Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 21 - 02 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Mai Thị Hồng Thái

- Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thanh Thủy

2. Bà Phạm Thị Hồng Hạnh

- Thư ký phiên toà: Bà Ngô Thúy Vi – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nhữ Như Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 03/2025/TLST- HS ngày 10 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST- HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 đối với:

1. Bị cáo: Họ và tên Triệu Sinh T tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/7/1987; Nơi cư trú và đăng ký thường trú: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp:Tự do; Con ông: Triệu Văn Đ, sinh năm 1965, con bà: Bàn Thị T1, sinh năm 1965; Vợ: Đồng Thị L, sinh năm 1990 (đã chết); Con: Có hai con (con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2018); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình;

- Tiền án, tiền sự: Không;

- Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện đang tại ngoại tại địa phương.

(Có mặt tại phiên tòa)

* Người bào chữa cho bị cáo: Bà Mạc Thị H – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T cử.

2. Bị hại:

2.1. Chị Đồng Thị L, sinh năm 1990 (đã chết);

2.2. Cháu Triệu Thảo T2, sinh năm 2015;

2.3. Cháu Triệu Quý H1, sinh năm 2018;

Cùng nơi cư trú: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên;

2.4. Người Đại diện hợp pháp của bị hại:

- Bà Bàn Thị T1, sinh năm 1965; Ông Triệu Văn Đ, sinh năm 1965 (là Bố mẹ đẻ của bị cáo T, là ông bà nội của cháu T2, cháu H1). Cư trú tại: Xóm B, xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Bà Đồng Thị L1, sinh năm 1965 (là mẹ đẻ chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt). Cư trú tại: Thôn P, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn Ủy quyền cho Ông Đồng Minh S, sinh năm 1989; Nơi cư trú: Thôn P, xã C, huyện B, tỉnh Lạng Sơn làm người giám hộ cho cháu Triệu Thảo T2 và cháu Triệu Quý H1.

(Có mặt tại phiên tòa)

2.5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại T2 và H1:

Ông Đào Anh T3 – Trợ giúp viên do Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T cử.

(Có mặt tại phiên tòa)

3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ông Dương Văn T4, sinh năm 1980;

Nơi cư trú: TDP T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

3.2. Anh Đặng Văn T5, sinh năm 1992;

Nơi cư trú: Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

4. Người làm chứng:

4.1 Anh Hoàng Văn H2, sinh năm 1983;

4.2 Chị Quách Thị L2, sinh năm 1991;

Cùng nơi cư trú: Xóm C, xã T(nay là thị trấn T) huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 17/6/2024, Triệu Sinh T điều khiển xe môtô nhãn hiệu Honda, loại AirBlade, BKS: 20K1-000.40 chở vợ là chị Đồng Thị L, sinh năm 1990 và các con: Triệu Thảo T2, sinh năm 2015, Triệu Quý H1, sinh năm 2018 đi ăn ốc tại thị trấn T, huyện Đ. Sau khi ăn xong, T điều khiển xe môtô chở chị L, cháu H1 và cháu T2 đi trên đường Q (Thái Nguyên - Bắc Giang) theo hướng thị trấn T đi xã H để về nhà. Ngồi trên xe phía sau T lần lượt là cháu T2, cháu H1 và chị L. Trên đường đi về, do thời tiết bắt đầu mưa, T dừng xe cho mọi người mặc áo mưa rồi tiếp tục đi. Đến 20 giờ 47 phút cùng ngày, T điều khiển xe môtô đi đến Km114+650 tỉnh lộ 17 thuộc xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên thì gặp xe ôtô tải nhãn hiệu: ChengLong, BKS: 20H-000.98 do anh Đặng Văn T5 (sinh năm 1992, trú tại xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên) điều khiển đang đi cùng chiều phía trước. T điều khiển xe môtô bật đèn tín hiệu bên trái và tăng tốc độ để vượt lên trước xe ôtô tải. Trong khi T điều khiển đang vượt lên phía bên trái xe ôtô tải được khoảng quá ½ thân xe thì xe môtô do T điều khiển tự đổ nghiêng sang phía bên phải trên mặt đường, dẫn đến chị L bị ngã ra khỏi xe môtô vào hướng gầm xe ôtô tải BKS: 20H-000.98 và bị phần bánh sau bên trái của xe ôtô tải đè qua người gây tử vong tại hiện trường, cháu T2, cháu H1 và Triệu Sinh T ngã ra đường bị thương tích. Cháu T2 và cháu H1 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Đ2; T bị thương tích nhẹ nên tự điều trị tại nhà.

Sau khi xảy ra vụ tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm các phương tiện có liên quan, khám nghiệm tử thi, kết quả như sau:

Biên bản khám nghiệm hiện trường xác định: Hiện trường nơi xảy ra tai nạn là đoạn đường hai chiều thẳng, thuộc Quốc lộ A (Thái Nguyên - Bắc Giang). Mặt đường được trải nhựa phẳng, rộng 5,60m; lề đường bên phải đường theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang rộng 1,2m; lề đường bên trái rộng 0,55m. Phía trong lề đường trái là khu vực sân bê tông và nhà ở của ông Hoàng Văn H2, sinh năm 1983 và nhà ở của bà Vi Thị S1, sinh năm 1985. Lấy mép đường bên phải hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang là mép đường chuẩn và lấy cột mốc H6/114 tại lề đường trái theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang làm mốc cố định.

- Xe ôtô tải BKS: 20H-000.98 dừng đỗ trên phần đường bên phải theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang. Đầu xe hướng đi Bắc Giang, đuôi thùng xe hướng đi Thái Nguyên. Đo tâm trục bánh lốp trước (trục thứ nhất) bên phải cách mép đường chuẩn là 0,4m. Đo từ tâm trục bánh lốp sau cùng phía ngoài, bên phải (trục thứ ba) cách mép đường chuẩn là 0,6m; Đo tâm trục bánh lốp thứ ba phía ngoài bên trái đến cột mốc cố định là 4,2m.

- Tử thi Đồng Thị L nằm sấp trên mặt đường, đầu hướng về mép đường chuẩn, chân hướng lề đường trái theo hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang; đầu tử thi cách mép đường chuẩn 2,7m; chân cách mép đường chuẩn là 3,9m. Tại vị trí dưới đầu tử thi trên mặt đường phát hiện có một vùng máu, tổ chức não và nội tạng thoát ra có kích thước 2,7m x 3,3m; đo từ tâm vùng máu, tổ chức não và nội tạng đến mép đường chuẩn là 2,75m và đến đầu tử thi là 02m...

- Xe môtô BKS: 20K1-000.40 đổ nghiêng bên phải trên mặt đường tại phần đường bên trái theo chiều Thái Nguyên đi Bắc Giang, đầu xe hướng chếch chéo vào lề đường trái (hướng Thái Nguyên đi Bắc Giang), đuôi xe hướng chếch chéo vào lề đường bên phải. Đo từ tâm trục trước của xe cách mép đường chuẩn là 05m; tâm trục bánh lốp sau cách mép đường chuẩn là 4,2m. Đo từ tâm trục bánh lốp trước của xe đến tâm trục bánh lốp sau bên trái (bánh lốp thứ ba) của xe ôtô BKS: 20H-000.98 là 25m. Đo từ tâm trục sau của xe đến đầu tử thi Đồng Thị L là 2,1m .

Biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông xác định:

- Xe môtô BKS: 20K1-000.40, nhãn hiệu “Honda”, loại “Airblade”, màu sơn đỏ, đen: Tại mặt trước đầu tay phanh bên phải có vết mài xước kim loại kích thước (01cm x 01cm); Mặt ngoài nhựa ốp gương chiếu hậu bên phải có vết mài, xước nhựa kích thước (03cm x 04cm); Đầu tay nắm cao su tay lái bên phải có vết mài mòn nhựa kích thước (02cm x 02cm); Phía trên cách yếm bên phải có vết tỳ xước nhựa kích thước (19cm x 0,2cm), vết có chiều từ trước về sau xe, điểm thấp nhất của vết cao cách mặt đất 68cm; Bên phải đầu ốp nhựa chắn bùn bánh lốp trước có vết tỳ xước nhựa kích thước (12cm x 02cm)...

- Xe ôtô tải BKS: 20H-000.98 nhãn hiệu “CHENG LONG”: Phát hiện tại khu vực mặt dưới chắn bùn bánh lốp trục 2 và trục 3 bên trái của xe có khoảng dấu vết bám dính vật chất màu trắng, hồng nằm rải rác (nghi tổ chức não). Tiến hành thu giữ, niêm phong mẫu vật chất này để so sánh với ADN mẫu máu của tử thi Đồng Thị L.

Biên bản khám khám nghiệm tử thi xác định:

Tử thi biến dạng, méo mó toàn bộ vùng đầu, mặt, cổ; Kéo dài từ vai trái đến vai phải có các vết xây xát da, bầm tím, ấn lằn hình chữ nhật kích thước trung bình (6,5cm x 5,5cm), khoảng cách liên tiếp giữa hai vết là 05cm; Vùng má bên phải có vết thủng da, cơ kích thước (02cm x 01cm); Từ nách trái đến hạ sườn trái bị xây xát da rải rác; Vùng ngực trái có vết rách, lóc da cơ kích thước (20cm x 15cm); Từ mạn sườn trái đến hố chậu trái có vết rách lóc da, cơ kích thước (28cm x 12cm); Hậu môn có tạng thoát ra ngoài... Tổ chức não bị dập, nát và thoát ra ngoài; Gãy phức tạp toàn bộ các xương lồng ngực; Các tạng trong lồng ngực, ổ bụng bị dập, nát và thoát ra ngoài; Gãy toàn bộ các xương đốt sống cổ, ngực, lưng.

Tại bản kết luận giám định tử thi số: 777/KLGĐTT-KTHS ngày 02/7/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Nguyên nhân chết của chị Đồng Thị L do đa chấn thương, gãy toàn bộ các xương đốt sống, chấn thương sọ não, vỡ phức tạp xương hộp sọ, xương hàm mặt, dập nát tổ chức não; chấn thương ngực, gãy toàn bộ các xương lồng ngực, dập các tạng trong lồng ngực; chấn thương bụng, dập các tạng trong ổ bụng dẫn đến chết.

- Tại bản kết luận định giá tài sản số 21/KL-HĐĐGTS ngày 05/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Đ, kết luận: Giá trị tài sản bị hư hỏng của xe môtô BKS: 20K1-000.40 tại thời điểm ngày 17/6/2024 là: 235.000 đồng (Hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng).

Căn cứ vào kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm tử thi, hồ sơ bệnh án, khám nghiệm dấu vết phương tiện liên quan đến vụ tai nạn và các tài liệu điều tra thu thập được, đủ căn cứ đã xác định nguyên nhân trực tiếp gây tai nạn là do Triệu Sinh T điều khiển xe môtô BKS 20K1-000.40 chở chị Đồng Thị L, cháu Triệu Thảo T2 và cháu Triệu Quý H1 không có Giấy phép lái xe hạng A1 vượt ôtô tải BKS: 20H - 000.98 do anh Đặng Văn T5 điều khiển đi cùng chiều, phía trước trong điều kiện tầm nhìn hạn chế, trời mưa, thời tiết không đảm bảo an toàn, mặt đường hơi trơn trượt gây ra tai nạn làm chị L tử vong tại hiện trường; cháu Triệu Thảo T2 và cháu Triệu Quý H1 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 25% (Hai mươi lăm phần trăm); Xe môtô BKS: 20K1- 000.40 bị hư hỏng, giá trị thiệt hại tài sản là: 235.000 đồng. (Hai trăm ba mươi lăm nghìn đồng); Bản thân Triệu Sinh T bị thương tích với tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của là 05% (Năm phần trăm).

* Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại (bà Đồng Thị L1) số tiền 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng). Bà L1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Hai bên đã thoả thuận xong về phần dân sự, không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm.

* Vật chứng vụ án:

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đối với xe mô tô 20K1-000.40 có số 20000136 được chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.

- 01 (một) xe mô tô BKS 20K1-000.40 nhãn hiệu Honda Airblade đang được bảo quản theo quy định.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Triệu Sinh T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nêu trên.

Tại bản Cáo trạng số 07/CT- VKSĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố bị cáo Triệu Sinh T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Triệu Sinh T khai nhận rõ hành vi phạm tội của bị cáo đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên mô tả.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Triệu Sinh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

- Đề nghị HĐXX Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt Triệu Sinh T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định, tính từ ngày xét xử sơ thẩm.

+ Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và đại diện bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã thống nhất thỏa thuận bồi thường xong, không có yêu cầu gì nên không xem xét, giải quyết.

+ Về vật chứng của vụ án gồm:

- 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đối với xe mô tô 20K1-000.40 có số 20000136 được chuyển theo hồ sơ, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử Tòa án đã trả cho Đại diện hợp pháp của bị hại nên không xem xét.

Đối với 01 (một) xe mô tô BKS 20K1-000.40 nhãn hiệu Honda Airblade đang được bảo quản theo quy định là tài sản chung của vợ chồng, đề nghị trả lại cho bị cáo.

+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.

Trong phần tranh luận bị cáo không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát; Đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo;

Người bào chữa cho bị cáo T( bà H) trình bày về hành vi vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ của bị cáo dẫn đến hậu quả làm chị L(vợ bị cáo chết), bị cáo bị mù bẩm sinh, là dân tộc thiểu số sống ở vùng vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nhận thức pháp luật còn hạn chế, là lao động chính trong gia đình, hiện đang nuôi 02 con nhỏ nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương để có điều kiện nuôi con; Người giám hộ cho cháu T2 và cháu H1( ông T3) đề nghị HĐXX cho bị cáo Triệu Sinh T hưởng án treo, được cải tạo tại địa phương để bị cáo được tiếp tục điều trị, phục hồi sức khỏe; Bị Hại(cháu T2, cháu H1) là 02 con của bị cáo hiện nay bị cáo đang là người chăm sóc nuôi dưỡng con;

Trong lời nói sau cùng bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, bị cáo rất hối hận về hành vi vi phạm giao thông của bản thân làm cho vợ là người thương yêu nhất chết, hai con nhỏ bơ vơ thiếu vắng mẹ, bản thân bị cáo bị mù một bên mắt bẩm sinh, sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn của xã H, kinh tế gia đình rất khó khăn, bố mẹ đẻ thì già yếu thường xuyên ốm đau, bị cáo xin HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương để bị cáo có thời gian, điều kiện tiếp tục điều trị phục hồi sức khỏe và chăm sóc nuôi dưỡng hai con nhỏ còn đang ăn học.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, điều tra viên và kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký, Kiểm sát viên tiến hành tố tụng chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa xét xử bị cáo Triệu sinh T là đối tượng được trợ giúp pháp lý nên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T đã cử Luật sư bào chữa cho bị cáo; Bị hại (cháu T2 và H1) là đối tượng được trợ giúp pháp lý nên Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T đã cử Trợ giúp viên bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cháu T2 và cháu H1 là đúng quy định của pháp luật

Bị cáo, người giám hộ cho bị hại, Người Đại diện hợp pháp của bị hại đã thực hiện việc ủy quyền tham gia tố tụng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa vắng mặt bà L1 là Đại diện hợp pháp của bị hại nhưng bà L1 đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, họ đã có lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến tình tiết khách quan của vụ án. Căn cứ vào các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[2]. Về tội danh:

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, Triệu Sinh T (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20K1-000.40 chở chị Đồng Thị L, cháu Triệu Thảo T2 và Triệu Quý H1 đi trên tỉnh lộ 17 khi đi đến đoạn đường K+650 thuộc xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, T điều khiển xe vượt xe ôtô tải BKS: 20H - 000.98 do anh Đặng Văn T5 điều khiển đi cùng chiều, phía trước trong điều kiện tầm nhìn hạn chế, trời mưa, thời tiết không đảm bảo an toàn, mặt đường hơi trơn trượt, T bị mất lái dẫn đến xe môtô BKS 20K1 - 000.40 tự đổ nghiêng sang phía bên phải trên mặt đường gây tai nạn. Hậu quả: Chị L bị lốp bánh sau bên trái xe ô tô tải đè qua người, tử vong tại hiện trường; Cháu Triệu Thảo T2 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 18% (mười tám phần trăm) và cháu Triệu Quý H1 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 07% (bảy phần trăm); Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Sinh T là 05%( Năm phần trăm).

Hành vi bị cáo Triệu Sinh T điều khiển xe mô tô vượt không đảm bảo an toàn, thiếu quan sát để xảy ra tai nạn, hậu quả chị Đồng Thị L tử vong đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 5 Điều 14 Luật giao thông đường bộ. Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Triệu Sinh T đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Việc truy tố và xét xử bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, phù hợp với kết quả xét nghiệm của K sinh hóa, bệnh án của Bệnh viện Đ2, kết quả khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan, kết quả khám nghiệm tử thi, kết luận giám định pháp y và các chứng cứ tài liệu khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và làm mất trật tự an toàn công cộng.

Hành vi của bị cáo Triệu Sinh T đã vi phạm khoản 9 Điều 8; khoản 5 Điều 14 của Luật giao thông đường bộ, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a, khoản 2, Điều 260 Bộ luật hình sự, cụ thể:

Điều 8. Các hành vi bị nghiêm cấm

“9. ... Điều khiển xe cơ giới không có giấy phép lái xe theo quy định...”.

Điều 14. Vượt xe

“...5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

d) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc vượt;...”

Hành vi nêu trên của Triệu Sinh T đã phạm tội: “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Nội dung điều luật như sau:

“1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 03 năm...

2. Thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm:

a) Không có giấy phép lái xe theo quy định;...”

Hội đồng xét xử xét thấy, bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố để xét xử đối với bị cáo Triệu Sinh T về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, sau khi gây tai nạn bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, Người đại diện hợp pháp của bị hại và Người giám hộ cho bị hại có đơn đề nghị miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo( BL 177,178a) nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu với lỗi vô ý, bản thân bị cáo bị mù bẩm sinh một bên mắt được Hội người mù xã H xác nhận là hội viên, bị cáo là lao động chính trong gia đình hiện đang nuôi bị hại là 02 con nhỏ có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, là dân tộc thiểu số sống ở vùng vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc khu vực III vùng dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thái Nguyên, nhận thức pháp luật còn hạn chế, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bản thân chấp hành tốt chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, tham gia công tác xã hội tốt được UBND xã H, tỉnh Thái Nguyên xác nhận và được tặng Giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác bầu cử Đại biểu Quốc Hội khóa XIV và Đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2016-2021. Bị cáo có đơn xin hưởng án treo, xin được cải tạo tại địa phương được địa phương xác nhận do có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên khi lượng hình HĐXX xem xét mở lượng khoan hồng của pháp luật, chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị hại để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung và cũng là tạo điều kiện cho bị cáo được lao động tại địa phương, được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc 02 con nhỏ còn đang ăn học.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Hỷ về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo Triệu Sinh T tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.

[4]. Về vật chứng của vụ án:

Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, ngày 05/02/2025 Tòa án nhân dân huyện Đồng Hỷ đã trả lại cho bà Đồng Thị L1 là Đại diện hợp pháp của bị hại Đồng Thị L(đã chết) 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đối với xe mô tô 20K1-000.40 có số 20000136 do Phòng C công an tỉnh T cấp ngày 28/6/2022 mang tên chủ xe Đồng Thị L, mang BKS 20K1-000.40 được quản lý, sử dụng giấy tờ bản gốc có trong hồ sơ vụ án.

Đối với 01 (một) xe mô tô BKS 20K1-000.40 nhãn hiệu Honda Airblade đang được bảo quản theo quy định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo nên trả lại cho bị cáo Triệu Sinh T quản lý và chỉ được sử dụng khi bị cáo được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép lái xe theo quy định.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Triệu Sinh T đã tự nguyện bồi thường cho bà Đồng Thị L1 – là Đại diện hợp pháp của bị hại(chị L) số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) bà Đồng Thị L1 có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Người giám hộ cho bị hại, Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường và xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên HĐXX không xem xét phần trách nhiệm dân sự.

[6]. Vấn đề khác:

Ngày 30/12/2024 Đ3 trật tự Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên lập biên bản Vi phạm hành chính về lĩnh vực giao thông đường bộ đối với Đặng Văn T5 và Dương Văn T4.

Ngày 05/01/2025 Trưởng Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số G01.823.809.308-981-25-000187/QĐ-XPHC Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Anh Đặng Văn T5, sinh năm 1992; Nơi cư trú:Xóm H, xã T, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Số tiền 2.500.000 đồng về hành vi Điều khiển xe ô tô tải có mui mang biển số 20H-000.98 đã vi phạm hành vi: Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải. Hình phạt bổ sung: Tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 02 tháng Hạng A1, số [...], có giá trị đến 10/11/2028, nơi cấp Sở G, từ ngày 05/01/2025 đến hết ngày 05/03/2025; Ngày 05/01/2025 Trưởng Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định số G01.823.809.308-981-25-000188/QĐ-XPHC Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Anh Dương Văn T4, sinh năm 1980; Nơi cư trú:TDP T, thị trấn H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Số tiền 5.000.000 đồng về hành vi Điều khiển xe ô tô tải có mui mang biển số 20H-000.98 đã vi phạm hành vi: Giao phương tiện cho người làm công điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại điểm b khoản 4 Điều 24 Nghị định 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 sửa đổi bổ sung tại Nghị định 123/2021/NĐ-CP ngày 28/12/2021 quy định XPHC trong lĩnh vực hàng hải, giao thông đường bộ, đường sắt, hàng không dân dụng).

Hành vi vi phạm hành chính của anh Dương Văn T4, anh Đặng Văn T5 bị Trưởng Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nêu trên là đúng quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở vùng vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, thuộc khu vực III vùng dân tộc thiểu số miền núi tỉnh Thái Nguyên và bị khuyết tật nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người giám hộ của bị hại, người Đại diện theo ủy quyền của Người đại diện hợp pháp của bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Áp dụng: điểm a khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46; Điều 65 Bộ luật hình sự;

- Điều 106; 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố Bị cáo Triệu Sinh T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt: T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 60 (Sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Triệu Sinh T cho UBND xã H, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  3. Về xử lý vật chứng: Trả cho bị cáo Triệu Sinh T 01 (một) xe mô tô BKS 20K1-000.40 nhãn hiệu Honda loại Airblade, số máy: JK14E0009670; số khung: RLHJK1409NZ008194. Xe đã qua sử dụng, cũ, bị hư hỏng một phần do tai nạn,( không kèm giấy tờ xe, có một chìa khóa xe).

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên).

  4. Án phí: Bị cáo Triệu Sinh T được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  5. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người giám hộ của bị hại, người Đại diện theo ủy quyền của Đ1 hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

- VKSND huyện Đ, tỉnh TN;

- Công an huyện Đ, tỉnh TN;

- Chi cục THADS huyện Đ, tỉnh TN;

- VKSND tỉnh Thái Nguyên;

- TAND tỉnh Thái Nguyên;

- Sở Tư pháp tỉnh Thái Nguyên;

- UBND xã H, huyện Đ,

tỉnh Thái Nguyên;

- Bị cáo, Người giám hộ của bị hại,

- Người đại diện hợp pháp của bị hại;

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án;

- Lưu bộ phận Hình sự.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Mai Thị Hồng Thái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 17/6/2024, Triệu Sinh T (không có giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển xe môtô BKS: 20K1-000.40 chở chị Đồng Thị L, cháu Triệu Thảo T2 và Triệu Quý H1 đi trên tỉnh lộ 17 khi đi đến đoạn đường K+650 thuộc xóm C, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, T điều khiển xe vượt xe ôtô tải BKS: 20H - 000.98 do anh Đặng Văn T5 điều khiển đi cùng chiều, phía trước trong điều kiện tầm nhìn hạn chế, trời mưa, thời tiết không đảm bảo an toàn, mặt đường hơi trơn trượt, T bị mất lái dẫn đến xe môtô BKS 20K1 - 000.40 tự đổ nghiêng sang phía bên phải trên mặt đường gây tai nạn. Hậu quả: Chị L bị lốp bánh sau bên trái xe ô tô tải đè qua người, tử vong tại hiện trường; Cháu Triệu Thảo T2 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 18% (mười tám phần trăm) và cháu Triệu Quý H1 bị thương tích với tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích gây ra là 07% (bảy phần trăm); Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Triệu Sinh T là 05%( Năm phần trăm).
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger