TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH TỈNH CAO BẰNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 09/2025/HS -ST Ngày: 08-4-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nông Thanh Chuyên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lãnh Thị Muôn
Bà Hoàng Thị Tuyết
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Dũng – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Bà Nông Thùy Diệu - Kiểm sát viên
Ngày 08 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Đặng Xuân T, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 28/6/1996, tại Ngân Sơn, Bắc Kạn.
HKTT:Thôn Tát Rịa, xã Cốc Đán, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn; Nơi tạm trú: xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Dao; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đặng Tiến S, sinh năm 1964 và bà Triệu Thị Ú, sinh 1964; Vợ: Triệu Thị P, sinh năm 1996; Con: bị cáo có 01 con sinh năm 2024; Anh chị em ruột: Bị cáo có 03 anh chị em, bị cáo là con út; Tiền án, Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 25/12/2024 cho đên nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG CỦA VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút, ngày 15/12/2024, Công an huyện N nhận tin báo của quần chúng nhân dân về việc Đặng Xuân T, (sinh năm 1996, trú tại xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng) có hành vi đánh bạc trên không gian mạng bằng điện thoại di động. Công an huyện N đã tiến hành làm việc với Đặng Xuân T, phát hiện T đang sử dụng 01 điện thoại cảm ứng nhãn hiệu OPPO màu đen để vào phần mềm ứng dụng HITCLUB để đánh bạc, Công an đã lập biên bản sự việc, thu giữ điện thoại.
Cùng ngày, Cơ quan điều tra ( CQĐT) đã tiến hành kiểm tra điện thoại di động thu giữ được. Quá trình kiểm tra điện thoại phát hiện: Đặng Xuân T đã sử dụng điện thoại trên kết nối mạng internet truy cập vào ứng dụng "HITCLUB", tài khoản có tên đăng nhập: "100met9996", Mật khẩu: “123123123”; Tên hiển thị “100met9996”; Số dư 0đ. Tài khoản của ứng dụng "HITCLUB" có liên kết số tài khoản 8891001344 thuộc ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ (B1) của Đặng Xuân T để nạp và rút tiền tham gia đánh bạc trên ứng dụng này. Lịch sử lần chơi hiển thị kết quả từ ngày 11/12/2024 đến ngày 15/12/2024 tài khoản đăng nhập của T có 04 mục trò chơi có hiển thị lịch sử lần chơi, gồm các mục trò chơi: " Tài xỉu", " tài xỉu MD", " xóc đĩa", " minipoker".
Quá trình điều tra, Đặng Xuân T khai nhận:
Khoảng đầu tháng 12/2024, T sử dụng điện thoại của mình lên mạng internet rồi đăng nhập vào website có chữ "http://web.hit.club” tải ứng dụng ở trên website này về điện thoại di động, rồi đăng ký tài khoản để đăng nhập vào ứng dụng để tham gia chơi đánh bạc ăn tiền. Sau khi T tạo lập và đăng nhập được vào trong tài khoản trên ứng dụng “HITCLUB” thì tài khoản sẽ tự lưu để tự động đăng nhập những lần tiếp theo. Số tiền mà T cược thắng hoặc cược thua sẽ được cộng hoặc trừ vào tiền cược chung trong tài khoản trên ứng dụng. Tỉ lệ thắng tiền cược của mỗi trò chơi không giống nhau và do nhà cái quy định.
Về cách thức nạp, rút tiền: Trình vào ứng dụng, phần cá nhân, bấm vào lệnh nạp tiền, chọn hình thức nạp qua QRcode, và nhập số tiền, sau đó nhà cái sẽ tạo một giao dịch QRcode, T lưu QRcode về máy rồi vào ứng dụng ngân hàng B1 để quét QRcode rồi chuyển tiền. Khoảng một lúc sau tiền từ tài khoản ngân hàng sẽ được chuyển thành tiền trên tài khoản đánh bạc để cá cược. Quy ước đổi tiền là nạp số tiền bao nhiêu thì tài khoản của ứng dụng sẽ có số tiền tương ứng (tỷ lệ 1-1). Khi cần rút tiền trên tài khoản “100met9996” thì T bấm vào lệnh rút tiền trên “100met9996”, nhập số tiền muốn rút và mật khẩu rút tiền, rồi đợi khoảng vài phút sau thì tiền từ tài khoản đánh bạc sẽ được chuyển vào tài khoản ngân hàng của T.
Trong ngày 11/12/2024 T đã nạp tiền từ tài khoản ngân hàng vào tài khoản “100met9996” trên ứng dụng “HITCLUB” 02 lần với tổng số tiền là 600.000₫ để thực hiện hành vi cá cược trên ứng dụng, không phát hiện giao dịch lịch sử rút tiền trên ứng dụng. Trong khoảng thời gian từ 11 giờ 58 phút đến 12 giờ 35 phút Trình đánh bạc tổng 66 ván gồm các trò "Tài xỉu", "minipoker", T1 xỉu MD5" và "Xóc đĩa". Số tiền T dùng để đặt cược là 6.055.440đ, số tiền thắng là 2.491.190đ, số tiền thua là 3.084.190đ. Tổng số tiền T dùng đề đánh bạc là 8.546.630đ. Tại cơ quan điều tra, T thừa nhận hành vi phạm tội, lời khai phù hợp với các chứng cứ thu giữ được.
Ngày 23/12/2024 Cơ quan CSĐT Công an huyện đã gửi Công văn số 325/CV-CSĐT đến Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Cao B để xác định về tính hợp pháp của trang website "http://web.hit.club”.Tại Công văn trả lời số 2344 ngày 30/12/2024 của Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh C xác định trang website trên là tên miền quốc tế, không được cấp và quản lý bởi các tổ chức đăng ký tên miền tại Việt Nam.
Về vật chứng, tài sản tạm giữ gồm: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen (đã qua sử dụng) đã được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N chuyển Chi cục thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình theo đúng quy định (có biên bản kèm theo).
Hành vi của Đặng Xuân T đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng truy cứu trách nhiệm hình sự về tội: “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại bản cáo trạng số 12/CT-VKSNB ngày 05 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Đặng Xuân T thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Đặng Xuân T về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.
- - Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65, của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
- - Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự để xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- - Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T là thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên đề nghị miễn án phí cho bị cáo theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Đặng Xuân T không có ý kiến tranh luận đối với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Khi nói lời sau cùng, bị cáo nhận thấy hành vi của mình là sai, các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đặng Xuân T không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tung. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội và tình tiết định khung của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Đặng Xuân T phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra vụ án như: Lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, biên bản bắt người phạm tội quả tang. Từ các tài liệu, chứng cứ nêu trên đã có đủ căn cứ kết luận:
Ngày 11/12/2024, tại Tổ dân phố A, Thị trấn N, huyện N, tỉnh Cao Bằng. Đặng Xuân T đã có hành vi sử dụng điện thoại di động để đánh bạc trên không gian mạng qua phần mềm “HITCLUB”. T đã sử dụng số tài khoản B1 8891001344 của mình, nạp 02 lần với tổng số tiền 600.000đ và thực hiện hành vi đánh bạc, đặt cược là 6.055.440đ, số tiền thắng là 2.491.190đ; tổng số tiền đánh bạc là 8.546.630đ. Hành vi của bị cáo Đặng Xuân T đủ cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự
Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nguyên Bình truy tố các bị cáo Đặng Xuân T về tội “Đánh bạc” theo điểm c khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị:
- Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65, của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 năm.
Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo:
- - Về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.
- - Về tình tiết tăng nặng: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo nộp tiền phạt tại Chi cục Thi hành án dân sự số tiền 10 triệu đồng nên cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi đánh bạc của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội. bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi đánh bạc bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố tình thực hiện. Từ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhận thấy bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt giấy triệu tập của cơ quan tiến hành tố tụng, số tiền bị cáo đánh bạc không lớn vì vậy do đó không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP cuat Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cáo và Văn bản hợp nhất số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự về án treo nên cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương theo dõi giám sát cũng đủ điều kiện để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội, có thời gian lao động sản xuất mà vẫn đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO màu đen, đã được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi “Điện thoại của Đặng Xuân T SN: 1996 trú tại xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng” mặt sau có các chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng. Đây là phương tiện bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc nên cần tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước.
[6] Các nhận định khác:
Trong vụ án này, đối với các đối tượng điều hành trang web đánh bạc và các đối tượng đứng tên tài khoản ngân hàng đối ứng với Đặng Xuân T trong các giao dịch đánh bạc, Cơ quan CSĐT đã tiến hành các biện pháp điều tra, xác minh nhưng chưa có kết quả. Hiện nay đang tiếp tục điều tra làm rõ, nếu có căn cứ sẽ xử lý trong vụ án khác.
[7] Về án phí: Bị cáo Đặng Xuân T thuộc hộ nghèo và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.
Ý kiến luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đặng Xuân T phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án là ngày 08/4/2025.
Giao bị cáo Đặng Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án phối hợp với chính quyền địa phương giúp đỡ, quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Truy thu số tiền 8.546.630 đồng (Tám triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi đồng) đối với bị cáo Đặng Xuân T. Nhưng được trừ đi số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003607 ngày 03/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo được hoàn lại số tiền 1.453.370 đồng (Một triệu bốn trăm năm mươi ba nghìn ba trăm bảy mươi đồng) trong số tiền 10.000.000 đồng nói trên.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu phát mại xung quỹ Nhà nước 01 (một) điện thoại di động đã qua sử dụng nhãn hiệu OPPO màu đen, đã được niêm phong trong phong bì mặt trước ghi “Điện thoại của Đặng Xuân T SN: 1996 trú tại xóm N, xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng” mặt sau có các chữ ký của người tham gia niêm phong và đóng dấu giáp lai của cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, tỉnh Cao Bằng.
(Số vật chứng này hiện đang ở Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 17 ngày 26/02/2025)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Đặng Xuân T được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Báo quyền kháng cáo cho bị cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Lãnh Thị Muôn Hoàng Thị Tuyết | Nông Thanh Chuyên |
Nơi nhận:
| T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Nông Thanh Chuyên |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 08/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG về hình sự (đánh bạc)
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGUYÊN BÌNH, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Xuân T 03 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 năm kể từ ngày tuyên án là ngày 08/4/2025. Giao bị cáo Đặng Xuân T cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện N, tỉnh Cao Bằng giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án phối hợp với chính quyền địa phương giúp đỡ, quản lý, giám sát bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Truy thu số tiền 8.546.630 đồng (Tám triệu năm trăm bốn mươi sáu nghìn sáu trăm ba mươi đồng) đối với bị cáo Đặng Xuân T. Nhưng được trừ đi số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) mà bị cáo đã nộp theo biên lai thu tiền số 0003607 ngày 03/3/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Bị cáo được hoàn lại số tiền 1.453.370 đồng (Một triệu bốn trăm6 năm mươi ba nghìn ba trăm bảy mươi đồng) trong số tiền 10.000.000 đồng nói trên
