Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VĨNH THẠNH

TỈNH BÌNH ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-ST

Ngày: 07-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mai Đào

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Trần Thị Ánh Chung

Bà Phạm Thị Nhung

Thư ký phiên tòa: Chị Nguyễn Lê Nhật Hoàng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Bạch Nam Chu Lai - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai trực tiếp vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/TLST-HS ngày 01/11/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 13/12/2024, các Thông báo mở lại phiên tòa số 03/2025/TB-TA ngày 06/01/2025, số 05/2025/TB-TA ngày 13/01/2025, số 06/2025/TB-TA ngày 07/02/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thanh T. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam; Sinh ngày 25/6/1967 tại: C, Hải Dương. Nơi cư trú: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Số căn cước công dân: [...] cấp ngày 06 tháng 4 năm 2023. Nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội – Bộ C6. Trình độ học vấn: 10/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Họ tên cha: Huỳnh C (đã chết). Họ tên mẹ: Đỗ Thị N (đã chết). Họ tên vợ: Đặng Thị Thu H, sinh năm 1971 (đã ly hôn). Có 06 con: lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất sinh năm 2023. Tiền sự: 01 (một) tiền sự về hành vi: “Đánh bạc trái phép” theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số: 20/QĐ-XPHC, ngày 26/4/2023 của Công an huyện V, tỉnh Bình Định. Tiền án: Không. Bị cáo Huỳnh Thanh T bị tạm giam từ ngày 11/7/2024 đến nay – Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Cao C1, sinh năm: 1982, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Huỳnh Thanh T: Ông Lâm Thanh T1 – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Võ Thị L, sinh năm: 1993, địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – Vắng mặt, ủy quyền cho ông Nguyễn Cao C1 tham gia tố tụng tại phiên tòa theo Giấy ủy quyền ngày 31/12/2024.
  2. Anh Đặng Ngọc T2, sinh năm; 1995, địa chỉ: Số A L, thành phố Q, tỉnh Bình Định – Vắng mặt.
  3. Chị Huỳnh Thị H1, sinh năm: 1995, địa chỉ: Số A L, thành phố Q, tỉnh Bình Định – Vắng mặt.
  4. Chị Lê Nữ Như H2, sinh năm: 1995, địa chỉ: K, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Định – Vắng mặt.
  5. Ông Ngô Bá C2, sinh năm: 1975, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt.
  6. Chị Tô Thị Mỹ L1, sinh năm: 1990, địa chỉ: Thôn A, xã V, huyện V, tỉnh Bình Định – Có mặt.
  7. Cháu Huỳnh Thanh Như Ý, sinh năm: 2007, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – Vắng mặt.
  8. Anh Huỳnh Thanh C3, sinh năm: 1989, địa chỉ: Khu phố Đ, thị trấn V, huyện V, tỉnh Bình Định – Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa tháng 7/2023, trong lúc ngồi uống cà phê tại quán C7 thuộc xã V, huyện V, tỉnh Bình Định, Nguyễn Cao C1 kể cho Huỳnh Thanh T việc Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đang thụ lý giải quyết vụ án Hôn nhân gia đình (chia tài sản sau khi ly hôn) giữa C1 với vợ cũ là Lê Thị C4. Đồng thời, C1 muốn được chia tài sản với tỷ lệ 50/50. C1 nói với T: “Anh có quen biết chỗ nào giúp em được chia tài sản 50/50, cỡ một trăm triệu đổ lại thì em lo được”. Nghe vậy, T nảy sinh ý định lợi dụng sự quen biết và lòng tin để lừa đảo lấy tiền của C1. T nói: “Để anh về hỏi xem người quen của anh dưới tỉnh có giúp được em hay không rồi anh báo lại sau” thì C1 đồng ý, hai bên thỏa thuận với giá khoảng một trăm triệu đồng.

Vài ngày sau, Tình yêu cầu C1 đưa những tài liệu có liên quan đến vụ án trên để T đưa cho người quen xem thử có giúp được hay không thì C1 đưa bản phô tô các tài liệu liên quan đến vụ án trên cho T. Sau khi nhận được tài liệu thì T vứt bỏ hết những tài liệu này chứ không có đưa tài liệu cho ai theo như hứa hẹn. Sau đó, để thực hiện hành vi lừa đảo và tạo lòng tin, T nói dối với Đặng Ngọc T2 (cháu rể của T - sinh năm: 1995, trú: số A L, thành phố Q, tỉnh Bình Định) rằng tài khoản ngân hàng của T bị lỗi nên xin số tài khoản ngân hàng của T2 để bạn của T chuyển tiền vào rồi nhờ T2 chuyển tiền lại vào tài khoản ngân

hàng A số: 4313205011347 của T. Nghe vậy, T2 tưởng thật và đưa số tài khoản ngân hàng V: 9377867171 của mình cho T. Sau đó, T liên lạc và nói dối với C1 rằng người quen ở tỉnh đã đồng ý giúp và yêu cầu C1 đưa tiền cho người quen của T lo công việc. Lúc này, C1 hỏi là đưa tiền mặt hay đưa bằng hình thức nào thì T nhắn tin số tài khoản ngân hàng của T2 cho C1 và nói số tài khoản này là của lính người quen mà T đang nhờ lo công việc giúp. Đến sáng ngày 31/7/2023, C1 nhờ vợ là Võ Thị L chuyển số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản của T2. Sau khi chuyển tiền xong, C1 chụp màn hình thể hiện nội dung đã chuyển tiền, gửi qua tài khoản zalo của T. Sau khi biết C1 đã chuyển tiền, T gọi điện thoại cho T2 yêu cầu T2 chuyển số tiền 20.000.000 đồng trên lại vào tài khoản của T nhưng không liên lạc được. Lúc này, T gọi điện thoại cho Huỳnh Thị H1 (là vợ của T2) nói dối với H1 là bạn của T vừa chuyển tiền vào tài khoản của T2 và nhờ H1 chuyển tiền ngược lại vào tài khoản ngân hàng của T. Nghe vậy, H1 tưởng thật nên đã dùng điện thoại của T2 chuyển tiền nhưng ngân hàng bị lỗi không chuyển được. Do đó, H1 nhờ bạn là Lê Nữ N1 H2 chuyển giúp số tiền 20.000.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của T thì H2 đồng ý. Tiếp đó, từ tháng 8/2023 đến tháng 12/2023, T dùng thủ đoạn gian dối yêu cầu C1 tiếp tục chuyển tiền 06 lần nữa cho đến khi đủ số tiền 100.000.000 đồng như thỏa thuận ban đầu. Sau mỗi lần C1 chuyển tiền vào tài khoản của T2 thì T liên lạc với T2 và nói dối là bạn của T vừa chuyển tiền vào tài khoản của T2 nên nhờ T2 chuyển tiền ngược lại vào tài khoản ngân hàng của T. Cụ thể các lần chuyển như sau: ngày 18/8/2023 chuyển 20.000.000 đồng; ngày 09/9/2023 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 02/10/2023 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 03/10/2023 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 07/11/2023 chuyển 10.000.000 đồng; ngày 07/12/2023 chuyển 20.000.000 đồng.

Đến ngày 28/12/2023, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định gọi điện cho C1 thông báo về lịch xét xử phúc thẩm đối với vụ án Hôn nhân gia đình. C1 kể lại sự việc này cho T nghe thì Tình yêu cầu C5 gửi số điện thoại của Thư ký đó để T liên hệ. Đến trưa ngày 29/12/2023, T đến trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định chụp hình ảnh cổng của Tòa án và gửi qua zalo và nói dối là T đã nói chuyện với Thư ký và cam kết kết quả xét xử sẽ như C5 mong muốn.

Đến ngày 31/01/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định tiến hành xét xử phúc thẩm, kết quả bác đơn kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên C5 liên lạc với T hỏi vì sao kết quả xét xử không theo như thỏa thuận lúc ban đầu giữa hai bên, nhưng T cố ý né tránh không trả lời. Thời gian sau đó, C5 nhiều lần gặp và đòi tiền nhưng T cứ hứa hẹn không chịu trả. Đến khoảng cuối tháng 3/2024 vì nghi ngờ T lừa đảo để lấy tiền nên bà Võ Thị L có liên lạc với Đặng Ngọc T2 để hỏi sự việc thì mới biết được T đã lừa đảo chiếm đoạt tài sản của C5. Biết mình bị lừa nên ngày 06/5/2024, C5 làm đơn tố giác tội phạm gửi đến Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh.

Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Thanh T đã thừa nhận toàn bộ hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên. Số tiền 100.000.000 đồng đã chiếm đoạt được T sử dụng như sau: rút 65.550.000 đồng để tiêu xài cá nhân; chuyển 15.000.000

đồng cho Ngô Bá C2 (bạn) để trả nợ; chuyển cho Tô Thị Mỹ L1 (người yêu, sống chung như vợ chồng) 9.200.000 đồng; chuyển cho Huỳnh Thanh Như Ý (con ruột) 1.600.000 đồng; chuyển cho Huỳnh Thanh C3 (con ruột) 6.000.000 đồng. Khi chuyển tiền cho những người nêu trên, T không có nói cho những người này biết số tiền mà mình chuyển là do lừa đảo mà có. Số tiền còn lại 2.650.000 đồng Tình dùng để nạp tiền điện thoại, mua hàng online và các chi phí khác. Tuy nhiên, do thời gian đã lâu nên không nhớ rõ số tiền này dùng vào những giao dịch nào, chuyển tiền cho ai.

Về vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh tím, hiệu OPPO loại OPPO A92, IMEI 1: 862251053728313, số IMEI 2: 862251053728305, bên trong không có gắn thẻ sim (không kiểm tra chi tiết bên trong).

Bản cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 31 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định đã truy tố bị cáo Huỳnh Thanh T về tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về hình sự:

  • + Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
  • + Đề nghị áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị tuyên phạt bị cáo Huỳnh Thanh T mức án 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2024

- Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Bộ luật Dân sự, tuyên Huỳnh Thanh T bồi thường thiệt hại cho Nguyễn Cao C1 số tiền 100.000.000 đồng, số tiền 10 triệu đồng bị cáo đã nộp tiếp tục giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tuyên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động OPPO A92 màu xanh tím của bị cáo Huỳnh Thanh T.

Ý kiến của bị cáo: Thống nhất theo bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất theo bản luận tội của Viện kiểm sát, nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét thêm các tình tiết: Bị hại C1 cũng có một phần lỗi vì ông C1 đã gợi ý, đặt vấn đề nhờ bị cáo liên hệ giúp để giải quyết chia tài sản chung sau khi ly hôn với bà C3 theo hướng có lợi cho ông C1; Bản thân bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, nhân thân bị cáo không xấu, bị cáo đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều

54 Bộ luật Hình sự, cân nhắc xử dưới khung hình phạt, tuyên phạt bị cáo T mức án từ 12 đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2024.

Ý kiến của bị hại C1: Về hình sự: Đề nghị Tòa án xử bị cáo nghiêm theo đúng quy định của pháp luật. Theo tôi, lẽ ra bị cáo T phải nhận mức án từ 3,5 năm tù trở lên mới thỏa đáng; Về dân sự: Đề nghị Tòa án giải quyết buộc bị cáo T bồi thường đủ số tiền đã chiếm đoạt của tôi là 100.000.000 đồng.

Ý kiến của người tham gia tố tụng khác trong vụ án: Đều giữ nguyên lời khai có trong hồ sơ vụ án.

Lời nói sau cùng của bị cáo: “Trong thời gian bị tạm giam, bị cáo đã suy nghĩ nhiều và tự nhận thấy hành vi của mình là sai với pháp luật, sai với bị hại. Bị cáo mong muốn Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình, một phần bị cáo cũng đã lớn tuổi, các con còn nhỏ tuổi; Cho bị cáo sớm ra tù để đi làm kiếm tiền, khắc phục hậu quả cho bị hại. Bị cáo xin lỗi bị hại C1”.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng thời gian từ giữa tháng 7/2023 đến tháng 12/2023, để có tiền tiêu xài cá nhân, Huỳnh Thanh T đã lợi dụng sự tin tưởng của Nguyễn Cao C1 nên có hành vi gian dối cho rằng mình có người quen làm việc tại tỉnh Bình Định có thể can thiệp, giải quyết giúp vụ án Hôn nhân gia đình (chia tài sản sau khi ly hôn) giữa ông C1 với bà C3 theo hướng có lợi cho C1, để chiếm đoạt với tổng số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng).

Hành vi trên của Huỳnh Thanh T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đã phạm vào tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh đã truy tố;

[3]. Xét bị cáo T không có tình tiết tăng nặng; Bị cáo T có các tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyện bồi thường một phần thiệt hại; Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Có cha ruột (Huỳnh C) là người có công cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất, bị cáo có con nhỏ dưới 36

tháng tuổi, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;

Tuy nhiên, bị cáo T đưa ra thông tin gian dối nhận tiền để “chạy án”, mặc dù bị cáo không dùng tiền để “chạy án” thật nhưng thủ đoạn lừa đảo này của bị cáo phần nào ảnh hưởng gây dư luận không tốt đến uy tín của các cơ quan tư pháp trong tỉnh. Vì vậy, cần phải phạt bị cáo mức án nghiêm khắc để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4]. Về trách nhiệm dân sự: Xét, bị hại Nguyễn Cao C1 yêu cầu bị cáo Huỳnh Thanh T bồi thường thiệt hại với số tiền là 100.000.000 đồng là hoàn toàn có cơ sở nên chấp nhận; Ngày 10/01/2025, bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng, nên bị cáo phải tiếp tục bồi thường 90.000.000 đồng cho bị hại C1, là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 Bộ luật Dân sự.

[5]. Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh tím, hiệu OPPO loại OPPO A92, IMEI 1: 862251053728313, số IMEI 2: 862251053728305, bên trong không có gắn thẻ sim của bị cáo Huỳnh Thanh T là công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[6]. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

[7]. Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên được chấp nhận.

[8]. Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc xử dưới khung đối với bị cáo, nhưng Hội đồng xét xử đã nhận định như trên, cần đảm bảo sự nghiêm minh, tính răn đe, nên không được xét chấp nhận.

[9]. Ghi nhận ý kiến của bị hại về việc yêu cầu Hội đồng xét xử xem xét xử nghiêm đối với bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174; điểm a khoản 1 Điều 47; khoản 1 Điều 48; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);

Căn cứ các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106; các Điều 135,136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 23; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội,

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Huỳnh Thanh T 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam từ ngày 11/7/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự:
    • - Tuyên buộc bị cáo Huỳnh Thanh T phải bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Cao C1 số tiền 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng); Khấu trừ số tiền bị cáo đã bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), buộc bị cáo T còn phải tiếp tục bồi thường 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng) cho bị hại C1.
    • - Tiếp tục tạm giữ số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) theo Biên lai thu tiền số 0003519 ngày 10/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định để đảm bảo thi hành án.
  4. Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng màu xanh tím, hiệu OPPO loại OPPO A92, IMEI 1: 862251053728313, số IMEI 2: 862251053728305, bên trong không có gắn thẻ sim của bị cáo Huỳnh Thanh T (Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định).
  5. Về án phí sơ thẩm: Bị cáo Huỳnh Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.500.000 đồng (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
  7. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án:
    1. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
    2. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Phòng TT, KT và THA - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Công an tỉnh Bình Định (CQ ĐT, CQ THAHS);
  • - Chi cục THADS huyện Vĩnh Thạnh;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Bị hại;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP-VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mai Đào

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 09/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH THẠNH, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Huỳnh Thanh T phạm tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger