|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HS-PT Ngày: 25 – 02 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Nguyệt
Ông Trần Minh Tân
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà Trang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu và tại điểm cầu thành phần Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, xét xử phúc thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 01/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 đối với bị cáo Đặng Văn Ú do có kháng cáo của bị cáo Đặng Văn Ú và bị hại Nguyễn Vũ L đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị cáo có kháng cáo: Đặng Văn Ú, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 tại Bạc Liêu.
Nơi cư trú: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H và bà Nguyễn Thị L1; có vợ và 02 con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 25 tháng 4 năm 2023 bị Trưởng Công an thị xã G phạt về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác; bị tạm giam từ ngày 26 tháng 02 năm 2024 cho đến nay. (có mặt)
Người bào chữa cho bị cáo: ông Trần Hiển T – là Trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh B. (Có mặt)
- Bị hại có kháng cáo: ông Nguyễn Vũ L, sinh năm 1995; địa chỉ: ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 20 tháng 02 năm 2024, sau khi nhậu và trên đường về ông Đặng Văn N điều khiển xe mô tô, nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 94D1 - 558.74 chở bị cáo về. Trên đường về, đến khoảng 18 giờ 00 phút, khi xe đang lưu thông trên cầu Đ thuộc ấp B, xã P, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bất ngờ bị cáo kêu ông N dừng xe lại. Lúc này, bị cáo xuống xe, cầm nón bảo hiểm màu đỏ chặn đầu xe mô tô, nhãn hiệu Wave, màu xanh do ông Đinh Thị C (Tý) điều khiển chở ông Nguyễn Vũ L.
Bị cáo đi đến dùng tay đẩy vào người của ông L, làm cho ông L bước xuống xe, bị cáo dùng nón bảo hiểm đánh vào người của ông L nhưng không trúng nên dùng tay nắm lấy áo sơ mi của ông làm đứt cúc áo số 02 và số 03. Bị cáo yêu cầu ông L đưa điện thoại nhưng ông L không đưa nên bị cáo dùng nón bảo hiểm đưa lên định đánh ông L, tay còn lại lấy điện thoại. Lúc này, ông L nói “chú làm gì vậy điện thoại con mà” thì bị cáo liền dùng nón bảo hiểm quơ vào người của ông L nhưng không trúng.
Ông Đặng Văn N đang say rượu, gục đầu trên xe nhưng nghe ông L nói “sao chú lấy điện thoại của con” nên khi bị cáo lên xe ông N nói “mày lấy điện thoại người ta hả gì”, bị cáo trả lời “chuyện tôi làm tôi biết, ông chạy chở tôi về nhà”. Bị cáo cầm điện thoại vừa chiếm đoạt được lên xe kêu ông N chạy xe về nhà. Thời điểm này, ông N đang say rượu, gục đầu trên xe và không biết bị cáo chiếm đoạt điện thoại của ông L.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 14/KL-HĐĐGTS ngày 30 tháng 3 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã G kết luận: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 6S plus 64GB, màu hồng có giá trị sử dụng còn lại bằng 450.000đ.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 68/2024/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, đã quyết định:
- Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Ú, phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đặng Văn Ú 04 (bốn) năm tù.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, vào ngày 11 tháng 12 năm 2024 bị cáo và bị hại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- Người bào chữa cho bị cáo phát biểu ý kiến tranh luận: mặc dù bị cáo khai báo còn lòng vòng nhưng cấp sơ thẩm vẫn áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải cho bị cáo. Do đó, đề nghị giữ nguyên tình tiết này và cấp phúc thẩm bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử phạt bị cáo mức khởi điểm của khung hình phạt.
- Bị cáo cho rằng bị hại cho bị cáo mượn và bị cáo không có chiếm đoạt điện thoại của bị hại, bị cáo giữ nguyên kháng cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Bị hại vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan và sự vắng mặt của bị hại không gây trở ngại cho việc xét xử. Cho nên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- [2] Tại phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm, bị cáo cho rằng bị cáo chỉ mượn điện thoại của bị hại, mà không có ý thức chiếm đoạt. Việc bị cáo trình bày là không có căn cứ, vì: giữa bị cáo và bị hại không có mối quan hệ quen biết hay thân thuộc, giữa hai người không tồn tại hợp đồng mượn tài sản như bị cáo trình bày; đồng thời cúc áo bị hại bị đứt đã thể hiện hành vi bị cáo dùng vũ lực như bị hại trình bày và lời trình bày của bị hại phù hợp với lời khai của ông Đặng Văn N (là anh ruột của bị cáo). Từ đó có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật Hình sự, như bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo.
- [3] Thành khẩn khai báo là trường hợp người phạm tội đã khai đầy đủ và đúng sự thật tất cả những gì liên quan đến hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện. Với lời khai của bị cáo đã thể hiện bị cáo không thành khẩn khai báo, mà còn quanh co chối tội; nhưng do cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cấp phúc thẩm không thể làm xấu đi tình trạng của bị cáo; mà vẫn áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo đề nghị của người bào chữa.
- [4] Bị hại đã có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đây tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; tuy nhiên do bị cáo không thành khẩn khai báo và cũng không ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đồng thời với mức hình phạt mà cấp sơ thẩm đã áp dụng đối với bị cáo là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo. Từ đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, bị hại và đề nghị của người bào chữa, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
- [5] Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và bị hại, giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm là phù hợp nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
- [6] Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ
- [7] Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đặng Văn Ú và bị hại Nguyễn Vũ L.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm 68/2024/HS-ST ngày 02 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Tuyên bố bị cáo Đặng Văn Ú, phạm tội “Cướp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Đặng Văn Ú 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 02 năm 2024.
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Đặng Văn Ú nộp án phí hình sự phúc thẩm là 200.000đ.
- Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị; không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Tấn |
Bản án số 09/2025/HS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (cướp tài sản)
- Số bản án: 09/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y an
