|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 09/2025/HS-ST Ngày 07 – 3 - 2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Học
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thượng Quang Minh
- Ông Trần Trọng Vĩnh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Long – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản tham gia phiên tòa:
Ông Nguyễn Văn Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/HSST ngày 14 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 18/02/2025 đối với bị cáo:
Hồ Thị Mỹ T, sinh ngày 03/3/2004
Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 6/12.
Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ F, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Con ông Hồ Thế N và bà Ngô Thị K; Bị cáo có 02 anh em ruột, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất là bị cáo; Bị cáo chưa có chồng, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Trong thời gian từ ngày 30/12/2023 đến ngày 01/02/2024, Hồ Thị Mỹ T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác thông qua việc mua bán cây cao su thanh lý xảy ra tại khu vực xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước.
Ngày 29/7/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an huyện H, tỉnh Bình Phước khởi tố vụ án, khởi tố bị can và L cấm đi khỏi nơi cư trú.
Do Hồ Thị Mỹ T vi phạm Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú nên đến ngày 02/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện H ra lệnh bắt bị can để tạm giam.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/11/2024 cho đến nay.
2
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Chị Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1984; Nơi cư trú:Ấp A, xã M, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có đơn yêu cầu vắng mặt).
- Anh Lê Minh N1, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (Có Mặt).
- Ông Võ Huỳnh H1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước (Có mặt).
- Anh Nguyễn Đức H2, sinh năm 1986; Nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước (Có đơn yêu cầu vắng mặt).
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Hồ Thế N, sinh năm 1975; Nơi cứ trú: Ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Phạm Thế H3 – Văn phòng L4, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong thời gian từ ngày 30/12/2023 đến ngày 01/02/2024, Hồ Thị Mỹ T, sinh năm 2004, nơi thường trú: Tổ F, ấp S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác thông qua việc mua, bán cây cao su thanh lý, xảy ra tại khu vực thuộc xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Ngày 30/12/2023, Hồ Thị Mỹ T sử dụng số điện thoại di động 0345.784.xxx gọi cho anh Võ Huỳnh H1, sinh năm 1976, nơi cư trú: ấp Đ, xã T, huyện H, tỉnh Bình Phước để hỏi anh H1 có mua cây cao su thanh lý không thì anh H1 đồng ý mua. Sau đó T dẫn anh H1 đến xem 02 vườn cây cao su tại ấp S, xã T, 02 vườn cây này thuộc quyền sở hữu của ông Đào Ngọc H4 và ông Nguyễn Xuân L1, tại đây T đưa thông tin gian dối vườn cao su này là vườn của T cần bán, nghe vậy anh H1 đi đếm cây cao su cả 02 vườn được khoảng 550 cây, T báo giá là 100.000.000đ, sau khi thỏa thuận xong, cả hai người thống nhất giá tiền là 90.000.000đ, lúc này T viết giấy đặt cọc lấy trước số tiền 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) rồi anh H1 chuyển khoản vào số tài khoản “050131522931” Ngân hàng S của Hồ Thị Mỹ T số tiền 20.000.000₫.
Vụ thứ hai: Ngày 01/01/2024, do có quen biết từ trước nên Hồ Thị Mỹ T nhắn tin qua Zalo cho Nguyễn Thanh B, sinh năm 1994, nơi thường trú: tổ A, khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước với nội dung T có vườn cây cao su cần thanh lý tại xã T, thị xã B với giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) và nhờ B tìm người
3
giới thiệu cho T bán cây thì B đồng ý rồi T gửi vị trí vườn cây cao su qua Zalo cho B. Sau đó B gọi điện thoại cho chị Huỳnh Thị Mỹ H, sinh năm 1984, nơi ở hiện nay: ấp A, xã M, huyện H để giới thiệu cho chị H mua vườn cây cao su mà T đang cần bán, nghe vậy chị H đồng ý.
Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, chị H và B đi đến vườn cây cao su thuộc khu vực xã T, thị xã B, tỉnh Bình Phước (vườn cây cao su này do T đi qua đường nhìn thấy, phát hiện rồi đưa ra thông tin gian dối với chị H nên không xác định được chủ sở hữu hợp pháp) gặp T để thương lượng giá cả. Tại đây, T nói dối vườn cây cao su là của dì Tâm giao cho T đứng ra bán với giá 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) rồi dẫn chị H đi xung quanh vườn cây để xem cây. Sau khi xem xong, chị H trả số tiền 25.000.000₫ (hai mươi lăm triệu đồng) thì T đồng ý bán và yêu cầu chị H phải đặt cọc số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), chị H đồng ý, đồng thời T và chị H thỏa thuận với nhau là chị H sẽ đặt cọc trước cho T số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng), còn lại số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) đến ngày 02/3/2024 chị H sẽ cưa cây và trả hết tiền cho T. Sau khi thỏa thuận xong, T là người trực tiếp viết hợp đồng đặt cọc nhận số tiền 10.000.000đ. Sau khi T viết xong hợp đồng thì chị H, B và T cùng ký tên vào hợp đồng rồi chị H đưa cho T số tiền 10.000.000đ (mười triệu đồng).
Vụ thứ ba: Khoảng 13 giờ, ngày 06/01/2024, T tiếp tục gọi điện thoại qua Z cho B nói dối là có vườn cây cao su thanh lý tại ấp S, xã T, huyện H bán với giá 100.000.000đ (một trăm triệu đồng), đặt cọc trước 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng) và nhờ B tìm người giới thiệu cho T bán cây thì B đồng ý, T gửi vị trí vườn cây cao su qua Zalo cho B biết, sau đó B tiếp tục giới thiệu cho chị H thì chị H đồng ý mua cây.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, chị H cùng B đi đến vườn cây cao su của bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1968 thuộc tổ A, ấp S, xã T, huyện H để gặp T. Khi gặp chị H, T nói dối với chị H vườn cây cao su là của dì T tên Nguyễn Thị H5, sinh năm 1993, nơi ở: tổ D, ấp C, xã Q, thị xã C, tỉnh Bình Phước đã giao cho T đứng ra bán cây với giá 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng) rồi T dẫn chị H đi xung quanh vườn cây để xem và đếm số cây cao su trong vườn được 350 cây thì chị H tin và đồng ý mua với giá 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng), chị H đặt cọc 20.000.000₫ (hai mươi triệu đồng), còn lại số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) 02 bên hẹn đến ngày 13/01/2024 thì chị H sẽ giao đủ số tiền còn lại cho T rồi T là người trực tiếp viết hợp đồng đặt cọc. Khi này, T còn nói với chị H là dì của T tên Nguyễn Thị H5 đã gửi căn cước công dân của H5 sang cho T để T lấy thông tin làm hợp đồng. Sau khi T viết xong hợp đồng thì chị H, T và B cùng ký tên vào hợp đồng. Sau đó chị H dùng số tài khoản Ngân hàng của chị H là “0002918602”, ngân hàng “Tiên Phong' (TPB), tên Huỳnh Thị Mỹ H chuyển số tiền 20.000.000₫ (hai
4
mươi triệu đồng) vào tài khoản tên Hồ Thị Mỹ T, số tài khoản “050131522931”, ngân hàng S.
Vụ thứ tư: Khoảng 09 giờ, ngày 09/01/2024, T tiếp tục gửi tin nhắn qua Zalo cho B và nói dối là có vườn cây cao su thanh lý tại ấp S, xã T, huyện H cần bán với giá 95.000.000₫ (chín mươi lăm triệu đồng) và nhờ B giới thiệu người mua thì B đồng ý rồi T gửi vị trí vườn cây cao su qua Zalo cho B biết, sau đó B tiếp tục giới thiệu vườn cây cao su trên cho chị Huỳnh Thị Mỹ H. Khoảng 12 giờ cùng ngày, chị H cùng B đi đến vườn cây cao su của ông Đào Ngọc H4, sinh năm 1963 thuộc tổ A, ấp S, xã T, huyện H để gặp T. Tại đây, T nói dối với chị H vườn cây cao su trên là của dì của T tên Phạm Thị Thu H6, sinh năm 1983, nơi ở: tổ A, ấp S, xã T, thị xã B đã giao cho T đứng ra bán với giá 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng), sau đó T dẫn chị H đi xung quanh vườn cây để xem và đếm số cây cao su trong vườn được hơn 500 cây cao su. Lúc này, chị H yêu cầu T gọi điện thoại Zalo để chị H nói chuyện với dì của T nhưng T nói dì của T bận đi làm không nói chuyện được và đã giao lại cho T đứng ra bán và nhận tiền cọc. Nghe T nói vậy, chị H tin tưởng và đồng ý mua với giá 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng), hai bên thỏa thuận sẽ đặt cọc trước số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng), còn lại số tiền 90.000.000đ (chín mươi triệu đồng) khi chị H cưa cây sẽ đưa đủ cho T, sau khi thỏa thuận xong thì chị H và T làm hợp đồng đặc cọc. Tại đây, T lấy thông tin chị Phạm Thị Thu H6 để làm hợp đồng đặt cọc. Sau khi T viết xong hợp đồng, chị H, B và T ký tên vào hợp đồng rồi chị H dùng số tài khoản Ngân hàng “0002918602” của chị H chuyển số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng) vào số tài khoản Ngân hàng “050131522931” cho Hồ Thị Mỹ T.
Sau khi chị H chuyển tiền thì T xin chị H cho T thêm số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) tiền hoa hồng vì T đã giới thiệu bán cây cao su cho chị H nên chị H đồng ý và tiếp tục chuyển cho T số tiền 1.000.000₫ qua số tài khoản ngân hàng. Khoảng 16 giờ cùng ngày, khi chị H đang trên đường đi về thành phố Hồ Chí Minh thì T dùng tài khoản Zalo “Bé T” nhắn tin vào tài khoản Zalo của chị H tên “Thạch Thảo” yêu cầu chị H chuyển thêm cho T số tiền 5.000.0000đ (năm triệu đồng) là tiền cọc vườn cây cao su mới xem, nghe vậy chị H yêu cầu T hôm sau phải làm lại hợp đồng khác thể hiện tiền đặt cọc là 10.000.000đ (mười triệu đồng), T đồng ý nên chị H tiếp tục chuyển tiền qua số tài khoản Ngân hàng cho T số tiền 5.000.000₫ (năm triệu đồng).
Vụ thứ năm: Ngày 16/01/2024, anh Lê Minh N1, sinh năm 1983, nơi thường trú: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước lên mạng xã hội “Facebook” để xem tin tức thì thấy trên nhóm “Hội bán cây cao su thanh lý Bình Phước” có một bài đăng bán 340 cây cao su thanh lý với giá 110.000.000đ (một trăm mười triệu đồng), có địa chỉ tại ấp S, xã T, huyện H, ai có nhu cầu thì inbok và kèm theo 01 hình ảnh cây
5
cao su. Do có nhu cầu mua cây cao su thanh lý để bán lại nên anh N1 vào bài đăng trên bình luận: “Inbok”. Khoảng 05 phút sau, T dùng tài khoản Mesenger tên “Hồ T” nhắn tin vào tài khoản Mesenger của anh N1 tên “Minh Chung Hieu L3” nói T là người đăng bài bán cây cao su trên nhóm, đồng thời T này hẹn anh N1 đến chiều cùng ngày gặp nhau tại khu vực nhà máy C mũ 30 – 4 thuộc xã T, huyện H để T dẫn anh N1 đi xem cây cao su thì anh N1 đồng ý.
Đến khoảng 14 giờ cùng ngày thì T dẫn anh N1 đi đến vườn cây cao su của bà Nguyễn Thị L2, sinh năm 1968 thuộc tổ A, ấp S, xã T, huyện H để xem cây. Tại đây, T nói dối với anh N1 vườn cây cao su của dì của T nhờ bán dùm. Sau khi xem cây, anh N1 trả giá số tiền 95.000.000đ (chín mươi lăm triệu đồng) thì T đồng ý bán, đồng thời yêu cầu anh N1 đặt cọc số tiền là 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) và cho T tiền hoa hồng là 2.000.000đ (hai triệu đồng), nghe vậy anh N1 đồng ý làm hợp đồng đặt cọc. Sau đó anh N1 dùng số tài khoản Ngân hàng “5604205310629", tên Lê Minh N1, Ngân hàng A chuyển số tiền 20.000.000đ vào số tài khoản Ngân hàng “198756789”, tên Nguyễn Thanh X, Ngân hàng thương mại cổ phần Q (MB) với nội dung chuyển khoản “Tien coc cay cua be tam nam coc” (tại thời điểm này T nói với anh N1 đây là số tài khoản của chủ vườn cây cao su) và đưa cho T số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng) tiền mặt.
Vụ thứ sáu: Ngày 01/02/2024, do biết anh Nguyễn Văn H7, sinh năm 1986, nơi cư trú: Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Bình Phước có nhu cầu mua cây cao su thanh lý nên Hồ Thị Mỹ T dùng số điện thoại di động 0345.784.xxx gọi cho anh H7 hỏi anh H7 có mua cây cao su thanh lý hay không thì anh H7 đồng ý mua. Sau đó T dẫn anh H7 đến 02 vườn cây cao su tại ấp S, xã T của ông Đào Ngọc H4 và ông Nguyễn Xuân L1 nói dối vườn của người thân trong gia đình cần bán. Sau khi xem vườn xong, anh H7 và T thỏa thuận giá tiền là 75.000.000đ (bảy mươi lăm triệu đồng) rồi 02 bên làm giấy đặt cọc, anh H7 chuyển cho T số tiền 15.000.000đ (mười lăm triệu đồng) vào số tài khoản Ngân hàng “5503205307816”, tên Nguyễn Hải Đ, ngân hàng A (T nói dối với anh N1 là số tài khoản của chủ vườn cây cao su), đồng thời anh H7 cho thêm T số tiền 2.000.000 đồng tiền hoa hồng.
Sau khi mua cây, anh H7 mới biết được trước đó T cũng đã bán vườn cây này cho anh Võ Huỳnh H1 (vụ thứ nhất), sau đó anh Nguyễn Văn H7 đã đến Cơ quan Công an trình báo và tố cáo hành vi của Hồ Thị Mỹ T.
Quá trình điều tra, Hồ Thị Mỹ T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Hồ Thị Mỹ T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
6
Vật chứng thu giữ của vụ án: Không có.
Trách nhiệm dân sự:
Đối với chị Huỳnh Thị Mỹ H, quá trình điều tra xác định: Hồ Thị Mỹ T đã 03 lần có hành vi chiếm đoạt của chị H số tiền 41.000.000 đồng, sau khi sự việc xảy ra gia đình của Hồ Thị Mỹ T đã khắc phục được cho chị H số tiền 27.000.000 đồng. Hiện tại chị H yêu cầu T tiếp tục trả lại cho chị H số tiền 14.000.000 đồng.
Đối với bị hại anh Lê Minh N1, ngày 16/01/2024, Hồ Thị Mỹ T đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của anh N1 số tiền 22.000.000 đồng. Sau khi sự việc xảy ra gia đình của Hồ Thị Mỹ T đã khắc phục được cho anh N1 số tiền 11.000.000 đồng. Hiện tại anh N1 yêu cầu T tiếp tục trả lại cho anh N1 số tiền 11.000.000 đồng.
Đối với bị hại anh Võ Huỳnh H1, ngày 30/12/2023, Hồ Thị Mỹ T đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của anh H1 số tiền 20.000.000 đồng. Hiện tại anh H1 yêu cầu T trả lại cho anh H1 số tiền 20.000.000 đồng.
Đối với bị hại Nguyễn Văn H7, Ngày 01/02/2024, Hồ Thị Mỹ T đã có hành vi gian dối chiếm đoạt của anh H7 số tiền 17.000.000 đồng. Hiện tại anh H7 yêu cầu T trả lại cho anh H7 số tiền 17.000.000 đồng.
Căn cứ Điều 48 BLHS năm 2015; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Hớn Quản tuyên buộc bị can Hồ Thị Mỹ T bồi thường cho chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 14.000.000 đồng; bồi thường cho anh Lê Minh N1 số tiền 11.000.000 đồng; bồi thường cho anh Võ Huỳnh H1 số tiền 20.000.000 đồng và anh Nguyễn Văn H7 số tiền 17.000.000 đồng.
Tại phiên tòa:
Lời khai của Bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác, biên bản hiện trường và các tài liệu khác được xem xét tại phiên tòa. Thể hiện bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Mỹ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Hồ Thị Mỹ T mức hình phạt từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
Quá trình điều tra, truy tố ông Hồ Thế N (Cha bị cáo) trình bày đã thay bị cáo T bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại, chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 27.000.000 đồng; anh Lê Minh N1 số tiền 11.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Hồ Thị Mỹ T hoàn trả số tiền này.
7
Bị hại chị Huỳnh Thị Mỹ H yêu cầu bị cáo T tiếp tục bồi thường số tiền 14.000.000 đồng; Tại phiên tòa anh Lê Minh N1 yêu cầu bồi thường số tiền 11.000.000 đồng; anh Võ Huỳnh H1 yêu cầu bồi thường số tiền 20.000.000 đồng. Quá trình điều tra, truy tố anh Nguyễn Văn H7 yêu cầu bị cáo bồi thường cho số tiền 17.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị bị cáo cũng đồng ý tiếp tục bồi thường cho các bị hại số tiền còn lại trên nên cần ghi nhận. Tổng số tiền bị cáo phải tiếp tục bồi thường cho các bị hại là 62.000.000 đồng.
Bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự, với các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai bào, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và có nhân thân tốt; tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại; Cha mẹ bị cáo ly hôn lúc bị cáo mới 10 tuổi nên thiếu sự quan tâm chăm sóc, giáo dục bị cáo; hoàn cảnh gia đình khó khăn để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng thống nhất với đề nghị của Luật sư bào chữa cho bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra Bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác; tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa các bị hại Huỳnh Thị Mỹ H, Nguyễn Văn H7 và những người làm chứng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, quá trình điều tra, truy tố, người bị hại có tên nêu trên và những người làm chứng đã có bản trình bày ý kiến; ý kiến củangười bị hại và những người làm chứng phù hợp với lời khai của bị cáo, những người tham gia tố tụng khác và tình tiết vụ án nên việc vắng mặt người bị hại khô
8
và những người làm chứng không làm ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên Hội đồng quyết định xét xử vắng mặt người bị hại Huỳnh Thị Mỹ H, Nguyễn Văn H7 và những người làm chứng. Khi cần thiết thì Hội đồng xét xử sẽ công bố các bản khai tại phiên tòa
[2] Căn cứ vào lời khai thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố được công khai tại phiên tòa, trình bày của đại diện hợp pháp của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, lời khai của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại có đủ căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo Hồ Thị Mỹ T như sau:
Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Hồ Thị Mỹ T đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của người khác thông qua việc tìm những vườn cao su rồi chụp hình và đăng lên mạng xã hội Facebook thông qua hội nhóm “Hội bán cây cao su thanh lý Bình Phước” rồi dùng thủ đoạn gian dối nhận đó là vườn cao su của T cần bán và ai có nhu cầu mua cây thì liên hệ với T. Khi có người liên hệ hỏi mua thì T trực tiếp dẫn đi xem, thỏa thuận giá cả và ghi giấy cọc tiền rồi chiếm đoạt số tiền.
Trong thời gian từ ngày 30/12/2023 đến ngày 01/02/2024, Hồ Thị Mỹ T, đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để lừa đảo chiếm đoạt tài sản của nhiều người khác thông qua việc mua bán cây cao su thanh lý, cụ thể: Hồ Thị Mỹ T đã chiếm đoạt của chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 41.000.000đ; chiếm đoạt của anh Lê Minh N1 số tiền 22.000.000đ; chiếm đoạt của anh Võ Huỳnh H1 số tiền 20.000.000₫ và chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H7 số tiền 17.000.000₫.
Như vậy, tổng số tiền mà Hồ Thị Mỹ T đã chiếm đoạt được của 04 người bị hại là 100.000.000 đồng. Hành vi trên của Hồ Thị Mỹ T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
[3] Xét lời khai của Bị cáo là phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra đánh giá tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận: Hồ Thị Mỹ T dùng hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản của các bị hại chị Huỳnh Thị Mỹ H, anh Lê Minh N1, anh Võ Huỳnh H1 và anh Nguyễn Văn H7 tổng số tiền 100.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, Cáo trạng số 06/CT-VKS ngày 13 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Hồ Thị Mỹ T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như các điều luật viện dẫn trên là có căn cứ, phù hợp pháp luật.
[4] Xét hành vi của Bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo không có tài sản là cây cao su
9
thanh lý để bán nhưng bị cáo vẫn đưa ra thông tin gian dối để các bị hại tin là tài sản của bị cáo hoặc của người nhà gửi nhờ bán để chiếm đoạt tài sản của các bị hại với số lần lửa đảo là 06 lần, khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ là sẽ bị phát hiện việc bị cáo lừa để chiếm đoạt tài sản nhưng bị cáo vãn cố ý thực hiện, từ đó cho thấy bị cáo là người coi thường pháp luật nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với hành vi bị cáo đã thực hiện.
Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo tác động gia đình bồi thường, khắc phục một phần thiệt hại cho bị hại (bồi thường được số tiền 38.000.000 đồng); thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt; Cha mẹ của bị cáo đã ly hôn khi bị cáo còn nhỏ (10 tuổi) nên bị cáo bỏ học giữa chừng (hết lớp 6/12) nên bị cáo thiếu sự quan tâm chăm sóc giáo dục của cha mẹ và nhà trường, nhận thức pháp luật thấp; hoàn cảnh gia đình khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm 2 khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như trên để giảm nhẹ cho bị cáo là có căn cứ; đại diện Viện kiểm sát cũng thống nhấn và phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Đối với Nguyễn Thanh B: Quá trình điều tra xác định, B chỉ là người môi giới tìm người có nhu cầu trong việc mua, bán cây cao su thanh lý; B với T thỏa thuận với nhau, nếu bán được cây cao su thì người mua sẽ cho B tiền hoa hồng, còn T thì không chi tiền hoa hồng cho B; vì vậy về ý thức thì B hoàn toàn không biết Hồ Thị Mỹ T đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản người bị hại. Do vậy xác định Nguyễn Thanh B không liên quan đến vụ án và không có vai trò đồng phạm với Hồ Thị Mỹ T nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thanh B là đúng quy định.
[6] Đối với Nguyễn Thanh X: Hiện nay anh X đang kinh doanh cửa hàng điện thoại di động trong đó có cung cấp dịch vụ chuyển – nhận tiền nhanh qua tài khoản ngân hàng. Ngày 16/01/2024 anh X có nhận tiền qua tài khoản ngân hàng cho Hồ Thị Mỹ T số tiền 20.000.000đ; quá trình điều tra xác định Nguyễn Thanh X không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát không đề cập xử lý là đúng quy định.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện Kiện kiểm sát đề nghị về trách nhiệm dân sự như trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Tại phiên tòa ông Hồ Thế N (Cha bị cáo) trình bày đã thay bị cáo T bồi thường, khắc phục hậu quả cho các bị hại, chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 27.000.000
10
đồng; anh Lê Minh N1 số tiền 11.000.000 đồng và không yêu cầu bị cáo Hồ Thị Mỹ T hoàn trả số tiền này nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Vật chứng vụ án không thu giữ nên không xử lý.
[7] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Hồ Thị Mỹ T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
- Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Hồ Thị Mỹ T hình phạt 03 (ba) năm tù. Thời hạn tính tù kể từ ngày 28/11/2024.
Tiếp tục tạm giam bị cáo thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Trách nhiệm dân sự:
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật hình sự năm 2015; các Điều 584, 585, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015. Ghi nhận sự thống nhất giữa bị cáo Hồ Thị Mỹ T và các bị hại Huỳnh Thị Mỹ H, Lê Minh N1, Võ Huỳnh H1 và Nguyễn Văn H7. Buộc bị cáo Hồ Thị Mỹ T bồi thường cho chị Huỳnh Thị Mỹ H số tiền 14.000.000 (mười bốn triệu) đồng; bồi thường cho anh Lê Minh N1 số tiền 11.000.000 (mười một triệu) đồng; bồi thường cho anh Võ Huỳnh H1 số tiền 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và bồi thường cho anh anh Nguyễn Văn H7 số tiền 17.000.000 (mười bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền,
11
hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự
- Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q1:Bị cáo Hồ Thị Mỹ T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.100.000 (Ba triệu một trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo:
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan có mặt, có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Học |
Bản án số 09/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỚN QUẢN, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ok
