Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày 13-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Việt Bắc và bà Mùng Thị Xanh.
  • Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Tiến Tùng - Thư ký Tòa án.
  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 05/2025/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2025/QĐXXST-HS ngày 31/10/2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Tẩn P; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày 15/9/1967; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản V, xã S, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Tẩn Duần S, đã chết và con bà Tẩn Lở M, sinh năm 1953; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; C sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với: Tẩn Lở M, đã chết; Con: Có 04 con, con lớn nhất sinh năm 1995, con nhỏ nhất sinh năm 2008; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 12/7/2025, tạm giam từ ngày 15/7/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay (Có mặt tại điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam khu vực P, Trại tạm giam Công an tỉnh L).

* Người bào chữa cho bị cáo tại điểm cầu thành phần - Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L: Ông Lê Mạnh H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ ngày 11/7/2025, Tẩn Phủ Vảng đi bộ từ nhà lên bản S, xã S, tỉnh Lai Châu để tìm mua Heroine để sử dụng. Tại bản Sin Suối H1, bị cáo gặp và mua được của 01 người đàn ông dân tộc Mông không rõ lai lịch 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng với giá 100.000 đồng. Mua được Heroine bị cáo cất giấu ở túi quần bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Đến 23 giờ ngày 11/7/2025, khi bị cáo đang ở nhà thì Công an xã S đến kiểm tra, phát hiện bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vật chứng thu giữ của bị cáo là 01 gói Heroine, ngay sau đó Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không thu giữ gì.

Tại bản kết luận giám định số 561/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Tẩn Phủ Vảng có tổng khối lượng là 0,113 gam, là ma túy; loại Heroine.

Bản cáo trạng số 04/CT-VKSKV3 ngày 17/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Tẩn Phủ V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 03 năm 02 tháng đến 03 năm 05 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ các điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025 và điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng và vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã mở.

Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nguyên nhân, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xử bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt.

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:

Vào hồi 23 giờ ngày 11/7/2025 tại bản Van Hồ 2, xã S, tỉnh Lai Châu, Tẩn Phủ V đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 01 gói Heroine có tổng khối lượng là 0,113 gam, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã S phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2025. Vì vậy, quan điểm về tội danh, mức hình phạt đối với bị cáo của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa, Hội đồng xét xử xét thấy mức xử phạt theo đề nghị của người bào chữa chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm, bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của người bào chữa.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang nằm trong diện quản lý người sử dụng trái phép chất ma túy của Công an xã S quản lý. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trong và ngoài địa bàn.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Về vật chứng của vụ án:

Đối với 0,113 gam Heroine thu giữ của bị cáo đã gửi toàn bộ đi giám định, không hoàn lại mẫu vật nên không đề cập xử lý.

Vật chứng còn lại gồm:

  • - 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì niêm phong đã mở là các vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[6] Những vấn đề liên quan:

Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.

[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2025;

Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Phủ V phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Phủ V 03 năm 02 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2025.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  4. Về vật chứng:
  5. Tịch thu tiêu hủy 01 mảnh nilon màu hồng, 01 phong bì niêm phong đã mở.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 40 phút ngày 21/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu).

  6. Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND Khu vực 3 – Lai Châu;
  • - THADS tỉnh Lai Châu;
  • - Cơ quan THAHS, Công an tỉnh (PC10);
  • - Trại tạm giam, Công an tỉnh (PC11);
  • - Phòng PC04, Công an tỉnh;
  • - Phòng PV06, Công an tỉnh;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Văn Đoàn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 13/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tẩn Phủ V
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger