp. Nguyễn Đức C liên hệ với Nguyễn Thị T qua mạng Zalo thì được Thu đồng ý bán hóa đơn GTGT (hóa đơn điện tử) cho Cảnh giá 3,3% đến 3,5% trên tổng số giá trị tiền hàng được ghi trên hóa đơn. Tuy nhiên Thu không tự xuất được hóa đơn nên T liên hệ với những người không quen biết (không rõ nhân thân, lai lịch) qua tài khoản Zalo điện thoại để mua hóa đơn giá 1% đến 2% trên tổng số giá trị tiền hàng được ghi trên hóa đơn để bán lấy tiền chênh lệch.
Kết quả tra cứu lịch sử giao dịch giữa các số tài khoản ngân hàng do Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T khai sử dụng vào việc thanh toán tiền mua, bán hóa đơn thời gian từ 8/2022 đến tháng 01/2023, số tiền chuyển khoản cho nhau phù hợp với số tiền các bị cáo khai đã giao dịch mua, bán hóa đơn.
Số tiền thực tế Nguyễn Thế K sử dụng mua hóa đơn 19.959.000đ; Nguyễn Đức C chuyển cho Nguyễn Thị T mua hóa đơn 13.252.000đ; trong đó Nguyễn Đức C được hưởng lợi số tiền 6.707.000đ, Nguyễn Thị T được hưởng lợi sau khi trừ chi phí mua hóa đơn từ người bán khoảng 3.000.000đ. Do thời gian đã lâu, Thu mua hóa đơn nhiều người nên không xác định được người xuất hóa đơn và số tài khoản ngân hàng Thu chuyển trả tiền mua hóa đơn.
Trong thời gian từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2023 Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T thực hiện hành vi mua, bán trái phép 26 hóa đơn điện tử đã ghi nội dung, thông tin hàng hoá (trong đó 08 hóa đơn đứng tên người mua là Trưởng ban KFW8 các thôn, 18 hóa đơn đứng tên người mua Hợp tác xã Hoàng Vũ 666). Tổng số tiền ghi trên 26 số hóa đơn GTGT là 410.783.288đ (bốn trăm mười triệu, bảy trăm tám mươi ba nghìn, hai trăm tám mươi tám đồng).
Kỳ sử dụng 18 hóa đơn đứng tên người mua Hợp tác xã Hoàng Vũ 666 để kê khai thuế, cụ thể như sau:
- 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH Thiên Phong Bảo; (địa chỉ: Thôn Tương Chúc, xã Ngũ Hiệp, huyện Thành Trì, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Phan Bá P; thường trú: Xóm T, xã T, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An).
- 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH thương mại và dịch vụ Minh Vương ACC; (địa chỉ: Tầng 6 tòa nhà 136 -138 Kim Ngưu, phường Vĩnh T, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Vũ Ngọc T; thường trú: Thôn Hiệp Sơn, xã Đông Cứu, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh).
- 03 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH thương mại Phỉ T HN (địa chỉ: Tầng 23, Tòa nhà Vinaconex 9, đường Phạm Hùng, phường Mễ Trì, Quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Phạm Ngọc T, sinh năm 1988; thường trú: Ấp 1, xã P, huyện C, tỉnh Đồng Tháp).
- 06 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH thương mại dịch vụ xây dựng và vận chuyển Hoàng Thịnh; (địa chỉ: Tầng 4, số 59A, Đường Lý Thái Tổ, phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Dương Hoàng T, sinh năm 1990, thường trú: 346C Lưu Hữu Phước, phường 15, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh).
- 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH Ngũ Kim Phương T; (địa chỉ: Số 11A Lý Đạo Thành, phường 16, quận 8, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: Trần Thị Phương T; thường trú tại: Thới Hòa A, thị trấn Cờ Đỏ, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ).
- 04 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH dịch vụ và thương mại AÐK; (địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn T; thường trú: Số 19, đường số 24 Bình Phú, phường 11, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh). (trong đó có 02 hoá đơn đã bị Chi cục Thuế huyện B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng không hợp pháp 02 hóa đơn. Tuy nhiên đến nay Chi cục Thuế huyện B đã ra Quyết định huỷ bỏ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói trên để cho Cơ quan tiến hành Tố tụng xử lý, giải quyết toàn diện vụ án).
- 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH thương mại máy móc thiết bị Thiên L; (địa chỉ: Số 17, Phạm Hùng, xã Phước Lộc, huyện Nhà Bè, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Văn Công L; thường trú: Ấp 5, xã T, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang).
- 01 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH TM &XNK Việt Trung; (địa chỉ: Số nhà 163C đường Thanh Bình, phường Mộ Lao, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật Đặng Trung D; thường trú: Tổ dân phố Hạnh, phường Tây Mỗ, quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội).
Kỳ nộp 08 hóa đơn liên quan đến dự án KFW8 các thôn cho Trưởng ban KFW8 các thôn để nhận tiền thi công công trình tổng số tiền 131.516.800đ, cụ thể như sau:
- Nộp cho Ban quản lý dự án KFW8 thôn T, xã T, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 01 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH vật tư thiết bị Cần Vương; (địa chỉ: 118 Đông Hưng Thuận 06, phường Tân Hưng Thuận, quận 12, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Văn Cần; thường trú: Thôn Hà Bắc, xã Ea Wer, huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk).
- Nộp cho Ban quản lý dự án KFW8 thôn K, xã T, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 02 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH vật tư thiết bị Cần Vương.
- Nộp cho Ban quản lý dự án KFW8 thôn L, xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 01 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH thương mại máy móc thiết bị Thiên Lương.
- Nộp cho Ban quản lý dự án KFW8 thôn N, xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang 04 hóa đơn trong đó: 01 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH Thương mại và dịch vụ Minh Vương ACC; 03 Hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty TNHH bán buôn thiết bị và điện tử viễn thông Hạnh Ngân; (địa chỉ: Số 91-93 Đường số 5, phường An Phú, thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam; người đại diện theo pháp luật: Trần Anh T, sinh năm 1990; thường trú tại: Số 88 Lê Quang S, phường 6, quận 6, thành phố Hồ Chí Minh).
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra tại công trình do Nguyễn Thế K thi công tại thôn T, thôn K thuộc xã Thượng T; thôn N, thôn L thuộc xã M, huyện Bắc Mê theo chương trình dự án KFW8 ghi nhận thực tế Kỳ có thi công đầy đủ số hạng mục, số lượng hàng hóa đưa vào sử dụng theo đúng như thỏa thuận. Bà Nông Thị T, ông Thào Đức C, Hoàng Văn Đ, Lò Văn S khai không được K trả cho bất cứ khoản tiền nào liên quan đến các công trình trên.
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh thu thập thông tin về tình trạng hoạt động của 10 công ty đứng tên người bán hàng 26 hóa đơn trên, kết quả ngoài công ty TNHH TM &XNK Việt Trung vẫn còn hoạt động, 09 Công ty còn lại đều không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký. Người đại diện theo pháp luật của các công ty (Hoàng Thịnh, Phỉ Thúy HN, AÐK, Hạnh Ngân, Ngũ Kim Phương Thảo, Việt Trung) đã bỏ đi khỏi địa phương, hiện không biết ở đâu nên không làm việc được. Người đại diện theo pháp luật của các công ty (Thiên Phong Bảo, Thiên Lương, Cần Vương, Minh Vương ACC) đều khai không được đứng ra thành lập công ty, không biết lý do vì sao đứng tên đại diện.
Ngày 16/5/2023, Nguyễn Thế K tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme; số IMEI 1: 868595041081571; IMEI 2: 868595041081563, kèm theo 01 thẻ sim có số 89840810008716287004 là vật K đã sử dụng vào việc trao đổi mua, bán hóa đơn và 04 ảnh chụp quá trình chuyển tiền qua app Agribank Plus cho C. Ngày 06/7/2023, cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại của K phát hiện các tin nhắn giữa K với Cảnh có liên quan đến việc mua, bán hóa đơn.
Ngày 21/8/2023 cơ quan điều tra ra quyết định trưng cầu giám định số 54 yêu cầu Viện khoa học hình sự Bộ Công an khôi phục nội dung tin nhắn trao đổi thông qua tài khoản Zalo cá nhân của Nguyễn Thế K với Nguyễn Đức C đối với chiếc điện thoại trên. Tại bản kết luận số 6219 ngày 11/12/2023 của Viện khoa học hình sự Bộ Công an kết luận: Trong điện thoại gửi giám định tìm thấy 16 tin nhắn Zalo giữa Nguyễn Thế K với Nguyễn Đức C.
Ngày 08/01/2024, Nguyễn Đức C tự nguyện giao nộp 04 ảnh chụp màn hình điện thoại có chứa nội dung tin nhắn trao đổi qua Zalo với K, T để mua, bán hóa đơn.
Tại bản kết luận giám định số 515 ngày 26/12/2024 của Tổ giám định tư pháp Cục thuế tỉnh Hà Giang kết luận:
- Hành vi mua 26 (hai mươi sáu) hóa đơn giá trị gia tăng khống nhằm hợp thực hóa hàng hóa mua vào của ông Nguyễn Thế K là một trong những hành vi bị cấm quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 5, Nghị định số 123/2020/NĐ-CP, ngày 19/10/2020 của Chính phủ quy định về hóa đơn, chứng từ và có dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1, điều 203 Bộ luật hình sự năm 2015.
- Hành vi không ghi sổ kế toán, không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, không kê khai nộp thuế số tiền 131.516.800đ (một trăm ba mươi mốt triệu, năm trăm mười sáu nghìn, tám trăm đồng) của ông Nguyễn Thế K đã cấu thành hành vi “trốn thuế” quy định tại Điều 143, Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14, ngày 13/6/2019; gây thất thu cho ngân sách nhà nước số tiền 6.575.840đ (sáu triệu, năm trăm bảy mươi lăm nghìn, tám trăm bốn mươi đồng).
- Hành vi mua 26 hóa đơn giá trị gia tăng điện tử khống (đã ghi nội dung nhưng không kèm theo hàng hóa) giữa ông Nguyễn Đức C và bà Nguyễn Thị T giao dịch mua bán đã hoàn thành, vi phạm pháp luật về hóa đơn và có dấu hiệu cấu thành tội “Mua bán trái phép hóa đơn” theo quy định tại khoản 1, Điều 203 Bộ luật hình sự.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, có nắp lưng màu trắng kèm theo 01 thẻ sim số 89840810008716287004; 01 thẻ sim điện thoại, nhãn hiệu Mobifone, số 8401.2011.9295.5139.
Tại cáo trạng số 08/CT-VKSBM ngày 18/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn.
- - Hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Thế K từ 14 tháng đến 16 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 32 tháng, thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Nguyễn Đức C từ 10 tháng đến 13 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 20 đến 26 tháng; Nguyễn Thị T từ 08 tháng đến 10 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 16 đến 20 tháng; thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- - Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 203; khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự; phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thế K số tiền 10.000.000đồng đến 15.000.000 đồng nộp vào ngân sách nhà nước. Bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T được miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy gồm: 02 thẻ sim điện thoại. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, có nắp lưng màu trắng.
- Truy thu sung vào ngân sách nhà nước: Bị cáo Nguyễn Đức C 6.707.000đ, bị cáo Nguyễn Thị T 3.000.000đ.
- - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo Nguyễn Thế K được miễn nộp tiền án phí; bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng.
Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thế K: Nhất trí quan điểm của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Mua bán trái phép hóa đơn” quy định khoản 1 điều 203 Bộ luật Hình sự do hành vi của mình gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ khi lượng hình, thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế K phạm tội “Mua bán trái phép hóa đơn”. Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 203; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Nguyễn Thế K từ 12 tháng đến 16 tháng tù cho hưởng án treo. Về hình phạt bổ sung; xử lý vật chứng; về án phí: Nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị.
Bị cáo Nguyễn Thế K nhất trí với ý kiến của Trợ giúp pháp lý bào chữa không bổ sung thêm gì và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T nhất trí quan điểm Kiểm sát viên đề nghị, không có tranh luận đối đáp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Chi cục thuế khu vực VII đội thuế liên huyện Hà Giang - Bắc Mê nhất trí quan điểm Kiểm sát viên đề nghị, không có tranh luận đối đáp.
Bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa vắng mặt: Trợ giúp viên pháp lý bào chữa có đơn xin xét xử vắng mặt và gửi Luận cứ bào chữa cho bị cáo; người làm chứng bà Nông Thị T, ông Thào Đức C, ông Hoàng Văn Đ, ông Lò Văn S, bà Nguyễn Thanh T, ông Triệu Văn T, ông Nguyễn Văn H, bà Nông Thị T, ông Trương Quang H, bà Hoàng Kim T không có lý do. Xét thấy các bị cáo; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt. Trong hồ sơ đã có lời khai, việc vắng mặt những người trên không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291; khoản 1 Điều 293 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Hội đồng tiến hành xét xử theo thủ tục chung.
[2] Về tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Mê, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[3] Về tội danh: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập, có đủ cơ sở kết luận: Từ tháng 8/2022 đến tháng 01/2023, do có nhu cầu mua hóa đơn đầu vào để làm thủ tục nhận tiền thi công công trình cho ban quản lý dự án KFW8 các thôn Tả Luồng, Khuổi Nấng xã Thượng Tân; thôn Lùng Càng, Nà Cau xã M, huyện Bắc Mê và để hợp thức hóa hóa đơn đầu vào các hàng hóa phục vụ cho hoạt động của HTX Hoàng Vũ 666 do Nguyễn Thế K là người đại diện theo pháp luật. Nguyễn Thế K đặt vấn đề mua hoá đơn với Nguyễn Đức C, sau đó Cảnh đã thông qua Nguyễn Thị T để mua, bán tổng số 26 hóa đơn khống đã ghi nội dung của 10 công ty khác nhau tổng số tiền hàng hoá là 410.783.288đ không có hàng hoá dịch vụ kèm theo; trong đó bị cáo Nguyễn Đức C hưởng lợi số tiền 6.707.000đ, bị cáo Nguyễn Thị T hưởng lợi số tiền 3.000.000đ. Như vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T về tội Mua bán trái phép hóa đơn theo khoản 1 Điều 203 Bộ luật Hình sự là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Điều 203 Bộ luật Hình sự quy định
1. Người nào in, phát hành, mua bán trái phép hóa đơn, chứng từ thu nộp ngân sách nhà nước ở dạng phôi từ 50 số đến dưới 100 số hoặc hóa đơn, chứng từ đã ghi nội dung từ 10 số đến dưới 30 số hoặc thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000đồng, thì bị phạt tiền từ 50.000.000đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[4] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Thuộc trường hợp ít nghiêm trọng các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ quả lý hóa đơn, chứng từ của cơ quan Nhà nước gây ảnh hưởng đến trật tự an toàn quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực thuế, tài chính, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Quá trình thực hiện tội phạm, các bị đều là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi của bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích lợi nhuận mà cố ý thực hiện. Các bị cáo cùng phải chịu trách nhiệm hình sự do hành vi của mình đã gây ra và cùng phải chịu một chế tài do điều luật đó quy định, xong về nguyên tắc mỗi người đồng phạm phải chịu trách nhiệm độc lập về việc cùng thực hiện hành vi phạm tội, những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự liên quan đến bị cáo nào thì áp dụng đối với riêng bị cáo đó. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm minh trước pháp luật nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.
[5] Xét vai trò phạm tội các bị cáo: Thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc thống nhất với nhau cụ thể chia lợi nhuận, nên các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp giản đơn. Xét bị cáo Nguyễn Thế K là người khởi xướng, chủ động liên hệ tìm mua hóa đơn nên vai trò chính; bị cáo Nguyễn Đức C là người giúp sức liên hệ với bị cáo Nguyễn Thị T để mua hóa đơn hưởng lợi số tiền 6.707.000đ nên vai trò thứ hai; đối với bị cáo Nguyễn Thị T là người giúp sức trong việc mua bán hóa đơn khống được hưởng lợi số tiền 3.000.000đ nên mức hình phạt thấp hơn so với các bị cáo khác.
[6] Bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T đang bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo xử phạt tù nhưng được hưởng án treo nên hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo quy định tại Điều 125, 278 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
[7] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét nhân thân các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
[7.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo: Không có.
[7.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo K là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng điều kiện kinh tế khó khăn là lao động chính trong gia đình nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng không cần thiết cách ly ra khỏi xã hội, mà cho các bị cáo ở ngoài cộng đồng dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền địa phương thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Nên áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo.
[8] Về hình phạt bổ sung: Quy định tại khoản 3 Điều 203 Bộ luật Hình sự, người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 50.000.000đ.
[8.1] Đối với bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T, nghề nghiệp lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng hình thức phạt tiền.
[8.2] Đối với bị cáo Nguyễn Thế K là người trực tiếp mua trái hóa đơn, ngoài hình phạt chính cần áp dụng hình phạt bổ sung một khoản tiền tương xứng với hành vi phạm tội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật nên cần phạt bổ sung số tiền 10.000.000đ về tội Mua bán hóa đơn để nộp vào ngân sách Nhà nước là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 203 của Bộ luật Hình sự.
[9] Trong vụ án này còn có một số hành vi và đối tượng liên quan:
[9.1] Đối với hành vi không ghi sổ kế toán, không xuất hóa đơn khi bán hàng hóa, dịch vụ, không kê khai nộp thuế đối với 08 hóa đơn đứng tên người mua là Trưởng ban Quản lý dự án KFW8 các thôn số tiền 131.516.800₫ của Nguyễn Thế K đã cấu thành hành vi “trốn thuế” quy định tại Điều 143, Luật quản lý thuế số 38/2019/QH14, ngày 13/6/2019; gây thất thu cho ngân sách nhà nước số tiền 6.575.840đ. Tuy nhiên hành vi trên chưa đủ cấu thành tội phạm, do vậy Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ, tài liệu đến Chi cục Thuế huyện B xử lý theo thẩm quyền là đúng quy định của pháp luật.
[9.2] Đối với các Công ty đã bán hoá đơn cho các bị cáo K, C, T. Quá trình điều tra xác định các công ty này đều đã ngừng hoạt động (không hoạt động tại địa chỉ đã đăng ký), do vậy Cơ quan điều tiếp tục phối hợp các cơ quan chức năng tiếp tục xác minh nếu có căn cứ xử lý theo quy định của pháp luật.
[9.3] Đối với những người bán hóa đơn cho bị cáo Nguyễn Thị T, T khai không quen biết những người này, không có cơ sở xác định người bán hóa đơn cho T. Do vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
[9.4] Đối với 06 thành viên HTX Hoàng Vũ 666 gồm: Hà Thị K; Nguyễn Thanh T; Triệu Văn T; Nguyễn Văn H; Nông Thị T; Trương Quang H chỉ là người đứng tên trong giấy chứng nhận Hợp tác xã, không tham gia góp vốn, mọi hoạt động của Hợp tác xã đều do bị cáo Nguyễn Thế K tự làm, tự chịu trách nhiệm, không thông qua các thành viên khác. Việc Nguyễn Thế K mua hóa đơn trái phép những người trên không biết, không tham gia do đó không có căn cứ để xử lý.
[9.5] Đối với bà Hoàng Kim T; hiện đang tạm trú tại số nhà 89, đường Sùng Dũng Lù, tổ 1, phường Q, thành phố Hà Giang, tỉnh Hà Giang, giúp bị cáo Kỳ nhập thông tin 18 hóa đơn điện tử của HTX Hoàng Vũ 666 trên phần mềm điện tử của Tổng cục thuế. Bà T không biết nguồn gốc số hóa đơn trên là do K mua hóa đơn trái phép mà có, do đó không có căn cứ để xử lý.
[9.6] Đối với ông Phan Bá P; Văn Công L; Nguyễn Văn C; Vũ Ngọc T (người đại diện các Công ty Thiên Phong Bảo, Thiên Lương, Cần Vương, Minh Vương ACC). Căn cứ lời khai, tài liệu thu thập được xác định các Công ty trên không biết lý do gì có thông tin cá nhân đứng tên Công ty, do vậy không có căn cứ để xử lý.
[9.7] Đối với Dương Hoàng T; Phạm Ngọc T; Nguyễn Văn T; Trần Anh T; Trần Thị Phương T; Đặng Trung D (người đại diện các Công ty Hoàng Thịnh, Phỉ Thúy HN, AĐK, Hạnh Ngân, Ngũ K, Việt Trung) không có mặt nơi cư trú, do vậy Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra khi có căn cứ sẽ xem xét xử lý theo quy định của pháp luật.
[9.8] Đối với Nông Thị T; Thào Đức C; Hoàng Văn Đ; Lò Văn S (Trưởng ban KFW8 các thôn) đã cung cấp thông tin cá nhân gồm: Họ và tên, địa chỉ, chức vụ trong dự án KFW8 cho K. Những người trên không được biết K sử dụng những thông tin trên để mua hóa đơn khống. Không được hưởng lợi việc mua, bán hóa đơn của các bị cáo. Do đó không có căn cứ để xử lý.
[9.9] Đối với số tiền Nguyễn Thế K được thanh toán 131.516.800₫ là phù hợp với thực tế chi phí, nhân công, nguyên vật liệu Kỳ đã bỏ ra để hoàn thiện đầy đủ số lượng, nội dung lắp đặt thi công theo thỏa thuận với Ban Quản lý dự án KFW8 các thôn. Các công trình trên đã được nghiệm thu đưa vào sử dụng là có thật. Ban Quản lý dự án KFW8, các thôn thanh toán số tiền trên là đúng mục đích, không được K cho hưởng lợi gì từ số tiền trên do đó không có căn cứ để xử lý.
[10] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ theo quy định tại Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Cần truy thu số tiền do thu lợi bất chính từ việc phạm tội mà có bị cáo Nguyễn Đức Cảnh 6.707.000đ, bị cáo Nguyễn Thị T 3.000.000đ để nộp vào ngân sách Nhà nước. Ngoài Nguyễn Thị T mua hóa đơn của nhiều người không xác định được người xuất hóa đơn nên không có cơ sở truy thu số tiền còn lại.
[11] Về xử lý vật chứng:
[11.1] Đối với 02 thẻ sim điện thoại là công cụ phạm tội, không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[11.2] Đối với 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, có là công cụ phạm tộị cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[12] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo K: Đề nghị xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 16 tháng là phù hợp tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.
[13] Từ những căn cứ nêu trên, xét thấy đại diện Viện Kiểm sát đề nghị là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[14] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thế K là người dân tộc thiểu số và có đơn xin miễn nộp án phí nên xét cho bị cáo K được miễn nộp tiền án phí theo quy định của pháp luật; đối với bị cáo Nguyễn Đức C và bị cáo Nguyễn Thị T chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật.
[15] Quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T phạm tội Mua bán trái phép hóa đơn.
- Về hình phạt chính:
- - Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 50; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- + Bị cáo: Nguyễn Thế K 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn Thế K cho UBND xã M, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang giáo dục người được hưởng án treo; giao cho Công an xã M, tỉnh Hà Giang giám sát người được hưởng án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát người được hưởng án treo, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 203; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt:
- + Bị cáo: Nguyễn Đức C 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn C cho UBND xã L, huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên giáo dục người được hưởng án treo; giao cho Công an xã L, tỉnh Hưng Yên giám sát người được hưởng án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát người được hưởng án treo, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- + Bị cáo: Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho UBND xã T, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp giáo dục người được hưởng án treo; giao cho Công an xã T, tỉnh Đồng Tháp giám sát người được hưởng án treo. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp chính quyền địa phương trong việc giám sát người được hưởng án treo, trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 203, khoản 2 Điều 32, khoản 2 Điều 35 của Bộ luật Hình sự; phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Thế K số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng) nộp vào ngân sách Nhà nước.
Miễn hình phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 (một) thẻ sim có ký hiệu Itelecom số [...]/08716287xxx; 01 (một) thẻ sim điện thoại, nhãn hiệu Mobifone, số 8401.2011.9295.5139.
- - Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) chiếc điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Realme, có nắp lưng màu trắng, có số IMEI 1: 868595041081571; IMEI 2: 868595041081563, (điện thoại cũ, đã qua sử dụng, màn hình và máy trầy xước nhiều chỗ, kính camera sau bị vỡ, không kiểm tra chất lượng bên trong, điện thoại trong tình trạng không hoạt động).
- (Tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 21/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bắc Mê và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Mê).
- - Truy thu sung vào ngân sách nhà nước: Tổng số tiền 9.707.000đ (chín triệu bẩy trăm không bẩy nghìn đồng); trong đó bị cáo Nguyễn Đức C 6.707.000đ (sáu triệu bẩy trăm không bẩy nghìn đồng), bị cáo Nguyễn Thị T 3.000.000đ (ba triệu đồng).
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu số tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- - Bị cáo Nguyễn Thế K được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- - Bị cáo Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T mỗi bị cáo chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng Hình sự.
Bị cáo Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Dương Văn Công |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 20/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về mua bán trái phép hóa đơn
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép hóa đơn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thế K, Nguyễn Đức C, Nguyễn Thị T.
