Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HUẾ

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 10-3-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trương Thị Đào Vi
  • Thẩm phán: Ông Tôn Minh Hiền
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Tuấn Anh
  • Bà Hoàng Thị Phương Hiền
  • Ông Võ Văn Chinh

- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Ánh, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Huế.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên toà: Ông Bảo Tá- Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Huế, số A đường T, phường P, quận T, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 120/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 269/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Sĩ T; sinh ngày 01/12/1987, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); số CCCD: [...] cấp ngày 09/8/2021 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; nơi thường trú: Tổ A, khu V, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Nơi cư trú hiện nay: A Đ, phường H, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là quận P, thành phố H); Nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn H (đã chết) và bà Lê Thị V, sinh năm 1958; gia đình có 08 người con, bị cáo là con thứ sáu; Chưa có vợ con; tiền sự: Không; tiền án: 01 tiền án;

Ngày 25/11/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 25.000.000 đồng về hành vi đánh bạc theo bản án số 264/2019/HSST.

Ngày 05/8/2024, Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế cung cấp kết quả thi hành án theo công văn số 163/CCTHADS: Nguyễn Sĩ T đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và phạt 25.000.000 đồng, tại Biên lai thu tiền lệ phí số 0323, 1213 ngày 27/5/2024.

Quá trình hoạt động của bị cáo: Từ nhỏ sinh sống với gia đình và học tập tại địa phương hết lớp 12/12. Năm 2005 đến năm 2009, học tại Học viện  nhưng chưa tốt nghiệp thì nghỉ học. Từ năm 2010 đến nay, phụ gia đình làm hương và kinh doanh mua bán trầm hương cho đến ngày phạm tội.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/01/2024 đến nay tại Trại Tạm giam công an tỉnh T (nay là thành phố H), có mặt tại phiên tòa.

- Các bị hại:

  • + Anh Dương Quốc C, sinh năm 1984. Địa chỉ: 3 H, phường A, quận T, thành phố H. Có mặt.
  • + Chị Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1983. Địa chỉ: 0 T, phường P, quận T, thành phố H. Có mặt.
  • + Chị Lê Thị Hồng H1, sinh năm 1978. Địa chỉ: Thôn B, phường T, quận T, thành phố H. Nơi cư trú hiện nay: Ấp P, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Có mặt.
  • + Chị Tôn Nữ Mỹ N1, sinh năm 1993. Địa chỉ: B L, phường X, quận T, thành phố H. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng đầu năm 2022, Nguyễn Sĩ T đăng lên mạng xã hội Facebook với tài khoản cá nhân của mình về việc mở và làm cái các dây hụi với thời hạn 03 tháng 10 ngày (tức là 100 ngày) và 12 tháng mỗi kỳ, cùng với tiền lãi. Người chơi hụi góp tiền trong vòng 100 ngày, chia ra 10 kỳ, một kỳ 10 ngày thì người chơi đóng tiền một lần (tiền hụi và lãi tùy theo từng dây hụi), người chơi có quyền chọn bốc trước hoặc sau và nếu để đến cuối kỳ thì mức tiền lãi sẽ cao hơn (người bốc trước chịu lãi cho người bốc sau) thì có nhiều người chơi tham gia. Quá trình cầm cái, T tiêu thâm tiền góp hụi dẫn đến mất khả năng chi trả cho những người góp hụi. Để có tiền trả nợ hụi, T đưa ra mức lãi hụi cao và lợi dụng mối quan hệ quen biết từ trước rủ người bị hại tham gia chơi hụi rồi chiếm đoạt tiền, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào tháng 10/2022, T rủ anh Dương Quốc C tham gia chơi hụi và sẽ được bốc cuối cùng, tin là thật nên anh C đóng tiền hụi cho T, việc đóng tiền hụi là chuyển tiền vào số tài khoản 0777722284 mở tại Ngân hàng M mang tên Nguyễn Sĩ T, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 29/10/2022, anh C tham gia góp chân hụi thứ nhất có tên B28 với số tiền góp hụi là 2.000.000 đồng/01 ngày, góp trong vòng 100 ngày (tương ứng với 10 kỳ), 10 ngày (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 20.000.000 đồng. Mấy kỳ đầu thì T trả tiền lãi đầy đủ để tạo lòng tin đối với anh C. Đối với chân hụi này, anh C đã đóng được 9 kỳ với tổng số tiền 163.400.000 đồng. Đến kỳ thứ 10 của chân hụi B28 vào ngày 31/01/2023 là thời hạn mà anh C được bốc kỳ hụi cuối cùng, với mục đích chiếm đoạt tài sản và biết bản thân không có khả năng trả nợ nên T đã bỏ trốn.
  • - Lần 2: Trong khi anh C đang góp chân hụi thứ nhất (B28), với mục đích chiếm đoạt tiền của anh C, T tiếp tục đưa ra thông tin chuẩn bị ra thêm chân hụi mới có tên B34, rủ anh C tham gia dây hụi thứ hai dây tên là B với số tiền góp là 2.000.000 đồng/01 ngày góp trong vòng 100 ngày (tương ứng với 10 kỳ), 10 ngày (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 20.000.000 đồng, anh C tin thật nên tham gia. Đối với chân hụi này, sau khi trừ đi tiền lãi được nhận, anh C đã đóng được 5 kỳ (đến ngày 19/01/2023) với tổng số tiền đã đóng là 91.400.000 đồng.

Trong thời gian bỏ trốn (từ tháng 03/2023 đến ngày 22/01/2024), T có chuyển tiền vào tài khoản trả lại cho anh C số tiền 25.000.000 đồng. Như vậy, số tiền mà T đã chiếm đoạt của anh C là 229.800.000 đồng.

Vụ thứ hai: Cũng với thủ đoạn như trên, T rủ chị Nguyễn Thị Hồng N tham gia chơi hụi. Để che đậy mục đích chiếm đoạt tiền và việc mất khả năng chi trả nên T thỏa thuận với chị N sẽ là người bốc hụi cuối cùng và trả lãi đầy đủ, chị N tin thật nên tham gia chơi hụi. Việc đóng tiền hụi là chuyển tiền vào số tài khoản 0777722284 mở tại Ngân hàng M mang tên Nguyễn Sĩ T, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 13/11/2022, chị N tham gia chân hụi thứ nhất có tên B1, với số tiền góp là 3.000.000 đồng/01 ngày góp trong vòng 100 ngày (tương ứng với 10 kỳ), 10 ngày (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 30.000.000 đồng. Sau khi trừ đi tiền lãi, đối với chân hụi này, chị N đã đóng được 7 kỳ (tính đến ngày 13/01/2023) với tổng số tiền đã đóng là 191.100.000 đồng.
  • - Lần 2: Với mục đích chiếm đoạt nhiều tiền hơn, T đã đăng lên mạng xã hội Facebook với nội dung mở chân hụi mới và cần người tham gia. Thấy vậy, chị N tiếp tục tham gia chân hụi thứ hai có tên B, với số tiền góp là 2.000.000 đồng/01 ngày góp trong vòng 100 ngày (tương ứng với 10 kỳ), 10 ngày (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 20.000.000 đồng. Đối với chân hụi này, sau khi trừ đi tiền lãi, chị N đã đóng được 05 kỳ (tính đến ngày 19/01/2023) với tổng số tiền đã đóng là 91.400.000 đồng.

Cuối tháng 01/2023, vì lo sợ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua hình thức kêu gọi góp hụi của mình bị phát hiện nên T đã bỏ trốn. Tổng số tiền chiếm đoạt của chị N là 282.500.000 đồng.

Vụ thứ 3: Do có mối quan hệ mua bán trầm hương với nhau từ trước nên T biết chị Lê Thị Hồng H1 cần tiền để xây nhà. Với mục đích chiếm đoạt tài sản, T rủ chị H1 tham gia góp hụi do mình cầm cái, T thỏa thuận chị H1 là người bốc hụi cuối cùng và trả lãi đầy đủ hàng tháng cho chị H1, chị H1 tin thật nên đồng ý tham gia, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 10/3/2022, chị H1 góp chân hụi thứ nhất có tên N31 góp 200.000 đồng/01 ngày, thời gian góp 12 kỳ (tương ứng với 12 tháng), 01 tháng (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 6.000.000 đồng. Đối với chân hụi này, sau khi trừ đi tiền lãi, chị H1 đã đóng được 11 kỳ (tức 11 tháng, lần góp cuối cùng là ngày 12/01/2023) với tổng số tiền là 57.000.000 đồng.
  • - Lần 2: Vào ngày 15/4/2022, T rủ chị H1 tham gia dây hụi thứ hai có tên N38, góp 100.000 đồng/01 ngày, thời gian góp 12 kỳ (tương ứng với 12 tháng), 01 tháng (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 3.000.000 đồng, chị H1 đồng ý tham gia. Đối với chân hụi này, chị H1 đã đóng được 10 kỳ ( tức 10 tháng, lần góp cuối cùng là ngày 15/01/2023). Sau khi trừ đi tiền lãi, tổng số tiền mà chị H1 đã đóng là 26.000.000 đồng.
  • - Lần 3: Vào ngày 16/11/2022, do biết bản thân còn nợ nhiều người và không có khả năng chi trả và biết chị H1 đang có tiền để xây nhà, T đã tiếp tục rủ chị H1 tham gia góp thêm dây hụi thứ ba có tên B31, với số tiền góp là 3.000.000 đồng/01 ngày góp trong vòng 100 ngày (tương ứng với 10 kỳ), 10 ngày (tức 01 kỳ) đóng tiền hụi một lần với số tiền là 30.000.000 đồng và thống nhất chị H1 là người bốc cuối cùng. Sau khi trừ đi tiền lãi, đối với chân hụi này, chị H1 đã đóng được 8 kỳ (lần góp cuối cùng là ngày 23/01/2023) với tổng số tiền đã đóng là 213.000.000 đồng.
  • - Lần 4: Vào ngày 22/9/2022, với mục đích tiếp tục chiếm đoạt tiền, T đưa ra thông tin là có chân hụi chồng theo để lấy lãi và kêu gọi chị H1 tham gia, T nói sẽ sắp xếp để lấy thêm tiền lãi phụ thêm việc xây nhà, đến cuối năm 2022 bốc lãi một lần, còn nếu chị H1 cần tiền thì gọi sẽ cho bốc trước. Chị H1 tin thật nên chuyển vào tài khoản của T số tiền 240.000.000 đồng.

Tháng 12/2022 chị H1 liên lạc để bốc chân hụi góp 3.000.000 đồng/01 ngày trước nhưng do không có tiền nên T đưa ra thông tin là đã có người bốc hụi trước nên chị H1 không được bốc nữa. Tháng 01/2023, đến thời hạn bốc các chân hụi, chị H1 tiếp tục liên lạc nhưng T lấy lý do chưa gom được tiền và bỏ trốn. Tổng số tiền chiếm đoạt của chị H1 là 536.000.000 đồng.

Vụ 4: Do cần tiền trả nợ các dây hụi do mình làm cái và tiêu xài cá nhân nên T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị Tôn Nữ Mỹ N1 thông qua hình thức bốc hụi. Với mục đích chiếm đoạt tiền, T tham gia các dây của chị Tôn Nữ Mỹ N1 cầm cái, rồi bốc các kỳ đầu để chiếm đoạt tiền, cụ thể:

  • - Lần 1: Ngày 01/7/2022, T tham gia dây hụi thứ nhất có tên N54 với số tiền góp 3.000.000 đồng/ 01 ngày, và chân hụi gồm 12 kỳ (01 năm), mỗi kỳ là 30 ngày, một kỳ góp 90.000.000 đồng. Để chị N1 tin tưởng, T đóng đầy đủ tiền của 03 kỳ hụi đầu tiên với số tiền 236.015.000 đồng (sau khi trừ đi số tiền lãi được nhận). Với mục đích chiếm đoạt tiền, T xin bốc kỳ thứ 4, chị N1 tin thật nên đồng ý cho T bốc với số tiền 809.768.000 đồng (sau khi đã trừ đi phần tiền lãi và tiền của kỳ thứ tư phải đóng). Sau khi chiếm đoạt, T tiếp tục góp kỳ thứ 5 với số tiền 90.000.000 đồng vào ngày 03/11/2022 để chị N1 tin tưởng. Số tiền T chiếm đoạt của N1 là 483.753.000 đồng (đã trừ đi phần tiền T đóng).
  • - Lần 2: Vào ngày 25/7/2022, T tiếp tục tham gia dây hụi có tên NG2 do chị N1 cầm cái với số tiền góp là 2.000.000 đồng/01 ngày, và góp trong 12 tháng, chân hụi có 12 kỳ (mỗi kỳ là 30 ngày). Cũng với mục đích tạo sự tin tưởng, T đóng đầy đủ tiền 02 kỳ hụi đầu tiên với số tiền 107.500.000 đồng sau khi trừ đi số tiền lãi được nhận. T xin bốc hụi kỳ thứ 3 với số tiền là 551.001.000 đồng. Sau khi chiếm đoạt, T tiếp tục góp kỳ thứ 4 với số tiền 60.000.000 đồng vào ngày 25/10/2022. Sau khi trừ tiền lãi, tiền đóng hụi trước đó, T đã chiếm đoạt của chị N2 số tiền 383.501.000 đồng.
  • - Lần 3: Cũng với mục đích như trên, vào ngày 27/9/2022 T tiếp tục tham gia dây hụi N57 do chị N1 cầm cái với số tiền góp hụi 5.000.000 đồng/01 ngày. Dây hụi gồm 10 kỳ, mỗi kỳ 30 ngày, số tiền góp trong 01 kỳ là 150.000.000 đồng. T đóng đầy đủ tiền hụi của 03 kỳ đầu tiên số tiền 336.391.000 đồng sau khi trừ đi số tiền lãi được nhận. T xin bốc hụi kỳ thứ 4 với số tiền 1.170.000.000 đồng. Chị N1 đã trừ đi phần tiền lãi, tiền đóng hụi kỳ 04 và tiền nợ trước đó rồi chuyển vào tài khoản của T số tiền 500.000.000 đồng. Sau khi trừ số tiền đóng hụi, tiền lãi, T chiếm đoạt của chị N số tiền 163.609.000 đồng.

Tháng 01/2023, T cắt mọi thông tin liên lạc, đã bỏ trốn vào thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian bỏ trốn (từ tháng 11/2023 đến ngày 22/01/2024), T có chuyển vào tài khoản của N1 03 lần với tổng số tiền 15.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền chiếm đoạt của chị N1 là 1.015.863.000 đồng.

Tất cả các bị hại đều đóng góp tiền hụi và trả tiền bốc hụi của bị cáo thông qua việc chuyển khoản đến tài khoản 0777722284 ngân hàng M mang tên Nguyễn Sĩ T.

Tổng số tiền mà Nguyễn Sĩ T đã chiếm đoạt của các bị hại là 2.064.163.000 đồng.

* Vật chứng vụ án:

  • - Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Sĩ T: 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, IMEI: 356558104955791; IMEI2: 356558104990921. Phía sau đã bị nức bể mặt kính, điện thoại đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong máy (Đã niêm phong).
  • - Thu giữ từ chị Lê Thị Hồng H1: 01 (một) tập sao kê tài khoản ngân hàng S chi nhánh T1, số tài khoản: 040037781020, tên chủ tài khoản Lê Thị Hồng H1 gồm 10 trang.
  • - Thu giữ từ chị Nguyễn Thị Hồng N: 01 (một) tập sao kê tài khoản ngân hàng V1 chi nhánh T1, số tài khoản: 102875732625, tên chủ tài khoản: Nguyễn Thị Hồng N gồm 07 tờ.
  • - Thu giữ từ chị Tôn Nữ Mỹ N1: 01 (một) tập tài liệu được in ra bằng giấy A4 được đánh số thứ tự từ 01 đến 11 và có chữ ký xác nhận của chị Tôn Nữ Mỹ N1, 01 (một) tập sao kê tài khoản ngân hàng M chi nhánh T1, số tài khoản: 757575888888, tên chủ tài khoản: Tôn Nữ Mỹ N1.

* Xử lý vật chứng:

  • - Đưa vào hồ sơ vụ án các tài liệu là chứng từ, tài liệu sao kê ngân hàng.
  • - Chuyển vật chứng là 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, IMEI: 356558104955791; IMEI2: 356558104990921, để đảm bảo việc xét xử.

* Về trách nhiệm dân sự: Anh Dương Quốc C yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 229.800.000 đồng, chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 282.500.000 đồng, chị Lê Thị Hồng H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 536.000.000 đồng, chị Tôn Nữ Mỹ N1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 1.015.863.000 đồng; đến nay T chưa bồi thường cho các bị hại.

Tại bản Cáo trạng số 72/CT-VKSTTH-P2 ngày 16/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tào sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế giữ nguyên quan điểm luận tội theo như cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Sĩ T và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về trách nhiệm hình sự:

  • - Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T từ 13( mười ba) năm tù đến 14 (mười bốn) năm tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Sĩ T phải trả lại cho các bị hại số tiền đã chiếm đoạt gồm anh Dương Quốc C số tiền 229.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 282.500.000 đồng; chị Lê Thị Hồng H1 số tiền 536.000.000 đồng và chị Tôn Nữ Mỹ N1 số tiền 1.015.863.000 đồng.

- Về xử lý vật chứng của vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, IMEI: 356558104955791; IMEI2: 356558104990921.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo Nguyễn Sĩ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Sĩ T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố đồng thời xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, khẳng định các hành vi và quyết định tố tụng đã được thực hiện hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của các bị hại và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng công khai tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:

Trong khoảng thời gian từ tháng 10 năm 2022 đến đầu tháng 01 năm 2023, tại tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H), bị cáo Nguyễn Sĩ T đã đưa thông tin gian dối về việc góp hụi được trả lãi cao để các bị hại anh Dương Quốc C, chị Nguyễn Thị Hồng N, chị Lê Thị Hồng H1 tin là thật và đóng tiền hụi, nhưng sau đó không trả tiền hụi như đã cam kết mà đã chiếm đoạt tài sản của các bị hại trên. Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Sĩ T còn tham gia các dây hụi do chị Tôn Nữ Mỹ N1 cầm cái, xin bốc hụi ở những kỳ đầu tiên, sau đó không tiếp tục góp hụi mà chiếm đoạt tiền rồi bỏ trốn. Cụ thể, Nguyễn Sĩ T đã chiếm đoạt của anh Dương Quốc C số tiền 229.800.000 đồng, chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 282.500.000 đồng, chiếm đoạt của chị Lê Thị Hồng H1 số tiền 536.000.000 đồng và chiếm đoạt của chị Tôn Nữ Mỹ N1 số tiền 1.015.863.000 đồng. Tổng số tiền mà bị cáo T chiếm đoạt được của các bị hại là 2.064.163.000 đồng, số tiền này T dùng vào việc tiêu xài cá nhân và trả nợ hết.

Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Sĩ T đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng số: 72/CT-VKSTTH-P2 ngày 16/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã truy tố bị cáo Nguyễn Sĩ T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Sĩ T, thấy rằng:

Bị cáo T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã từng bị xét xử về tội “Đánh bạc” nhưng không chịu khó rèn luyện tu dưỡng bản thân, nhận thức được hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam và muốn có tiền tiêu xài nên dẫn đến hành vi phạm tội. Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Do đó cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo Nguyễn Sĩ T, thấy rằng:

Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã có 01 tiền án.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã nhiều lần dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác nên đã phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “phạm tội 02 lần trở lên”, bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích mà tiếp tục phạm tội do cố ý nên phạm vào các tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5]. Về biện pháp chấp hành hình phạt: Sau khi xem xét, đánh giá tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa, bị hại anh Dương Quốc C yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 229.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hồng N yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 282.500.000 đồng, chị Lê Thị Hồng H1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 536.000.000 đồng và chị Tôn Nữ Mỹ N1 yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 1.015.863.000 đồng nên Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 579, 580, 585, 586, và 589 Bộ luật Dân sự, buộc bị cáo Nguyễn Sĩ T phải trả lại cho các bị hại anh Dương Quốc C số tiền 229.800.000 đồng; chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 282.500.000 đồng; chị Lê Thị Hồng H1 số tiền 536.000.000 đồng và chị Tôn Nữ Mỹ N1 số tiền 1.015.863.000 đồng mà bị cáo đã chiếm đoạt.

[7] Về xử lý vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để xử lý như sau:

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, IMEI: 356558104955791; IMEI2: 356558104990921, số lượng: 1 cái; đặc điểm: Phía sau đã bị nức bể mặt kính, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong máy; tình trạng: Đã được niêm phong; là công cụ bị cáo T dùng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

(Vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là thành phố H) và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H).

[8] Về án phí:

- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Sĩ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Sĩ T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Dương Quốc C, chị Nguyễn Thị Hồng N, chị Lê Thị Hồng H1 và chị Tôn Nữ Mỹ N1 nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải bồi thường thiệt hại 2.064.163.000 là 72.000.000 đồng + (2% x 64.163.000 đồng ) = 73.283.260 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Sĩ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

    Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Sĩ T 12 (mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 22/01/2024.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các Điều 579, 580, 585, 586, và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

    Buộc bị cáo Nguyễn Sĩ T phải bồi thường cho bị hại anh Dương Quốc C số tiền 229.800.000 đồng; bồi thường cho chị Nguyễn Thị Hồng N số tiền 282.500.000 đồng; bồi thường cho chị Lê Thị Hồng H1 số tiền 536.000.000 đồng và bồi thường cho chị Tôn Nữ Mỹ N1 số tiền 1.015.863.000 đồng.

    Kể từ ngày bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án chưa thi hành xong số tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm một khoản tiền lãi, theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2, Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
    • - Tịch thu, sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone11, IMEI: 356558104955791; IMEI2: 356558104990921, số lượng: 1 cái; đặc điểm: Phía sau đã bị nức bể mặt kính, đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng bên trong máy; tình trạng: Đã được niêm phong;
    • (Vật chứng nói trên có đặc điểm theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 06/12/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T (nay là thành phố H) và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H)).
  4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
    • - Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Sĩ T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
    • -Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Sĩ T phải chịu 73.283.260 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

* Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND thành phố Huế;
  • - Phòng PV06 CA thành phố Huế;
  • - Trại tạm giam CA thành phố Huế;
  • - Sở Tư pháp;
  • - CQĐT CA thành phố Huế;
  • - CQ THAHS CA thành phố Huế;
  • - Cục THADS thành phố Huế;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu HSVA, THS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Đào Vi

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Tôn Minh Hiền Trương Thị Đào Vi
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 10/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về hình sự sơ thẩm (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Sĩ T phạm tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger