|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Cao Cường
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Khuê
2. Bà Nguyễn Thị Hương
Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
Lê Văn T - sinh ngày 03/01/1990, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn N, sinh năm: 1967; con bà: Lê Thị T1, sinh năm: 1967; có vợ là: Trương Thị H, sinh năm: 1994 (đã ly hôn); có 01 con, sinh năm: 2015; tiền án: Có 02 tiền án, ngày 18/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 17 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 50/2020/HSST ngày 18/8/2020, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 19/8/2021; ngày 30/11/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 21 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 71/2022/HS-ST ngày 30/11/2022, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 06/02/2024; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/10/2024 đến ngày 22/10/2024, tạm giam từ ngày 22/10/2024 cho đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa (có mặt).
Người chứng kiến: Anh Lương Văn V - sinh năm: 1966; nơi cư trú: Thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 16/10/2024, tổ công tác Đội hình sự - kinh tế - ma túy Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã H, huyện H đang làm nhiệm vụ tại thôn Q, xã H, huyện H, phát hiện Lê Văn T đang đi bộ, có biểu hiện nghi vấn. Tiến hành kiểm tra, phát hiện T bỏ 01 (một) gói nhỏ vào miệng, nhai nuốt để tiêu hủy tang vật, nhưng chưa kịp nuốt thì bị tổ công tác kịp thời khống chế và thu giữ trong miệng của T các mảnh giấy vụn màu vàng bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy. Đồng thời kiểm tra người T, thu giữ trong túi quần T đang mặc 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng đã thu giữ.
Tại Kết luận giám định số 3963/KL-KTHS ngày 22/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Tìm thấy chất ma túy, loại Heroine (H1) trong mẫu gửi giám định. Tổng khối lượng mẫu là 0,336g (không phẩy ba ba sáu gam).
Tại Kết luận giám định số 4673/KL-KTHS ngày 10/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Hàm lượng Heroine trong mẫu gửi giám định là 26,07% (hai sáu phẩy không bảy phần trăm), quy đổi bằng 0,087595g (không phẩy không tám bảy năm chín năm gam) Heroine.
Quá trình điều tra, truy tố, Lê Văn T khai nhận: T là người nghiện chất ma túy, đã có 02 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích. Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 16/10/2024, T sử dụng số điện thoại 0835.372.xxx gọi điện cho Tống Viết N1, sinh năm 1972, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, theo số 0927968344 hỏi mua 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng) ma tuý loại Heroine, N1 đồng ý hẹn gặp T ở khu vực cầu vượt đường cao tốc thuộc thôn K, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó, T đi nhờ xe của người đi đường đến địa điểm đã hẹn rồi gọi điện cho N1. Gặp nhau, N1 đưa cho T 01 (một) gói nhỏ ma tuý bọc bên ngoài bằng giấy màu vàng (loại giấy thiếc bao thuốc lá), Thảo cầm gói ma tuý rồi đưa cho N1 100.000 đồng (một trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T đem về nhà với mục đích để sử dụng. Trên đường về, đến thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa thì bị tổ công tác Công an huyện H kiểm tra, T bỏ gói ma túy vào miệng nhai định nuốt, nhưng chưa kịp nuốt thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang và thu giữ trong miệng của T các mảnh giấy vụn màu vàng bám dính ma túy, thu giữ trong túi quần T đang mặc 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ.
Vật chứng của vụ án, gồm:
- - Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,186g (không phẩy một tám sáu gam) các mảnh giấy vụn màu vàng có bám dính chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong do Công an tỉnh T phát hành.
- - 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, số IMEI: 358989096616414, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ.
Toàn bộ các vật chứng nêu trên đã được chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện Hà Trung để bảo quản, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại Bản cáo trạng số 08/CT-VKSHT ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Lê Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn T giữ nguyên lời khai tại Cơ quan điều tra và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa truy tố là hoàn toàn đúng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, kết luận giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- - Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn T từ 18 tháng đến 24 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024;
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;
- - Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộluật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy đối với: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,186g (không phẩy một tám sáu gam) các mảnh giấy vụn màu vàng có bám dính chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong do Công an tỉnh T phát hành; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, số IMEI: 358989096616414, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo thống nhất với luận tội và không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận tội, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng sự khoan hồng với mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, kết luận giám định, vật chứng vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ cơ sở để kết luận:
Vào hồi 10 giờ 15 phút ngày 16/10/2024, tại thôn Q, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa, Công an huyện H, tỉnh Thanh Hóa phối hợp với Công an xã H, huyện H bắt quả tang Lê Văn T đang tàng trữ trái phép 0,336 gam mẫu vật với hàm lượng 26,07% Heroine là 0,087595 g (không phẩy không tám bảy năm chín năm gam) ma túy loại Heroine, nhằm mục đích sử dụng.
Bị cáo Lê Văn T có 02 tiền án: Ngày 18/8/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình xử phạt 17 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 50/2020/HSST ngày 18/8/2020, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 19/8/2021; ngày 30/11/2022, bị Tòa án nhân dân thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 21 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại Bản án số 71/2022/HS-ST ngày 30/11/2022, chấp hành xong án phạt tù vào ngày 06/02/2024.
Như vậy, bị cáo Lê Văn T đã 02 lần bị kết án cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, lần này bị cáo lại tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng là 0,087595 g (không phẩy không tám bảy năm chín năm gam) ma túy loại Heroine (dưới 0,1 g), nên 02 tiền án cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nêu trên được xác định là tình tiết định tội.
Do đó, hành vi của bị cáo Lê Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm a khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ hành vi, hậu quả: Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, có tính chất nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây mất trật tự, trị an trên địa bàn, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo có ý thức tuân theo pháp luật, đồng thời để giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo Lê Văn T không có tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã 02 lần bị kết án cùng về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu sửa bản thân trở thành người có ích cho gia đình và xã hội mà lại tiếp tục vi phạm.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải tuyên cho bị cáo một hình phạt thật nghiêm và cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử cũng xem xét bị cáo có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đã nêu trên để lượng giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do, nghề nghiệp và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng:
- - Đối với toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,186 g (không phẩy một tám sáu gam) các mảnh giấy vụn màu vàng có bám dính chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong do Công an tỉnh T phát hành: Đây là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, số IMEI: 358989096616414, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ: Là tài sản hợp pháp của bị cáo, bị cáo khai đã sử dụng chiếc điện thoại này gọi cho anh Tống Viết N1 để mua ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc nhưng không đủ căn cứ để xử lý đối với anh N1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Mặt khác, tại phiên tòa, bị cáo cũng từ chối nhận lại chiếc điện thoại này với lý do không còn giá trị sử dụng, nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về các vấn đề khác: Trong vụ án này, bị cáo khai người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo là anh Tống Viết N1, sinh năm 1972, trú tại thôn G, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc và cho đối chất giữa anh Tống Viết N1 và bị cáo, nhưng anh N1 không thừa nhận hành vi bán trái phép chất ma túy cho bị cáo, ngoài ra cũng không có chứng cứ nào khác nên không đủ căn cứ để xử lý đối với anh N1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy; vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm a khoản 1 Điều 249; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
- - Điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- - Khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
* Tuyên bố: Bị cáo Lê Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
* Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 16/10/2024.
* Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy đối với: Toàn bộ vỏ bao gói mở niêm phong và 0,186 g (không phẩy một tám sáu gam) các mảnh giấy vụn màu vàng có bám dính chất bột màu trắng là mẫu vật còn lại sau giám định, được đựng trong 01 (một) phong bì niêm phong có ký hiệu CA Hà Trung TC1192 do Công an tỉnh T phát hành; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA trắng đen, số IMEI: 358989096616414, đã qua sử dụng, phần vỏ máy bị cháy biến dạng, bị vỡ.
(Đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/02/2025 giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hà Trung).
* Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Cao Cường |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
