Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGHĨA HƯNG

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 14 - 02 - 2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Trọng Ích .

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Đức Chạc.

Bà Dương Thị Vui.

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Quang Hải – Thư ký Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng tham gia phiên toà: Bà Cao Thị Hồng Nhung – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2025/TLST - HS ngày 21 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 đối với:

Bị cáo: Nguyễn Văn H, sinh năm 1991. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Nơi sinh: xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Xóm A, xã N, huyện N, Nam Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1963, đã chết năm 2012 và bà Đàm Thị H2, sinh năm 1968; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai; có vợ là Trần Thị O, sinh năm 1994 (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: Ngày 16/3/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng xử phạt 02 năm 6 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, hình phạt cho cả hai tội là 03 năm 03 tháng tù. Ngày 17/3/2024, chấp hành xong án phạt tù.

Tiền sự: Không

Ngày 13/12/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Nam Định, khởi tố vụ án, khởi tố bị can Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N; có mặt.

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1995; địa chỉ: Xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Mai Thị N1, sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm E, Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 11 năm 2024, Nguyễn Văn H đi bộ qua nhà chị Nguyễn Thị N ở xóm G, xã N, huyện N (H là bạn của chồng chị N) thấy 01 chiếc xe máy điện, sơn màu đen đỏ, nhãn hiệu 133 dựng ở trong sân, H nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe trên để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. Hướng vào nhà hỏi chị N mượn xe đi có việc khoảng 10 đến 15 phút rồi trả, chị N đồng ý. H điều khiển xe đi bán cho chị Mai Thị N1, sinh năm 1990, ở xóm E, Đ, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định với giá 1.350.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết. Sau khi thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, ngày 04/12/2024, Nguyễn Văn H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N bắt giữ, khởi tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. (Bút lục số: 1-2, 4-6, 43-57, 59-62, 63-67)

Tại bản kết luận số 43/KL-HĐĐGTS ngày 13 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N, kết luận: Giá trị hiện tại của 01 xe máy điện, sơn màu đen đỏ, nhãn hiệu 133, đã qua sử dụng là 1.500.000 đồng. (Bút lục số: 19)

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Nguyễn Văn H đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 15/CT-VKS-NH ngày 20/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo như tội danh và điều luật đã nêu. Sau khi đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo từ 12 (mười hai) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để buộc bị cáo phải nộp án phí theo quy định.

Bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai: Đã nhận lại tài sản mà bị cáo đã chiếm đoạt; không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là là chị Mai Thị N1 vắng mặt có lời khai; Không yêu cầu bị cáo trả lại cho chị số tiền là 1.350.000 đồng mà chị đã bỏ ra để mua xe và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu đã được xác lập có trong hồ sơ vụ án cũng như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng đã truy tố bị cáo ra trước phiên toà. Như vậy đã đủ cơ sở xác định: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại nhà chị Nguyễn Thị N ở xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 xe máy điện, sơn màu đen đỏ, nhãn hiệu 133 của chị Nguyễn Thị N có giá trị 1.500.000 đồng. Nguyễn Văn H đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nên hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng truy tố bị cáo ra trước tòa án nhân dân huyện Nghĩa Hưng để xem xét với tội danh và điều luật như đã viện dẫn là có căn cứ theo quy định của pháp luật.
  3. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:
    • [3.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
    • [3.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy: Trong quá trình tại cơ quan điều tra cũng như trước phiên toà hôm nay bị cáo đã khai báo thành khẩn, đã có sự ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
    • Hiện bị cáo đang bị tạm giam do phạm tội khác đang bị các cơ quan tiến hành tố tụng huyện N tỉnh Nam Định điều tra, truy tố và xét xử.
  4. Về mức án đối với bị cáo: Hành vi bị cáo đã thực hiện xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội trong khu vực, gây dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội này nên việc đưa bị cáo ra xét xử công khai, lên án xử lý nghiêm minh là cần thiết nhằm góp phần vào việc đấu tranh phòng chống tội phạm.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù, tập trung cải tạo đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

  1. Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên toà cho thấy bị cáo là người có điều kiện kinh tế còn khó khăn. Vì vậy Hội đồng xét xử không áp dụng hình bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại, Người có quyền lợi liên quan không có yêu cầu bị cáo bồi thường khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
  3. Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe máy điện, sơn màu đen đỏ, nhãn hiệu 133, Cơ quan điều tra Công an huyện N đã trả cho chị Nguyễn Thị N là chủ sở hữu là phù hợp.
    • - Đối với số tiền 1.350.000 đồng, chị N1 không yêu cầu H phải bồi thường nên nên không xem xét giải quyết.
  4. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 6; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
  5. Xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Hưng là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; Bộ luật hình sự;

Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Căn cứ Điều 6; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản";
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án (hiện bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác).
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo; vắng mặt bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho những người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án và người được thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Nghĩa Hưng;
  • - Chi cục Thi hành án huyện Nghĩa Hưng;
  • - UBND xã N;
  • - Bị cáo; bị hại.
  • - Án văn + lưu hồ sơ;
  • - Thi hành án phạt tù.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Trọng Ích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 14/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 8 giờ 30 phút, ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại nhà chị Nguyễn Thị N ở xóm G, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn H có hành vi lừa đảo chiếm đoạt 01 xe máy điện, sơn màu đen đỏ, nhãần hiệu 133 của chị Nguyễn Thị N có giá trị 1.500.000 đồng. Nguyễn Văn H đã bị kết án về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger