|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HS-ST
Ngày 18/02/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Duy
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Được.
Ông Kim Trung Dũng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Khánh – Thẩm Tra viên Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Đào Trần Thúy Hằng- Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 86/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 01 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Quang V (tên gọi khác: không), sinh ngày 27/11/2001, tại: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi đăng ký thường trú: số A H, khu phố C, phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 và bà Phạm Thị N; vợ: chưa có; con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: tốt.
Bị bắt tạm giữ từ ngày 20/7/2024 đến ngày 26/7/2024 chuyển tạm giam liên tục cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Chị Nguyễn Thị Diễm T, sinh năm 1980.
Địa chỉ: khu V, phường V, thành phố V, tỉnh Hậu Giang. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1987.
Địa chỉ: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. Vắng mặt.
3. Nguyễn Thành T1, sinh năm 1984.
Địa chỉ: khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
4. Văn Đình T2, sinh năm 1986.
Địa chỉ: thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 14/5/2024, đối tượng tên T3 (không rõ nhân thân, lai lịch) gọi điện thoại rủ Nguyễn Quang V “đi kiếm tiền” nghĩa là đi trộm cắp tài sản, V đồng ý. Vĩ đi đến tháp đồng hồ Vị T4 đứng chờ, T3 điều khiển xe loại Exciter 150 (không rõ biển kiểm soát) đến rước. T3 chở V đi lòng vòng để tìm tài sản lấy trộm. Khi đi đến khu dân cư P, thành phố V (đoạn đối diện nhà nghỉ S) thuộc khu vực 4, phường V, thành phố V thì phát hiện 01 ngôi nhà khóa cửa ngoài nên V và T3 tiếp cận để trộm. T3 đậu xe gần cửa nhà rồi đi vào dùng kìm thủy lực đã mang theo để cắt ổ khóa, còn V thì ngồi ngoài canh đường. Cắt khóa xong, T3 đi ra xe canh đường để cho V đi vào nhà tìm tài sản để trộm. Khi vào ngay phòng khách thì V thấy một cái máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS màu đen để trên bàn nên V lấy trộm. Vĩ đi tiếp vào trong để tìm tài sản nhưng các cửa phòng đều khóa, không mở được nên V quay ra nói với T3, T3 đi vào còn V ở ngoài canh đường. T3 cầm theo một cây vít dẹp để cạy cửa phòng, T3 quay ra có mang một balo nhưng không biết để gì bên trong. Sau đó, T3 chở V đến gần vòng xoay V để kiểm tra tài sản trộm được. Vĩ hỏi T3 trộm được gì không, T3 nói không và có đưa cho V xem đồ trong ba lô, thấy không có gì nên thôi. Sau đó, T3 gọi điện cho 01 người quen của T3 để bán cái máy tính trộm được. T3 chở V đến đầu cầu H gần chợ V2 để bán máy tính cho người thanh niên lạ mặt với giá 500.000 đồng. Bán được máy tính T3 chở V về Công viên C thuộc phường V, thành phố V ngồi chơi một lúc thì cả hai ra về. Tiền bán laptop T3 đưa cho V giữ nên V lấy nạp vào game để chơi.
Sau khi về thì V nghe nói chỗ trộm máy tính là một người làm việc bên bộ đội nên V sợ và gọi cho T3 để chuộc lại máy tính trả lại cho bị hại, T3 gọi cho người mua máy tính và chỉ chỗ cho V để chuộc lại. Chuộc xong V đến khu C để gặp T3, vì sợ nên V đưa máy tính cho T3 đem để ngay cửa nhà để trả. Khi T3 đem trả thì không biết để đâu vì sau khi đi thì T3 không có quay lại gặp V, khoảng hai ngày sau V mới gặp lại và có hỏi thì T3 nói trả rồi nhưng không nói trả cách nào.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19 ngày 30/5/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản thuộc UBND thành phố V, kết luận giá trị còn lại: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS X44H màu đen, đã qua sử dụng là 3.500.000₫ (ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Quá trình điều tra xác định, Nguyễn Quang V còn thực hiện 03 vụ trộm xe mô tô trên địa bàn phường V, thành phố V như sau:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 23 giờ 15/7/2024, Nguyễn Quang V đến nhà T thuộc khu vực 2, phường V, thành phố V thì phát hiện một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe SH 150i màu trắng - đen, biển kiểm soát 83D1-263.12 của Nguyễn Văn B, sinh năm 1997, ĐKTT: Ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng đậu trước cửa phòng trọ không người trông coi nên V nảy sinh ý định trộm xe để kiếm tiền tiêu xài. Vĩ tiếp cận và dẫn xe ra tới cổng rào của nhà trọ, cách vị trí ban đầu khoảng 20 mét. Vĩ dùng tay ấn nút mở khoá thì thấy cốp xe nhảy nút mở cốp nên V mở cốp ra thấy bên trong có 02 áo khoác màu xanh và màu đen nên V lấy trộm cái áo khoác đen. Sau đó, V tiếp tục mở khoá xe để tẩu thoát nhưng không mở được do xe sử dụng ổ khóa thông minh, chỉ mở được cốp xe. Vĩ tiếp tục mở nhiều lần nhưng vẫn không mở được nên V dừng lại và dẫn xe để lại ở vị trí cũ sau đó ra về.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35 ngày 06/9/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản thuộc UBND thành phố V, kết luận giá trị còn lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại SH 150i, màu trắng – đen, biển kiểm soát 83D1-263.12 đã qua sử dụng, trị giá là 83.000.000đ (tám mươi ba triệu đồng).
- Vụ thứ hai: Vào khoảng 02 giờ ngày 18/7/2024, Nguyễn Quang V mượn xe mô tô nhãn hiệu xe Exciter 150, màu xanh - đen (không rõ biển kiểm soát) của thanh niên tên T5 (không rõ nhân thân, lai lịch) đi tìm tài sản để trộm. Vĩ điều khiển xe trên đường C, thành phố V, khi đến tiệm S1 thuộc khu vực 2, phường V, thành phố V thì thấy khóa cửa ngoài nên V tiếp cận dùng kiềm chuẩn bị sẵn cắt ổ khoá, cắt xong V điều khiển xe trả cho T5 rồi đi bộ lại tiệm Spa. Khi vào bên trong Spa, V phát hiện 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 95C1-114.32 của Nguyễn Thành T1, sinh năm 1984, ĐKTT: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang chìa khóa để gần đó. V lấy mở khóa chạy về khu dân cư C gặp T3. Sau đó, V đưa xe cho T3 đem đi bán và đi bộ về phòng trọ.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35 ngày 06/9/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản thuộc UBND thành phố V, kết luận giá trị còn lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda số loại Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 95C1-114.32 đã qua sử dụng, trị giá là 8.000.000đ (tám triệu đồng).
- Vụ thứ ba: Khoảng 13 giờ ngày 19/7/2024 V đi bộ một mình đến nhà T thuộc khu V, phường V, thành phố V để tìm tài sản lấy trộm, đến nơi V thấy có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, màu đỏ đen biển kiểm soát 72E1-190.84 của Văn Đình T2, sinh năm 1986; ĐKTT: Thôn A, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa đang để trước cửa phòng trọ không người trông coi, V quan sát xung quanh không thấy ai nên V dùng đoản chuẩn bị sẵn để bẻ khoá xe, bẻ khóa xong V chạy xe đi tìm chổ bán nhưng không có nên ghé nhà người bạn tên T6 ở V hỏi thì T6 liên hệ với một người tên Đen nhà đoạn cầu lò heo (đoạn đường P) đi vào để bán, sau đó Đ đến gặp V để xem xe và đồng ý mua với giá 1.500.000 đồng, V đồng ý bán. Bán xong V lấy tiền để mua ma tuý sử dụng và nạp chơi game.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 35 ngày 06/9/2024 của Hội đồng thẩm định giá tài sản thuộc UBND thành phố V, kết luận giá trị còn lại: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA số loại Sirius, màu đỏ - đen, biển kiểm soát 72E1-190.84 đã qua sử dụng, trị giá là 8.300.000đ (tám triệu ba trăm nghìn đồng).
Như vậy, từ ngày 14/5/2024 đến ngày 19/7/2024, Nguyễn Quang V lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo V đã 04 lần có hành vi lén lút, trộm cắp tài sản của người khác gồm 01 (một) máy tính xách tay và 03 xe mô tô. Theo kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt với tổng giá trị tài sản là 102.800.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu tám trăm nghìn đồng).
Vật chứng thu giữ: 01 (một) máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS X44H màu đen, đã qua sử dụng.
Ngày 17/5/2024, Cơ quan CSĐT tiến hành trả lại cho bị hại Nguyễn Thị Diễm T máy tính xách tay nhãn hiệu ASUS X44H màu đen.
Tại Bản cáo trạng số: 03/CT-VKS-TPVT ngày 12/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, tỉnh Hậu Giang đã quyết định:
Truy tố bị cáo Nguyễn Quang V về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (sau đây viết tắt là Bộ luật Hình sự).
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Quang V, đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang V từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định pháp luật.
Về yêu cầu của bị hại: Ông Nguyễn Thành T1 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu bồi thường giá trị tài sản bị mất trộm là xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX màu trắng, biển kiểm soát 95C1-114.32 với số tiền là: 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Về trách nhiệm hình sự đề nghị Tòa án xét xử bị cáo theo quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Văn B và chị Nguyễn Thị Diễm T đã nhận lại tài sản, chưa có thiệt hại xảy ra nên quá trình điều tra không có yêu cầu bồi thường và tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên cũng chưa có yêu cầu gì. Về trách nhiệm hình sự bị hại Nguyễn Thị Diễm T có đơn đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại Văn Đình T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, quá trình điều tra, truy tố chưa thể hiện yêu cầu bồi thường.
- Bị cáo Nguyễn Quang V tại phiên tòa phát biểu ý kiến: thừa nhận tất cả hành vi của bị cáo thực hiện như Cáo trạng truy tố, thừa nhận hành vi của mình là phạm tội, bị cáo thấy ăn năn, hối hận với hành vi của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về hòa nhập với cộng đồng.
Về trách nhiệm dân sự bị cáo thống nhất bồi thường cho bị hại Nguyễn Thành T1 số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vị Thanh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về xét xử vắng mặt: Các bị hại được Tòa án tống đạt giấy triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa, riêng bị hại Nguyễn Thành T1, Nguyễn Thị Diễm T vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2025 quyết định xét xử vắng mặt các bị hại.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về tội danh: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quang V đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của các bị hại, kết quả định giá của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác đã được thu thập trong hồ sơ vụ án. Căn cứ vào các chứng cứ này, Toà án có đủ cơ sở kết luận: từ ngày 14/5/2024 đến ngày 19/7/2024, Nguyễn Quang V lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu, bị cáo V đã 04 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác gồm 01 (một) máy tính xách tay và 03 xe mô tô. Theo kết luận định giá tài sản bị chiếm đoạt với tổng giá trị tài sản là 102.800.000 đồng (Một trăm lẻ hai triệu tám trăm nghìn đồng) nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
[3.2] Hành vi phạm tội của bị cáo V là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến khách thể là quyền sở hữu về tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nên nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật, là phạm tội nhưng với bản chất lười lao động lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài nên bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý.
[3.3] Về nhân thân: bị cáo Nguyễn Quang V thể hiện là người có nhân thân tốt, trước lần phạm tội này bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.
[3.4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: trong vụ án này bị cáo thực hiện 04 (bốn) lần trộm cắp tài sản, mỗi lần đều đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội hai lần trở lên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo tỏ ra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đầu thú, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[3.6] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử quyết định buộc bị cáo phải chịu hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[3.7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thành T1 yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản mất trộm là 10.000.000 đồng tại phiên tòa bị cáo cũng thống nhất bồi thường nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện này, đối với bị hại Nguyễn Văn B và Nguyễn Thị Diễm T vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra đã nhận lại tài sản mất trộm không có yêu cầu bồi thường, tại phiên tòa vắng mặt nên chưa có ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét xét giải quyết. Đối với bị hại Văn Đình T2 được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, HĐXX căn cứ Điều 30 và Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự quyết định tách ra để giải quyết thành vụ án dân sự khi bị hại Văn Đình T2 có yêu cầu.
[3.8] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra truy tố đã xử lý xong, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3.9] Đối với đối tượng tên T3, T6, Đ không rõ nhân thân, lai lịch. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp tục xác minh làm rõ, khi nào có căn cứ xử lý sau. Nên Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.
[3.10] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo Nghị quyết, buộc bị cáo Nguyễn Quang V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[3.11] Về phát biểu luận tội, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ, nên Tòa án chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Quang V phạm tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Quang V 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 20/7/2024.
Áp dụng: Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Quang V 45 (bốn mươi lăm) ngày. Thời hạn tạm giam tính từ ngày tuyên án (ngày 18/02/2025) để đảm bảo cho việc thi hành án.
-
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, ghi nhận sự tự nguyện bồi thường của bị cáo đối với bị hại Nguyễn Thành T1 số tiền là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
-
Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 và Danh mục mức án phí, lệ phí Tòa án kèm theo.
Buộc các bị cáo Nguyễn Quang V phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng các bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
-
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đăng Duy |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 18/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VỊ THANH, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hình sự sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Quang V về tội " Trộm cắp tài sản" theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
