Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KỲ SƠN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 19 tháng 02 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Lộc
  • Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vi Thị Khiểu
  • Bà Bùi Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Ông Quang Thái Tài - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn T. Tên gọi khác: Không.

Sinh ngày 30/03/1993 tại huyện N, tỉnh Nghệ An.

Nơi cư trú: K, phường V, thành phố V, tỉnh Nghệ An.;

Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng T1 và bà Hoàng Thị H; Có vợ là Lê Thị H1 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 06/12/2024 đến ngày 15/12/2024 thì được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện đang tại ngoại. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Lê Đình H2; sinh năm 1999; nơi cư trú: xóm C, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
  2. Ông Trần Văn T2; sinh năm 1974; nơi cư trú: K, thị trấn C, huyện C, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

- Người chứng kiến: Anh Nguyễn Đình Đ; sinh năm 1991; nơi cư trú: Bản T, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ 15 phút ngày 05/12/2024, Nguyễn Văn T đón xe khách đi từ ngã ba N đi lên huyện K xuất cảnh sang nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào qua cửa khẩu quốc tế N để thăm bạn. Khi đến nơi, Nguyễn Văn T gặp một người đàn ông không quen biết rồi nhờ người này mua hộ pháo, một lúc sau người đàn ông quay lại đưa cho Nguyễn Văn T 24 hộp pháo loại 36 quả do nước ngoài sản xuất và 04 quả loại pháo ông sư có khối hình cầu do nước ngoài sản xuất, Nguyễn Văn T nhận số pháo trên rồi đưa cho người đó số tiền 4 triệu kíp Lào. Đến khoảng 05 giờ 30 phút ngày 06/12/2024, Nguyễn Văn T đón xe khách đi từ Phôn X, X, Lào quay về Việt Nam.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày khi làm thủ tục nhập cảnh tại luồng kiểm tra phương tiện tại nhà kiểm tra liên hợp cửa khẩu quốc tế N thuộc bản T, xã N, huyện K thì bị tổ công tác phát hiện bắt quả tang thu giữ số tang vật trên.

Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 14 giờ 00 phút ngày 07/12/2024 đã xác định:

  • - 24 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thước đồng đều nhau được dán giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài, kích thước mỗi khối 11 x 15 x 15cm (nghi là pháo nổ) có tổng khối lượng 28,8 kilogam. Trích mẫu giám định ký hiệu M1.
  • - 04 quả có một đầu hình tròn, một đầu hình trụ, trên mỗi quả gắn một đoạn dây màu đỏ, có tổng khối lượng 1,7 kilogam. Trích mẫu giám định ký hiệu M2.

Kết luận giám định số 475/KL-KTHS(Đ2-CN) ngày 13/12/2024 của Phòng K, Công an tỉnh N đã xác định: Các mẫu vật (ký hiệu M1, M2) thu giữ của Nguyễn Văn T gửi giám định đều là pháo; đều thuộc loại pháo nổ.

Cáo trạng số 06/CT-VKS-KS ngày 08/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã truy tố Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ hàng cấm” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Áp dụng: điểm c khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức phạt tiền là hình phạt chính từ 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) đến 120.000.000 đồng (Một trăm hai mươi triệu đồng); Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng và quyết định nghĩa vụ chịu án phí theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T đồng ý với nội dung bản cáo trạng và

2

luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.

Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Mong Hội đồng xét xử cho bị cáo mức xử phạt nhẹ nhất để có cơ hội sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng và người chứng kiến tuy nhiên người làm chứng và người chứng kiến đã có đủ lời khai trong quá trình điều tra, xét thấy không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án là đúng quy định Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 10 giờ ngày 06/12/2024, tại bản Tiền Tiêu, xã N, huyện K, tỉnh Nghệ An, tổ công tác Đồn Biên phòng Cửa khẩu quốc tế N phối hợp với Công an huyện K bắt quả tang Nguyễn Văn T đang có hành vi tàng trữ 24 hộp pháo nổ (loại 36 quả mỗi hộp) và 04 quả pháo nổ loại hình cầu (còn gọi là pháo ông sư) có tổng khối lượng 30,5kg (Ba mươi phẩy năm kilogam) nhằm mục đích để sử dụng. Hành vi trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước đối với một số hàng hóa cấm nói chung và hàng hóa cấm là pháo nổ nói riêng. Hành vi đó đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương nên cần phải được đưa ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.

[4.1] Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng thấy rằng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhận thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra cũng

3

như tại phiên tòa đã có thái độ thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bố đẻ của bị cáo là ông Nguyễn Hồng T1 tham gia kháng chiến được tặng Huân chương chiến công hiện đang được hưởng chế độ thương binh. Do đó cần cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4.2] Xét thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng, có nơi cư trú rõ ràng, luôn chấp hành tốt sự triệu tập của các cơ quan tố tụng nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền (là hình phạt chính) cũng đủ điều kiện giáo dục, trừng trị riêng bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo tàng trữ hàng cấm là pháo nổ nhằm mục đích để sử dụng mà không có ý thức thu lợi bất chính nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng: Số pháo nổ đã thu giữ của bị cáo sau khi trích mẫu gửi giám định thì số còn lại gồm 21 hộp pháo nổ (loại 36 quả mỗi hộp) có khối lượng 25,2 kilogam và 03 quả pháo nổ loại hình cầu (còn gọi là pháo ông sư) có khối lượng 1,275 kilogam. Số vật chứng này hiện đang được niêm phong, bảo quản tại Kho vật chứng của Công an huyện K. Đây là vật chứng nhà nước cấm, tàng trữ nên phải tịch thu để tiêu hủy.

[7] Đối với người đàn ông đã bán pháo cho Nguyễn Văn T cơ quan điều tra chưa xác định được lý lịch, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[9] Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

[10] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35 của Bộ luật Hình sự:
    • - Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”.
    • - Xử phạt tiền: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp phạt vào ngân sách Nhà nước số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).
  2. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Giao Công an huyện K tiêu hủy vật chứng gồm: 21 khối hình hộp chữ nhật có kích thước 11x15x15cm, bên ngoài được bọc giấy nhiều màu sắc có in chữ nước ngoài có khối lượng 25,2kg được niêm phong bằng 01 thùng cattong, được dán kín các miệng hộp, trên miệng hộp có dán giấy niêm

4

  1. phong, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Nguyễn Văn T, đóng dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Nghệ An và 03 quả có một đầu hình tròn, một đầu hình trụ, trên mỗi quả gắn 01 đoạn dây màu đỏ có khối lượng 1,275 kg được niêm phong bằng 01 thùng cattong, được dán kín các miệng hộp, trên miệng hộp có dán giấy niêm phong, trên giấy niêm phong có đầy đủ chữ ký của những người tham gia niêm phong, chữ ký của Nguyễn Văn T, đóng dấu đỏ của Cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Nghệ An. Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng của Công an huyện K.
  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 19/02/2025)./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND huyện Kỳ Sơn;
  • - Công an huyện Kỳ Sơn (Cơ quan điều tra,
  • Cơ quan THA hình sự);
  • - Chi cục THA dân sự huyện Kỳ Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, hồ sơ THAHS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Hữu Lộc

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 19/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN về hình sự - tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 10 giờ ngày 06/12/2024 bị cáo Nguyễn Văn T bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 30,5kg (Ba mươi phẩy năm kilogam) pháo nổ nhằm mục đích để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger