TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày: 14/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm.
- - Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Sang.
- Bà Lê Thị Tuyết Mai.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trương Hoàng Minh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoài Hận và bà Huỳnh Thị Bảo Trân – Kiểm sát viên.
Vào ngày 14 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/HSST, ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 24/01/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Mỹ H, sinh ngày 19/4/2003, tại Kiên Giang;
Nơi thường trú: ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang. Nơi ở hiện tại: Không có nơi cư trú nhất định. Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn T và con bà Nguyễn Thị L; Chồng, con: Chưa; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 27/9/2024, đang tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an quận C, thành phố Cần Thơ.
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Bị hại: Nguyễn Thị Kim C, sinh năm 1964. (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số F khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ ngày 06 tháng 09 năm 2024 đến ngày 21 tháng 9 năm 2024, Nguyễn Thị Mỹ H đã hai lần trộm cắp tài sản của bà Nguyễn Thị Kim C tại số F, khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ với tổng số tiền là 39.300.000 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng), cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ, ngày 06/09/2024, Nguyễn Thị Mỹ H cùng với Nguyễn Thị Ngọc M, con gái của bà Nguyễn Thị Kim C đến nhà của bà C. Khi thấy bà C bán hàng cho khách nên H đã lén lút vào phòng ngủ của bà C tìm tài sản để chiếm đoạt. Lúc này H phát hiện một hộp màu đỏ, bên trong có một cọc tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) thì H lấy 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng). Sau đó, H chuyển tiền vào số tài khoản của H và chi xài cá nhân.
Lần thứ hai: Vào khoảng 18 giờ, ngày 21/9/2024, Nguyễn Thị Mỹ H tiếp tục đến nhà bà C và lén lút đi vào phòng ngủ tìm tài sản, sau đó H lấy trộm số tiền 25.300.000 đồng (Hai mươi lăm triệu, ba trăm nghìn đồng). Sau khi lấy được tiền của bà C, H nộp tiền vào tài khoản và chỉ xài cá nhân.
Vật chứng thu giữ: Thu giữ của Nguyễn Thị Mỹ H một điện thoại di động Iphone 7S màu trắng đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim C yêu cầu Nguyễn Thị Mỹ H trả số tiền 50.300.000 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm nghìn đồng). Hiện tại gia đình H đã trả được 914.670 đồng (Chín trăm mười bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng). Bà C có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho H.
Tại bản cáo trạng số: 10/CT-VKS-CR, ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung 2017.
Tại phiên tòa,
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên nội dung của cáo trạng, không bổ sung gì thêm, đồng thời phân tích tính chất, mức độ hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo và đề nghị như sau:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H từ 01 (Một) năm đến 02 (H1) năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 xử lý như sau:
Trả lại 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 7S màu trắng cho bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận việc bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 50.300.000 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm nghìn đồng) cho bị hại - bà Nguyễn Thị Kim C. Trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường trả số tiền 914.670 đồng (Chín trăm mười bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng) nay ghi nhận bị cáo phải trả thêm số tiền 49.385.330 đồng (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi đồng).
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo có thời gian cải tạo và sửa chữa lỗi lầm, trở thành người có ích cho xã hội. Đồng thời, bị cáo gửi lời xin lỗi trân thành đến gia đình bị hại vì hành vi lỗi lầm mà bị cáo đã gây ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và trình tự, thủ tục tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra và truy tố đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không khiếu nại gì về thủ tục tố tụng.
Đối với bị hại - bà Nguyễn Thị Kim C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử nhận thấy, trong quá trình điều tra đã có ý kiến của bà C và việc vắng mặt của bà C không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
Xét thấy, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thừa nhận vào ngày 06 và ngày 21 tháng 9 năm 2024, bị cáo đã thực hiện hành vi lén lút trộm tài sản của bị hại bà Nguyễn Thị Kim C với tổng số tiền là 39.300.000 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng).
Lời thừa nhận của bị cáo sau khi lén lút trộm lấy được tài sản của bị hại là nhằm mục đích để sử dụng, tiêu xài cá nhân và trả nợ. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, biên bản trích xuất camera và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra lại tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt với tổng số tiền 39.300.000 đồng (Ba mươi chín triệu, ba trăm nghìn đồng) trên 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) và dưới 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) nên phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điều khoản luật đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng tình hình an ninh trật tự ở địa phương. Bị cáo đã thành niên, có khả năng lao động nhưng lại lười biếng, tham lam, chỉ muốn chiếm đoạt tài sản của người khác để thỏa mãn cho nhu cầu cá nhân. Bị cáo biết hành vi thực hiện của mình là vi phạm pháp luật nhưng cố ý vi phạm, bất chấp pháp luật cho thấy ý thức chủ quan của tội phạm là cố ý thực hiện.
[3] Về các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ, tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường thiệt hại một phần cho bị hại, đồng thời tại phiên tòa bị cáo cũng thống nhất bồi thường số tiền còn lại. Ngoài ra, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình sự cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017. Về tình tiết tăng nặng, bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhiều lần mà mỗi lần thực hiện hành vi trộm cắp với số tiền đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[4] Trên cơ sở xem xét toàn diện nội dung vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Nhận thấy, tài sản bị cáo chiếm đoạt của bị hại là tương đối lớn vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần có một hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, tạo điều kiện để cho bị cáo sửa chữa lỗi lầm trở thành người có ích cho xã hội sau này.
[5]. Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử thống không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận việc bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 50.300.000 đồng (Năm mươi triệu, ba trăm nghìn đồng) cho bị hại - bà Nguyễn Thị Kim C. Trong quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường trả số tiền 914.670 đồng (Chín trăm mười bốn nghìn, sáu trăm bảy mươi đồng). Nay ghi nhận bị cáo đồng ý trả số tiền còn lại 49.385.330 đồng (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi đồng) cho bà Nguyễn Thị Kim C.
[7] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 2.469.000 đồng (Hai triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; Điểm b, s Khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H 01 (Một) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 27/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự: áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Ghi nhận bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H đồng ý bồi thường số tiền còn lại 49.385.330 đồng (Bốn mươi chín triệu, ba trăm tám mươi lăm nghìn, ba trăm ba mươi đồng) cho bị hại bà Nguyễn Thị Kim C.
Kể từ khi bà Nguyễn Thị Kim C có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H còn phải chịu khoản tiền lãi tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Thị Mỹ H phải chịu 2.469.000đồng (Hai triệu, bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự được quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7, và 9 Luật Thi hành án dân sự; Điều 7a, 7b Luật sửa đổi bổ sung một số điều Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- TAND TP. Cần Thơ; - VKSND Q. Cái Răng; - C1; - Cơ quan điều tra - Công an Q; - Nhà tạm giữ Công an quận C; - Cơ quan Thi hành án hình sự có thẩm quyền; - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRẦN THỊ HỒNG GẤM |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: XỬ PHẠT GIAM
