Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HS-PT

Ngày 26-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hồng

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Sinh

Bà Đinh Thị Như Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Nga – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 24/2025/TLPT-HS ngày 06 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo Đào Thị Ngọc D và các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo Đào Thị Ngọc D, Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Lâm H, Lê Văn P, Trần Văn T1, Lê Mo N, Lã Minh T2 và Trần Thị T3 đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HSST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai.

* Các bị cáo có kháng cáo:

1. Đào Thị Ngọc D (tên gọi khác: Không), sinh ngày 09 tháng 10 năm 1979 tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 06/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Đào Xuân N1 và bà Nguyễn Thị T4; có chồng là Lê Xuân P1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 26/8/2024, bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi dùng chỗ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc.

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. Từ Thị T (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 02 năm 1962 tại tỉnh Quảng Ngãi. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; trình độ học vấn: 00/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Từ Văn T5 và bà Hồ Thị H1 (đều đã chết); có 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

3. Nguyễn Thị C (tên gọi khác: Không), sinh ngày 01 tháng 01 năm 1970 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 00/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Nguyễn Hữu K (đã chết) và bà Nguyễn Thị T6; có chồng là Công Văn B và 03 người con; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 24/7/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Sơn Hòa, tỉnh Phú Yên xử phạt 18 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 15/2009/HSST. (Đã được xóa án tích)

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

4. Nguyễn Thị S (tên gọi khác: Không), sinh ngày 17 tháng 7 năm 1958 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 02/12; nghề nghiệp: Làm ruộng; con ông Nguyễn Hữu S1 và bà Phan Thị B1 (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Hữu H2 (đã chết) và 04 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: - Ngày 16/11/1999 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo Bản án số 114/ST-HS. (Đã được xóa án tích)

- Ngày 28/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng 20 ngày tù về tội “Đánh bạc” theo Bản án số 03/2010/HS-ST. (Đã được xóa án tích)

Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.

5. Nguyễn Thị Lâm H (tên gọi khác: Không), sinh ngày 19 tháng 7 năm 1969 tại tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố F, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nhân viên; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị X (đều đã chết); có chồng là Nguyễn Văn M và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 26/8/2024, bị Công an huyện K xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

6. Lê Văn P (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 01 năm 1995 tại tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Tổ dân phố I, thị trấn C, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lê Văn L và bà Hoàng Thị H3; bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

7. Trần Văn T1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 10 tháng 9 năm 1984 tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn T, xã S, huyện S, tỉnh Phú Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 05/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Trần Văn L1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T4; có vợ là Nguyễn Thị Trúc L2 (đã ly hôn) và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

8. Lã Minh T2 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 02 tháng 7 năm 1978 tại tỉnh Cao Bằng. Nơi cư trú: Buôn E, xã K, huyện B, tỉnh Đăk Lăk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 03/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Lã Minh T7 (đã chết) và bà Phùng Thị L3; có vợ là Quyết Thị Bắc M1 và 02 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Vắng mặt.

9. Trần Thị T3 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 06 tháng 9 năm 1996 tại tỉnh Bình Định. Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Trần Tứ P2 và bà Nguyễn Thị H4; có chồng là Nguyễn Đình Q (đã ly hôn) và 01 người con; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Ngoài ra còn có bị cáo Lê Mo N có kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên toà phúc thẩm nên đã có quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo và 04 bị cáo là Lê Thị Hồng T8, Hồ Thị Ngọc D1, Võ Thị Hoa M2, Võ Thị Thu M3 không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong thời gian đi mua mía tại huyện K, tỉnh Gia Lai, Từ Thị T biết tại nhà hàng P3 ở tổ dân phố A, thị trấn P có chơi đánh bài. Vào khoảng 10 giờ 30 phút ngày 04/3/2024, sau khi ăn cơm trưa xong thì Từ Thị T rủ Nguyễn Thị C đến nhà hàng P3 để uống nước và chơi đánh bài. Trong lúc T và C ngồi uống nước thì có Lê Thị Hồng T8 cũng đến uống nước thì gặp T và C, T8 hỏi T có chơi bài không thì T nói chưa biết nữa nên T8 đi về. Lúc này, Hồ Thị Ngọc D1 và Võ Thị Hoa M2 là người nấu ăn tại nhà hàng P3, sau khi nấu ăn xong thì cùng Đào Thị Ngọc D ra khu vực phòng bếp nhà hàng P3, rồi T và C cũng vào khu vực phòng bếp ngồi chơi. Nguyễn Thị S đến nhà hàng P3 ăn cơm xong thì cũng vào chỗ D ngồi chơi. Thấy có nhiều người tụ tập muốn chơi đánh bài thì Từ Thị T rủ cả nhóm chơi đánh bài được thua bằng tiền. Đào Thị Ngọc D lấy 01 bộ bài Tây và một tấm chăn bỏ ra giữa phòng. Do không có người làm cái nên Nguyễn Thị C đứng ra làm cái. Khi mọi người bắt đầu chia bài thì có Nguyễn Thị Lâm H (là người quản lý nhà khách UBND huyện K) cũng vào chơi. Lê Thị Hồng T8 quay lại nhà hàng, không thấy C và T thì đi tìm và gặp cả nhóm đang đánh bài ăn tiền trong phòng bếp nên vào cùng chơi. Trần Thị T3 được Đào Thị Ngọc D gọi điện rù đến chơi đánh bài từ trước, T3 đồng ý và rủ Lê Văn P cùng đi. Còn Trân Văn T9 được Từ Thị T gọi điện rủ đến nhà hàng P3 để chơi đánh bài, T9 rủ Lê Mo N đi cùng. Lã Minh T2 đến phòng bếp nhà hàng P3 ăn cơm thì thấy cả nhóm đang chơi bài nên vào cùng chơi. Võ Thị Thu M3 (người nấu ăn tại nhà hàng P3) sau khi đi giao cơm về thì vào phòng bếp thấy mọi người chơi bài nên cùng vào chơi.

Đến khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, Công an huyện K tiến hành bắt quả tang 14 bị cáo gồm: Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Võ Thị Thu M3, Lê Thị Hồng T8, Lê Văn P, Hồ Thị Ngọc D1, Võ Thị Hoa M2, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lê Mo N, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H, Trần Thị T3 đang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình đánh bài Xì lát được thua bằng tiền tại khu vực phòng bếp nhà hàng P3. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 14.400.000 đồng. Thu giữ trên người của Nguyễn Thị C số tiền 190.000 đồng, Từ Thị T số tiền 2.400.000 đồng, Võ Thị Thu M3 số tiên 7.650.000 đồng, Lê Thị Hồng T8 số tiền 300.000 đồng, Lê Văn P số tiền 10.200.000 đồng, Hồ Thị Ngọc D1 số tiền 150.000 đồng, Võ Thị Hoa M2 số tiền 110.000 đồng, Nguyễn Thị S số tiền 450.000 đồng, Trần Văn T1 số tiền 50.000 đồng, Lê Mo N số tiền 950.000 đồng, Lã Minh T2 số tiền 400.000 đồng, Đào Thị Ngọc D số tiền 1.000.000 đồng, Nguyễn Thị Lâm H số tiền 1.030.000 đồng, Trần Thị T3 số tiền 5.510.000 đồng. Công an huyện K đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đưa các đối tượng và vật chứng về Cơ quan điều tra để điều tra, làm rõ.

Các đối tượng đánh bạc dưới hình thức đánh bài Xì lát được thua bằng tiền, lúc ít nhất thì có 05 cửa đặt, lúc nhiều nhất thì có 08 cửa đặt, mỗi cửa đặt từ 50.000 đồng đến 200.000 đồng, cách tính điểm thắng thua như sau:

  • - Q (Xì) được tính 1 điểm, 10 điểm và 11 điểm (tính 1 điểm trong trường hợp bài ba quân có hai quân Át, bài có 4 quân bài và bài có 5 quân bài, tính 10 điểm và 11 điểm khi bài có ba quân bài, có một quân Át).
  • - Q1 bài từ số 02 đến số 09 lần lượt được tính số điểm tương ứng số điểm trên quân bài.
  • - Q1 bài 10, J, Q và K được tính mỗi quân bài là 10 điểm.

Về cách tính lớn - bé trong hình thức đánh bài Xì lát như sau: Bài lớn nhất là bài Xì bàng, là có hai quân bài At; Bài lớn thứ nhì là bài Xì lát, là có 1 quân bài Át kết hợp với các quân bài 10, J, Q, K; Bài lớn thứ ba là bài Ngũ linh, là có 5 quân bài mà tổng số điểm từ 21 đổ xuống (Ngũ linh điểm nhỏ bằng Ngũ linh điểm lớn); Bài lớn thứ tư là bài có tổng điểm 21 (tổng điểm của 3 hoặc 4 quân bài); Bài lớn thứ sáu là bài có tổng điểm 20; Bài lớn thứ bảy là bài có tổng điểm 19; Bài lớn thứ tám là bài có tổng điểm 18; Bài lớn thứ chín là bài có tông điểm 17; Bài lớn thứ mười là bài có tổng điểm 16 và bài nhỏ nhất là bài từ 22 điểm trở lên (còn gọi là bài bị oác điểm hay bài bị bù điểm).

Về cách tính thắng - thua trong hình thức đánh bài Xì lát như sau: Bài lớn ăn bài bé theo tỷ lệ 1 ăn 1, theo cách tính bài lớn nhỏ như trên nếu nhà cái và người chơi có bài bằng nhau thì hòa. Người làm cái cầm bài có tông điểm hai cây là 16 điểm thì được quyền kiểm tra bài các người chơi (gọi là con) và có thể bốc thêm bài vượt qua số điểm 28. Đối với người chơi (gọi là con) thì bài phải từ 16 điểm cho đến 21 điểm, trong trường hợp người chơi để bài đưới 16 điểm hoặc bốc thêm bài có số điểm từ 28 trở lên thì xả bài (trừ khi có người được xì lát hoặc xì bàng).

Kết quả điều tra đã xác định được tổng số tiền mà các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Võ Thị Thu M3, Lê Thị Hồng T8, Lê Văn P, Hồ Thị Ngọc D1, Võ Thị Hoa M2, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lê Mo N, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H, Trần Thị T3 sử dụng vào mục đích để đánh bạc là 36.940.000 đồng, cụ thể như sau:

  • - Nguyễn Thị C mang theo số tiền 10.190.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thắng được số tiền là 2.350.000 đồng, cho Đào Thị Ngọc D số tiền là 250.000 đồng, để trên chiêu bạc số tiền là 12.150.000 đồng, cất trên người số tiền là 190.000 đồng.
  • - Từ Thị T mang theo số tiền 2.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 100.000 đồng, cất trên người số tiền là 2.400.000 đồng.
  • - Võ Thị Thu M3 mang theo số tiền 8.650.000 đồng, sử dụng số 1.000.000 đồng với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 600.000 đồng, để trên chiếu bạc số tiền là 400.000 đồng, cất riêng trên người số tiền là 7.650.000 đông để gửi tiền học cho con hàng tháng và đóng lãi Ngân hàng.
  • - Lê Thị Hồng T8 mang theo số 1.400.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 1.100.000 đồng, cất trên người số tiền là 300.000 đồng.
  • - Lê Văn P mang theo số tiền 6.500.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thắng được số tiền 4.300.000 đồng, cho Trần Thị T3 số tiền là 600.000 đồng, cất trên người số tiền là 10.200.000 đồng.
  • - Hồ Thị Ngọc D1 mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 850.000 đồng, cất trên người số tiền là 150.000 đồng.
  • - Võ Thị Hoa M2 mang theo số tiền 810.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 700.000 đồng, cất trên người số tiền là 110.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị S mang theo số tiền 1.050.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 600.000 đồng, cất trên người số tiền là 450.000 đồng.
  • - Trần Văn T1 mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 500.000 đồng, để trên chiếu bạc số tiền là 450.000 đồng, cất trên người số tiền 50.000 đông.
  • - Lê Mo N mang theo số tiền 1.000.000 đồng, sử dụng số tiền 200.000 đồng với mục đích để đánh bạc, cất giấu trên người số tiền 800.000 đồng để mua đồ ăn, khi bị bắt quả tang thắng được số tiền là 50.000 đồng, để trên chiếu bạc số tiền là 100.000 đồng, cất trên người số tiền là 950.000 đồng.
  • - Lã Minh T2 mang theo số tiền 850.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 450.000 đồng, cất trên người số tiền là 400.000 đồng.
  • - Đào Thị Ngọc D mang theo số tiền 1.400.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thắng được số tiền là 300.000 đồng, được Nguyễn Thị C cho 250.000 đồng, để trên chiếu bạc số tiền là 950.000 đồng, cất trên người số tiền là 1.000.000 đồng.
  • - Nguyễn Thị Lâm H mang theo số tiền 1.930.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền mang theo với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 500.000 đồng, để trên chiếu bạc số tiền 400.000 đồng, cất trên người số tiền là 1.030.000 đồng.
  • - Trần Thị T3 mang theo số tiền 6.510.000 đồng, được Lê Văn P cho số tiền 600.000 đồng, sử dụng toàn bộ số tiền 7.110.000 đồng đồng v với mục đích để đánh bạc, khi bị bắt quả tang thua số tiền là 1.600.000 đồng, cất trên người số tiền là 5.510.000 đồng.

Đối với ông Nguyễn Trọng V và ông Lê Xuân P1 không biết việc bị cáo Đào Thị Ngọc D sử dụng địa điểm nhà khách UBND huyện K vào mục đích “Tổ chức đánh bạc” nên không có căn cứ để xử lý ông V và ông P1 đồng phạm với vai trò giúp sức cũng như các tội phạm khác.

1. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại bản án hình sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Tuyên bố các bị cáo Từ Thị T, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Lâm H, Lê Văn P, Trần Văn T1, Lã Minh T2 và Trần Thị T3 phạm tội “Đánh bạc”; bị cáo Đào Thị Ngọc D phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đào Thị Ngọc D 07 (Bảy) tháng tù, về tội “Đánh bạc".
  • + Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đào Thị Ngọc D 01 (Một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • + Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của BLHS: Tổng hợp hình phạt của tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”, buộc bị cáo Đào Thị Ngọc D phải chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 07 (B2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Từ Thị T 08 (T6) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 07 (Bảy) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 07 (Bảy) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lâm H 06 (Sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của
  • Xử phạt bị cáo Trần Thị T3 06 (Sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (Sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 06 (Sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Xử phạt bị cáo Lã Minh T2 06 (Sáu) tháng tù, Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • * Căn cứ khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, số seri G0NFW25P0D41 thu giữ của Trần Thị T3.
  • + 01 (Một) xe mô tô biển số: 81N1-261.07, thu giữ của Trần Thị T3, không có gương chiếu hậu bên phải, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong.

Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của 05 bị cáo khác, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

2. Kháng cáo của các bị cáo:

Các ngày 31/3, 03/4, 04/4, 08/4/2025, các bị cáo Từ Thị T, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị Lâm H, Lê Văn P, Trần Văn T1 và Lã Minh T2 kháng cáo xin được hưởng án treo.

Ngày 28/3/2025, bị cáo Trần Thị T3 kháng cáo xin được hưởng án treo và được nhận lại tài sản là xe máy, điện thoại.

3. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Đào Thị Ngọc D rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo, bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Lâm H, Lê Văn P, Trần Văn T1 và Trần Thị T3 giữ nguyên nội dung kháng cáo xin hưởng án treo và bổ sung nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 342; điểm a, đ khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đào Thị Ngọc D và không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Các ngày 15, 16/5/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm và giấy triệu tập tham gia phiên tòa phúc thẩm cho bị cáo Nguyễn Thị S và Lã Minh T2. Ngày 20/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị S có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bị cáo đang điều trị bệnh, không đảm bảo sức khỏe để tham gia phiên tòa nhưng không có tài liệu thể hiện đang nhập viện điều trị. Ngày 26/5/2024, bị cáo Lã Minh T2 có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm vì lý do bị viêm dạ dày đại tràng, gan nhiễm mỡ độ II, sỏi thận 2 bên và cũng không có tài liệu thể hiện đang điều trị tại cơ sở khám chữa bệnh. Như vậy, lý do vắng mặt của các bị cáo là không chính đáng.

Hội đồng xét xử thấy rằng các bị cáo chỉ kháng cáo về phần hình phạt của bản án xin hưởng án treo nên việc vắng mặt của các bị cáo tại phiên tòa không ảnh hưởng đến việc xem xét kháng cáo của các bị cáo. Căn cứ Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo D tự nguyện rút nội dung kháng cáo xin hưởng án treo nên Hội đồng xét xử đình chỉ đối với phần kháng cáo này; các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị Lâm H, Lê Văn P, Trần Văn T1 và Trần Thị T3 bổ sung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt là thuộc phạm vi kháng cáo của các bị cáo nên được Hội đồng xét xử xem xét.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 04/3/2024, tại khu vực phòng bếp nhà hàng P3 thuộc tổ dân phố A, thị trấn P, huyện K, tỉnh Gia Lai, Công an huyện K bắt quả tang bị cáo Đào Thị Ngọc D sử dụng địa điểm nhà hàng P3 thuộc quyền quản lý của mình để tổ chức cho các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Võ Thị Thu M3, Lê Thị Hồng T8, Lê Văn P, Hồ Thị Ngọc D1, Võ Thị Hoa M2, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lê Mo N, Lã Minh T2, Nguyễn Thị Lâm H, Trần Thị T3 và Đào Thị Ngọc D đánh bạc trái phép dưới hình thức đánh bài “Xì lát” được thua bằng tiền. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 36.940.000 đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm tuyên xử bị cáo Đào Thị Ngọc D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 và tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm a, b, c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; Các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Lê Văn P, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lã Minh T2, Nguyễn Thị Lâm H, Trần Thị T3 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng, không kháng cáo về phần này nên đã có hiệu lực pháp luật.

[3] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo:

Xét bị cáo Đào Thị Ngọc D phạm 02 tội, dùng địa điểm thuộc quyền quản lý của mình để tổ chức đánh bạc, gọi điện rủ bị cáo Trần Thị T3 đến đánh bạc và cùng đánh bạc với các bị cáo khác, bị cáo còn bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng chỗ ở của mình để chứa chấp việc đánh bạc xảy ra trước đó; Bị cáo Từ Thị T là người khởi xướng, không chỉ rủ rê người có mặt tại chỗ mà còn gọi điện rủ bị cáo Trần Văn T1 đến đánh bạc; Bị cáo Nguyễn Thị C làm cái, trực tiếp xóc bài, bị cáo đã từng bị xét xử về tội đánh bạc nhưng nay tiếp tục phạm tội; Bị cáo Nguyễn Thị S đã hai lần bị xét xử trong đó có một lần bị xét xử về tội đánh bạc; Bị cáo Nguyễn Thị Lâm H bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc xảy ra trước đó; Bị cáo Trần Văn T1 rủ rê bị cáo Lê Mo N; bị cáo Trần Thị T3 rủ rê bị cáo Lê văn P còn bị cáo Lã Minh T2 thấy đánh bạc cùng vào chơi. Các bị cáo đều tham gia tích cực cho đến khi bị bắt quả tang với số tiền đánh bạc thu được tại sới bạc là cao trong khung hình phạt.

Tại giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm, các bị cáo Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị S, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D và Nguyễn Thị Lâm H nộp Biên lai thu tiền tại Cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai thể hiện các bị cáo đã chấp hành xong hình phạt bổ sung và án phí mà tòa cấp sơ thẩm đã tuyên, nộp tài liệu thể hiện ông Công Văn L4 và bà Nguyễn Thị H5 là cha, mẹ chồng của bị cáo Nguyễn Thị C được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất; ông Lã Minh T7 và bà Phùng Thị L3 là cha, mẹ của bị cáo Lã Minh T2 được tặng Huân chương giải phóng hạng hai, hạng ba và Bằng khen của Ủy ban nhân dân tỉnh C; bị cáo Từ Thị T và bị cáo Nguyễn Thị S là người cao tuổi đều là các tình tiết giảm nhẹ mới tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, với tính chất mức độ hành vi phạm tội như trên thì việc Toà án cấp sơ thẩm xử các bị cáo mức án khởi điểm hoặc vừa trên mức khởi điểm của khung hình phạt là đã có khoan hồng nên cần thiết giữ nguyên mức án để đủ thời gian giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo tập trung đông người, đánh bạc ngay trong khuôn viên nhà khách của Uỷ ban nhân dân huyện cho thấy thái độ coi thường pháp luật, đều thực hành tích cực với số tiền đánh bạc thu được trong sới cao trong khung hình phạt, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần buộc các bị cáo chấp hành án tại cơ sở giam giữ để giáo dục các bị cáo và để răn đe chung.

[4] Đối với kháng cáo xin được nhận lại tài sản là xe máy, điện thoại của bị cáo Trần Thị T3:

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm đều chứng minh điện thoại di động và xe mô tô của bị cáo T3 là phương tiện để gọi rủ rê nhau và là phương tiện chở nhau đến địa điểm đánh bạc. Cụ thể, sau khi D rủ rê T3, T3 rủ P và dùng xe mô tô của T3 để chở T3 và P đến đánh bạc. Cấp sơ thẩm xét các vật chứng là phương tiện phạm tội, tuyên tịch thu sung ngân sách là có căn cứ.

Do đó, kháng cáo của bị cáo xin được nhận lại tài sản trên không được chấp nhận.

[5] Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Lê Văn P, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H và Trần Thị T3; giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần hình phạt và xử lý vật chứng.

[6] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ Điều 342 và điểm đ khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Đào Thị Ngọc D.

2. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

2.1. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Lê Văn P, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H và Trần Thị T3. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với các bị cáo này.

  • + Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đào Thị Ngọc D 07 (Bảy) tháng tù, về tội “Đánh bạc”.
  • + Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 322; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS: Xử phạt bị cáo Đào Thị Ngọc D 01 (Một) năm tù, về tội “Tổ chức đánh bạc”.
  • Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 của BLHS: Tổng hợp hình phạt của tội “Đánh bạc” và “Tổ chức đánh bạc”, buộc bị cáo Đào Thị Ngọc D phải chấp hành hình phạt chung là 01 (Một) năm 07 (B2) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Từ Thị T 08 (T6) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị C 07 (B2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị S 07 (B2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Lâm H 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Trần Thị T3 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
  • Xử phạt bị cáo Lê Văn P 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Xử phạt bị cáo Trần Văn T1 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 58 của BLHS:
  • Xử phạt bị cáo Lã Minh T2 06 (S2) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. Nhưng được trừ đi thời gian bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 04/3/2024 đến ngày 12/3/2024.

2.2. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Thị T3 về xử lý vật chứng.

Căn cứ khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • + 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Pro max, màu vàng, số seri G0NFW25P0D41 thu giữ của Trần Thị T3.
  • + 01 (Một) xe mô tô biển số: 81N1-261.07, thu giữ của Trần Thị T3, không có gương chiếu hậu bên phải, không kiểm tra tình trạng hoạt động bên trong.

Đặc điểm chi tiết vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Gia Lai và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Krông Pa, tỉnh Gia Lai.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí tòa án:

Các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Lê Văn P, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H và Trần Thị T3, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;
  • - Phòng HSNV - CA tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Krông Pa;
  • - TAND huyện Krông Pa(2);
  • - Chi cục THADS huyện Krông Pa;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu VT, THS, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Nguyễn Thị Kim Hồng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm về tội đánh bạc và tổ chức đánh bạc

  • Số bản án: 09/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm về tội Đánh bạc và Tổ chức đánh bạc
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Từ Thị T, Nguyễn Thị C, Lê Văn P, Nguyễn Thị S, Trần Văn T1, Lã Minh T2, Đào Thị Ngọc D, Nguyễn Thị Lâm H và Trần Thị T3. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 23/2025/HS-ST ngày 25 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện K, tỉnh Gia Lai về phần hình phạt đối với các bị cáo này.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger