Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 20 - 02 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG


- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hoàn
  • Thẩm phán: Ông Hoàng Rung K' Nhơn
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    1. Ông Lê Ngọc Phúc
    2. Ông Nguyễn Đình Long
    3. Bà Đinh Thị Minh
  • Thư ký phiên toà: Bà Trần Bảo Ngọc là Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Thọ - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 16/2025/HSST-QĐ ngày 21 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lâm Kim Thị Thủy T, sinh năm: 1992 tại: Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nơi tạm trú: Lô D A, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lâm Văn H và con bà K; chồng: Nguyễn Đình Đ (Đã ly hôn); con: Nguyễn Ngọc Khánh N, sinh năm 2016.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 30-11-2023, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam thuộc Công an tỉnh L. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Vũ Thành N1 – Văn phòng Luật sư Vũ Thành N1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Có mặt

Bị hại:

- Ông Hồ Đ1, sinh năm 1972; nơi cư trú: số E đường P, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

- Bà Đặng Thị N2, sinh năm 1977; nơi cư trú: số G T, Phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2: Bà Nguyễn Phạm Thanh T1, sinh năm: 1997; địa chỉ: Số A đường T, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2: Luật sư Nguyễn Phương Đại N3 và Luật sư Võ Thị Ngọc C – Công ty L2 thuộc Đoàn luật sư tỉnh L. Vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Mai Văn T2, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
  2. Bà K, sinh năm 1972 và ông Lâm Văn H, sinh năm 1964; cùng nơi cư trú: Thôn Q, xã P, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
  3. Bà Trần Thị Như N4, sinh năm 1990; địa chỉ: đường T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Như N4: Ông Nguyễn Văn T3; nơi cư trú: đường T, Phường H, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

Người làm chứng: Ông Trần Đắc L, sinh năm 1987; địa chỉ: số D hẻm C H, Phường E, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 10-01-2022, do cần tiền để mua sắm trang thiết bị nội thất cho căn nhà tại 1 Đ (nay là Nguyễn Trung T4), Phường D, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng và trả nợ một số người khác; Lâm Kim Thị Thủy T đến gặp vợ chồng ông Hồ Đ1 – bà Đặng Thị N2 để hỏi vay số tiền 1.000.000.000 đồng. T không nói cho ông Đ1 – bà N2 biết mục đích thật của việc vay tiền, để tạo lòng tin T đã đưa ra thông tin gian dối với ông Đ1 - bà N2 là T vay tiền để đáo hạn ngân hàng cho khoản vay 2.500.000.000 đồng của T tại ngân hàng E để làm hồ sơ vay lại với số tiền cao hơn. Tin tưởng những thông tin mà T đưa ra nên ông Đ1 – bà N2 đồng ý cho T vay tiền. T viết một tờ giấy mượn tiền với nội dung “Ông Hồ Đ1 và bà Đặng Thị N2 có cho Lâm Kim Thị Thủy T vay mượn số tiền 1.000.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, thời gian mượn là 03 ngày kể từ ngày 10-01-2022 đến ngày 12-01-2022”. Sau đó ông Đ1 – bà N2 đã chuyển khoản cho T vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T không đáo hạn ngân hàng như đã thỏa thuận mà đã chi xài vào những công việc như

trả nợ cho bà Trần Thị Như N4 và một số người khác, chi trả tiền nguyên vật liệu để xây dựng phòng xông hơi và hệ thống năng lượng mặt trời tại nhà số A Đ, thanh toán thẻ tín dụng của T tại ngân hàng M và chi xài cá nhân hết.

Ngày 12-01-2022, do chưa trả được tiền cho ông Đ1 - bà N2, T nhắn tin cho bạn là Mai Văn T2 nhờ T2 giúp. T2 đồng ý và bày T nói dối với bà N2 là do Ngân hàng hết room nên chưa giải ngân được. T đã liên hệ với ông Đ1 - bà N2 xin được gia hạn thêm thời gian để trả nợ. Ông Đ1 – bà N2 đồng ý. Ngày 13-01-2022, T viết thêm ở phần cuối tờ giấy mượn tiền lập ngày 10-02-2022 với nội dung “Hôm nay ngày 13/01/2022 Tôi xin hẹn số tiền mượn 1 tỷ (một tỷ đồng) mượn ngày 10/01/2022 sang đến ngày 18/01/2022 trả vì lý do là ngân hàng đang hoàn thiện hồ sơ vay do nhu cầu tôi cần vay thêm. Tôi cam kết sẽ thực hiện đúng cam kết nếu có gì sai trái tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật”. Tuy nhiên sau đó T không trả nợ được nên ông Đ1 – bà N2 đã tố giác T có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Đến ngày 10-5-2022, T vay mượn tiền của người khác để trả nợ xóa thế chấp đối với hợp đồng vay vốn số tiền 2.500.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP X – chi nhánh L3 (E) để thế chấp tài sản vay số tiền 5.500.000.000 đồng tại Ngân hàng TMCP P1 – chi nhánh Đ2. Sau khi vay được tiền, T chuyển khoản trả nợ cho ông Hồ Đ1 – bà Đặng Thị N2 số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền còn lại T trả nợ cho những người khác và tiêu xài cá nhân hết.

Vật chứng thu giữ:

  • 01 “Giấy mượn tiền” lập ngày 22-12-2021, cuối bản tài liệu ở mặt giấy thứ hai có chữ ký, dấu vân tay ghi tên Lâm Văn H và K
  • 01 “Giấy mượn tiền” lập ngày 10-01-2022, cuối bản tài liệu ở mặt giấy thứ hai có chữ ký và dấu vân tay ghi tên Lâm Kim Thị Thủy T.
  • Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L đã trưng cầu Phòng K1 - Công an tỉnh L giám định chữ ký và chữ viết đối với các tài liệu trên. Ngày 14-12-2022, Phòng K1 - Công an tỉnh L đã có Kết luận giám định số 1861/KL-KTHS kết luận: Chữ ký ghi họ tên Lâm Kim Thị Thủy T và chữ viết trên “Giấy mượn tiền” lập ngày 10-01-2022 là chữ ký, chữ viết của Lâm Kim Thị Thủy T.
  • 01 điện thoại di động màu hồng, hiệu SAMSUNG, kiểu thiết bị GALAXY S20, số kiểu máy: SM-G980F/DS, số seri: RF8N20Q000A, IMEI (khe 1): 354460111683155, IMEI (khe 2): 354461111683153.
  • 01 Điện thoại di động màu tím, số máy MQ8W3LL/A, số sê-ri: F4TYHC29RL, Imei: 355063661447366 (không kiểm tra chất lượng máy bên trong), bên trong có 01 Sim điện thoại gắn trong máy.

Người bị hại là: Ông Hồ Đ1, sinh năm 1972, trú tại 5 P, Phường A, Đ, Lâm Đồng và bà Đặng Thị N2, trú tại 7 T, phường A, Đ, Lâm Đồng; bị L1 Kim Thị Thủy T chiếm đoạt số tiền 1.000.000.000 đồng. Hiện nay ông Đ1 – bà N2 đã được gia đình bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả số tiền 607.000.000 đồng, ông Đ1 – bà N2 yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường số tiền còn lại.

Bản cáo trạng số: 71/CT-VKS-P2 ngày 15 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T về tội “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Lâm Kim Thị Thủy T thừa nhận diễn biến vụ việc đúng như Cáo trạng và không thắc mắc, khiếu nại gì nội dung bản Cáo trạng.

Tại phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T phạm tội “Lừa đảo, chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T mức án từ 09 đến 10 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 số tiền chưa thực hiện nghĩa vụ bồi thường là 393.000.000 đồng.

Về biện pháp cưỡng chế: Tiếp tục duy trì lệnh kê biên tài sản do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thực hiện.

Ngoài ra, còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí phù hợp với quy định pháp luật.

Bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T và Luật sư bào chữa cho bị cáo tranh luận nội dung thống nhất như sau:

Đồng ý với tội danh và điều luật Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng truy tố, luận tội đối với bị cáo; thống nhất với các tình tiết giảm nhẹ mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đề nghị áp dụng, ngoài ra trong quá trình sinh sống, bị cáo thường xuyên tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động thiện nguyện được chính quyền địa phương ghi nhận và tặng thưởng giấy khen nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ này theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng tại phần luận tội, áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất

trong khung hình phạt liền kề để bị cáo sớm có cơ hội hòa nhập cộng đồng, chuộc lại lỗi lầm.

Đại diện bị hại bà Nguyễn Phạm Thanh T1 tranh luận: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 số tiền 393.000.000 đồng chưa thực hiện nghĩa vụ; xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo gửi lời xin lỗi đến bị hại. Mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm có cơ hội tái hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: tại phiên tòa, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị hại là Luật sư Nguyễn Phương Đại N3 và Luật sư Võ Thị Ngọc C vắng mặt và có đơn xin vắng mặt; đại diện bị hại đồng ý đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt 02 Luật sư; người làm chứng ông Trần Đắc L vắng mặt. Xét việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người trên theo thủ tục chung.

[3] Về hành vi phạm tội:

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu; lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố phù hợp với lời khai bị hại, người liên quan, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác đã được thẩm tra tại phiên tòa nên đủ cơ sở kết luận:

Do cần tiền xử lý công việc cá nhân, xây dựng nhà, trang trí nội thất. Ngày 10-01-2022, thông qua mối quan hệ và giới thiệu của Mai Văn T2 từ trước; bị cáo Lâm Kim Thủy T đã liên hệ với vợ chồng ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 và đưa ra thông tin gian dối rằng cần tiền để đáo hạn ngân hàng E1, mục đích làm cho vợ chồng ông Đ1, bà N2 tin tưởng cho bị cáo vay số tiền 1.000.000.000 đồng. Khi vay tiền bị cáo đã viết một tờ giấy mượn tiền với nội dung: “Ông Hồ Đ1 và bà Đặng Thị N2 có cho

Lâm Kim Thị Thủy T vay mượn số tiền 1.000.000.000 đồng để đáo hạn ngân hàng, thời gian mượn là 03 ngày kể từ ngày 10-01-2022 đến ngày 12-01-2022”. Sau khi nhận được số tiền 1.000.000.000 đồng bị cáo không thực hiện việc đáo hạn Ngân hàng như thông tin đưa ra mà sử dụng vào việc trả nợ cho bà Trần Thị Như N4 và một số người khác, trả tiền nguyên vật liệu để xây dựng phòng xông hơi và hệ thống năng lượng mặt trời căn nhà số A Đ, thanh toán thẻ tín dụng và tiêu xài cá nhân hết, đến hạn do mất khả năng thanh khoản nên đã không hoàn trả lại số tiền vay cho ông Đ1, bà N2.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hiểu biết pháp luật và nhận thức rất rõ tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ nhưng cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt của bị hại số tiền 1.000.000.000 đồng như hành vi nêu trên đầy đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Do giá trị tài sản bị chiếm đoạt trên 500.000.000 đồng nên thuộc trường hợp định khung tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Vì vậy bản Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã truy tố bị cáo về tội danh và khung hình phạt trên là phù hợp, đúng quy định.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; khi bị phát giác và quá trình điều tra đã bồi thường cho bị hại số tiền 607.000.000 đồng, được bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt. Qúa trình sinh sống, bị cáo tham gia hoạt động xã hội, thiện nguyện và được Chủ tịch UBND cấp xã và Hội chữ thập đỏ tặng giấy khen và thư cảm ơn. Vì vậy, cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm theo quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, tính chất mức độ phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm trực tiếp đến khách thể là quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo hộ; gây bất ổn trong hoạt động kinh tế; mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội nhưng phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, vì vậy cần có một mức án nghiêm, tương xứng, đồng thời cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian thích hợp để giáo dục, răn đe đối với bị cáo nhằm phòng ngừa chung cho xã hội; đáp ứng được công tác đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên, qua xem xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ thì thấy rằng bị cáo có 02 tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và có thêm các tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đã bồi thường khắc phục được trên ½ số tiền bị chiếm đoạt nên Hội đồng xét xử

áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với bị cáo khi quyết định hình phạt.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tổng số tiền bị cáo chiếm đoạt của bị hại ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 là 1.000.000.000 đồng; bị cáo đã khắc phục, bồi thường cho bị hại ông Đ1, bà N2 được số tiền 607.000.000 đồng và được bị hại xác nhận. Qúa trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa phía bị hại tiếp tục yêu cầu bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 393.000.000 đồng đến nay chưa bồi thường thì bị cáo đồng ý. Vì vậy, cần tiếp tục buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường số tiền 393.000.000 đồng cho bị hại.

[7] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung ngân sách nhà nước các vật chứng có giá trị liên quan đến hành vi phạm tội đã được cơ quan điều tra thu giữ là:

- 01 (Một) phong bì màu trắng được niêm phong được dán bao quanh bằng băng keo trong còn nguyên niêm phong mặt sau tại mép mở phong bì có chữ ký của “Lâm Kim Thị Thủy T, Phạm Thị Hồng P, Trần Quốc Minh T5" và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra -Công an tỉnh L bên trong chứa: 01 (một) điện thoại di động màu hồng, hiệu SAMSUNG, kiểu thiết bị GALAXY S20, số máy: SM-G980F/DS, số seri: RF8N20Q000A, IMEI (khe 1): 354460111683155, IMEI (khe 2): 354461111683153.

Trả lại cho bị cáo các vật chứng có giá trị không liên quan đến hành vi phạm tội thuộc quyền sử dụng hợp pháp của bị cáo đã được cơ quan điều tra thu giữ là:

- 01 (Một) phong bì màu trắng được niêm phong được dán bao quanh bằng băng keo trong còn nguyên niêm phong mặt sau tại mép mở phong bì có chữ ký của “Lâm Kim Thị Thủy T, Phạm Thị Hồng P, Võ Tá H1” và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh L. Theo biên bản phong đồ vật, tài liệu giao nhận ngày 30/11/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L bên trong chứa: 01 (một) điện thoại màu tím, số máy MQ8W3LL/A, số sê-ri: F4TYHC29RL, Imei: 355063661447366, bên trong có 01 Sim điện thoại gắn trong máy.

Đối với các tài liệu, chứng cứ là căn cứ, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội được cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thu giữ, đánh số bút lục và lưu giữ trong hồ sơ vụ án theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng thì cần tiếp tục lưu trong hồ sơ và không cần đề cập trong phần quyết định.

Đối với các vật chứng khác, do không ảnh hưởng đến việc xử lý vụ án và thi hành án nên trong giai đoạn điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên không đề cập.

[8] Về biện pháp cưỡng chế: Tiếp tục duy trì lệnh kê biên tài sản do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thực hiện trong giai đoạn điều tra nhằm bảo đảm nghĩa vụ thi hành án.

[9] Về các vấn đề khác:

Đối với nội dung đơn tố giác của ông Hồ Đ1 và bà Đặng Thị N2 tố cáo ông Lâm Văn H và bà K có hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Hồ Đ1 và bà Đặng Thị N2 số tiền 2.100.000.000 đồng. Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L xác định tranh chấp giữa ông Hồ Đ1 – bà Đặng Thị N2 với ông Lâm Văn H – bà K là tranh chấp dân sự. Hành vi của ông Lâm Văn H và bà K không cấu thành tội phạm Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản hoặc tội phạm khác do Bộ luật Hình sự quy định là phù hợp.

Qúa trình điều tra, bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T tố giác bà Trần Thị Như N4 (sinh năm: 1989, trú tại T - Phường H - Đ) có hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tố giác ông Hồ Đ1 (trú tại 5 P, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) và bà Đặng Thị N2 (trú tại 7 T, phường A, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng) về hành vi cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Tố giác ông Mai Văn T2 (sinh năm: 1991, trú tại tổ dân phố L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lâm Đồng) có hành vi giúp sức cho bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của ông Hồ Đ1 và bà Đặng Thị N2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L xác định: Hành vi của bà Trần Thị Như N4, ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 không cấu thành tội phạm “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Hành vi của ông Mai Văn T2 không cấu thành tội phạm “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Vì vậy, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết trong phạm vi giải quyết vụ án này.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị hại.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội phạm và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T 08 (T6) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (Ngày 30-11-2023)

  1. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 589 Bộ luật Dân sự. Buộc bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho bị hại ông Hồ Đ1, bà Đặng Thị N2 số tiền 393.000.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  1. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    1. Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màu hồng, hiệu SAMSUNG, kiểu thiết bị GALAXY S20, số máy: SM-G980F/DS, số seri: RF8N20Q000A, IMEI (khe 1): 354460111683155, IMEI (khe 2): 354461111683153, đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong được dán bao quanh bằng băng keo trong còn nguyên niêm phong mặt sau tại mép mở phong bì có chữ ký của “Lâm Kim Thị Thủy T, Phạm Thị Hồng P, Trần Quốc Minh T5” và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu ngày 12/7/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L.
    2. Trả lại cho bị cáo:

      01 (một) điện thoại màu tím, số máy MQ8W3LL/A, số sê-ri: F4TYHC29RL, Imei: 355063661447366, bên trong có 01 Sim điện thoại gắn trong máy, đựng trong 01 (một) phong bì màu trắng được niêm phong được dán bao quanh bằng băng keo trong còn nguyên niêm phong mặt sau tại mép mở phong bì có chữ ký của “Lâm Kim Thị Thủy T, Phạm Thị Hồng P, Võ Tá H1” và dấu tròn đỏ của cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L. Theo biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu giao nhận ngày 30/11/2023 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an tỉnh L.

      (Vật chứng nêu trên, số lượng, chủng loại, đặc điểm, tình trạng vật chứng được ghi tại Quyết định chuyển vật chứng số 61/QĐ-VKSLĐ-P2 ngày 15-11-2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng và Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/11/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Lâm Đồng).

  1. Về biện pháp cưỡng chế: Áp dụng Điều 28 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tiếp tục duy trì Lệnh kê biên tài sản số: 01/LKB-VPCQCSDT ngày 04-12-2024 của Cơ quan

cảnh sát điều tra Công an tỉnh L (Thửa đất số 85, Tờ bản đồ địa chính số H, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AK 08 3959 do UBND huyện L cấp ngày 29-05-2007) để đảm bảo nghĩa vụ thi hành án.

  1. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Lâm Kim Thị Thủy T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 19.650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  1. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo; bị hại, người liên quan có quyền làm đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Người liên quan chỉ được kháng cáo phần có liên quan.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 – TANDTC (01);
  • - VKSNDCC tại Tp. HCM (01);
  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PV - 06 Công an Lâm Đồng (01);
  • - Phòng PA09 - CA tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Cơ quan THAHS tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Sở tư pháp tỉnh Lâm Đồng (02);
  • - Phòng KTNV&THA (04);
  • - Cục THADS tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Bị cáo (01); Trại tạm giam (01);
  • - Bị hại (02); Người bào chữa (04);
  • - Người liên quan (03);
  • - Hồ sơ THAHS (03);
  • - Lưu hồ sơ vụ án (01); Án văn (01); VP (01).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký và đóng dấu)

Nguyễn Công Hoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: kết án phạt tù đối với bị cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger