Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HSPT

Ngày 23 - 01 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hùng Long.

Các Thẩm phán: Ông Trần Công Đoàn và ông Nguyễn Quốc Trưởng.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Huy Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quang Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 97/2024/TLPT-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024. Do có kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn A đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST, ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

* Bị cáo có kháng cáo:

Trần Tuấn A, sinh ngày 26/9/2006; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức K và bà Nguyễn Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/4/2024, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Tuấn A: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987 (mẹ đẻ bị cáo); nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Trần Tuấn A: Ông Nguyễn Văn O và ông Nguyễn Mạnh C - Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư thành phố H; địa chỉ: P, Tòa B G, B P, quận B, Thành phố Hà Nội; có mặt.

- Bị cáo đồng thời là bị hại: Bạch Hồng P, sinh năm 2000; nơi cư trú: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam. Hiện đang chấp hành án tại Trại giam N, Cục C3, Bộ C4; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Văn Đ, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • + Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
  • + Anh Lê Tuấn A1, sinh năm 1998 và chị Phạm Thị Thu H, sinh năm 2005; cùng nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo: Trần Vũ H1, Lê Tự L, phạm Văn T1 và Phạm Quyết T2 bị Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại Điều 318 Bộ luật Hình sự không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị, Toà án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, Trần Tuấn A cùng với Trần Vũ H1 và Nguyễn Phú C1 đến quán ăn của vợ chồng anh Lê Tuấn A1 và chị Phạm Thị Thu H mở tại khu đô thị mới thuộc địa bàn thôn P, xã T để uống nước. Lúc này, Lê Tự L, Bạch Hồng P, Phạm Quốc H2, Nguyễn Văn Đ, Phạm Văn T1, Phạm Bá T3, Phạm Quyết T2 và Phạm Đức T4 đang ngồi uống rượu ở quán, bên cạnh bàn uống nước của H1, sau đó T3 đi về trước còn T2 điều khiển xe mô tô đi chơi. Vì cho rằng H1 nhìn đểu mình nên P chửi “Đ. mẹ chúng mày nhìn cái gì”, rồi cùng với T1, Đ đứng dậy đi sang bàn của H1 thì H1 cầm chiếc ghế nhựa ném trúng người P rồi cùng Tuấn A1 bỏ chạy về phía UBND xã T thì L, Đ, P đuổi theo phía sau, L nhặt 01 viên đá ném về phía H1 nhưng không trúng, lúc này T2 điều khiển xe mô tô quay lại đi phía sau L và Đ. Khi chạy cách quán ăn của anh Lê Tuấn A1 khoảng 100m thì H1 và Tuấn A1 quay lại xô xát, đánh nhau với Đ, Tuấn A1 nhặt 01 viên đá đập vào vùng đầu bên trái Đ, rồi bỏ chạy ra lấy xe mô tô điều khiển xe đi về nhà. Cùng thời điểm đó thì P, L đuổi đến chỗ H1 và xông vào dùng chân tay đấm đá H1 thì anh Lê Tuấn A1 (chủ quán) chạy đến can ngăn nên P, L, Đ cùng với H1 quay lại khu vực quán ăn để nói chuyện. Tại khu vực quán ăn, H1 và L, P, Đ tiếp tục cãi nhau, P, L, Đ cùng xông vào dùng tay chân đấm đá H1, T2 đứng cạnh H1 thấy vậy cũng đấm H1 bằng tay phải nhưng do P cũng xông vào đánh H1 nên T2 đấm trúng vai P còn Đ chạy ra quầy bán hàng lấy 01 con dao gọt hoa quả cầm quay lại xông vào đâm H1 thì anh Lê Tuấn A1 giơ chân trái lên can ngăn nên bị Đ đâm trúng bắp chân trái, sau đó Đ tiếp tục dùng dao đâm trúng bụng H1 rồi tiếp tục giơ dao đâm H1 thì H1 tránh được và bị ngã về phía sau, H1 vùng bỏ chạy thì Đ cầm dao cùng với L đuổi theo H1, T2 cũng chạy theo được khoảng 2-3m thì dừng lại. H1 chạy đến khu vực cách quán ăn khoảng 30m thì ngồi ở vỉa hè ôm bụng. Khi đó Trần Tuấn A điều khiển xe mô tô quay lại quán ăn và cầm theo 01 con dao dài khoảng 30 cm, chuôi bằng gỗ, bản lưỡi dao rộng khoảng 8 cm giơ lên dọa chém nhóm của P thì được cậu ruột là Nguyễn Văn G can ngăn. Tuấn A và T1 chửi nhau, T1 dùng cán chổi bằng tre vụt trúng vai của Tuấn A, lúc này mẹ đẻ Trần Tuấn A là Nguyễn Thị T điều khiển xe mô tô đi tìm Tuấn A, T nhìn thấy H1 (là chồng chưa cưới của con gái T) đang ngồi ở dệ đường và bị thương tích ở bụng còn Tuấn A đang đứng ở gần đó nên T bảo Tuấn A và H1 đi về, thấy vậy T1 nói “tưởng như nào, về bám váy mẹ à”, T bị T1 kích động nên chửi nhau với T1, sau đó T1 dùng cán chổi tre vụt vào hông T thì được Giỏi can ngăn làm rơi cán chổi xuống đất, P xông vào ôm vật nhau với T ở khu vực gần quán ăn, Phúc nhặt, cầm 01 viên đá ở đường đập vào vùng đầu T, lúc này Trần Tuấn A xông vào dùng dao chém 03 nhát vào vùng lưng của P thì T vùng ra được, L tiếp tục chửi nhau và xô xát với T thì T dùng cán chổi tre chọc về phía L gây xước da ở vùng thái dương, nách, bụng trái rồi T bỏ chạy cầm theo cán chổi đi về và vứt ở dọc đường, L cầm ghế nhựa đuổi theo T thì bị Giỏi can lại, sau đó Tuấn A đã ném chiếc dao đi nhưng không xác định được địa điểm. Hậu quả: P, Đ, H1 được đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện H3, Lê Tự L, Nguyễn Thị T và anh Lê Tuấn A1 bị thương tích nhẹ.

Ngày 22/10/2023 sau khi tiếp nhận thông tin của nhân dân, Công an xã T đã chuyển nguồn tin đến cơ quan CSĐT - Công an huyện T để xác minh, giải quyết theo thẩm quyền.

Vật chứng thu giữ: Cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã xác định hiện trường, thu giữ vật chứng là 01 chiếc ghế nhựa màu xanh kích thước (26x26x30)cm do anh Lê Tuấn A1 tự nguyện giao nộp; 01 con dao dài 24cm, chuôi dài 10,5cm do chị Phạm Thị Thu H (vợ anh Lê Tuấn A1) tự nguyện giao nộp; tiến hành truy tìm đối với con dao Trần Tuấn A sử dụng để gây thương tích cho Bạch Hồng P nhưng không thu giữ được và không có căn cứ để truy tìm đối với chiếc cán chổi, các viên đá.

Quá trình điều tra cả Lê Tự L, Nguyễn Thị T và anh Lê Tuấn A1 đều từ chối giám định thương tích của bản thân.

Tài liệu điều tra xác định khu vực xảy ra sự việc ở khu đô thị mới thuộc địa bàn thôn P, xã T, khi vụ việc xảy ra hai nhóm đối tượng đã sử dụng dao, đá, cán chổi tre để đánh nhau gây hậu quả tổn thương cơ thể cho người khác, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an trên địa bàn; các hộ dân cư trú gần đó đều phản ánh vụ việc xảy ra đã gây tâm lý hoang mang, lo sợ; chính quyền địa phương đề nghị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

Ngày 26/01/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bạch Hồng P. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 18/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 06/02/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Gãy xương đòn phải đang can, không ảnh hưởng đến gánh vác; gãy xương bả vai phải; gãy mỏm cùng vai phải; gãy xương sườn VI bên phải một điểm, đang can; 03 sẹo lớn (vai, lưng phải) không ảnh hưởng chức năng;

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bạch Hồng P tại thời điểm giám định là 26%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Thương tích điều trị ổn định không xác định được chiều hướng; thương tích do vật sắc gây nên”.

Ngày 21/02/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra văn bản đề nghị Trung tâm giám định y khoa và Pháp y tỉnh H giải thích, xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do từng vết thương gây ra của Bạch Hồng P; hành vi của Trần Tuấn A sử dụng dao chém Bạch Hồng P có gây ra được thương tích làm gãy xương đòn phải, gãy xương bả vai, gãy mỏm cùng vai phải, gãy xương sườn VI bên phải hay không?

Ngày 22/02/2024, Trung tâm giám định y khoa và Pháp y tỉnh H có văn bản xác định:

- Đối chiếu bảng I - tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do thương tích, ban hành kèm theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y, quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, pháp y tâm thần:

  • + Gãy xương đòn phải đang can, không ảnh hưởng đến gánh vác: 06%.
  • + Gãy xương bả vai phải: 06%.
  • + Gãy mỏm cùng vai phải: 06%.
  • + Gãy xương sườn VI bên phải một điểm, đang can: 02%.
  • + 03 sẹo lớn (vai, lưng phải) không ảnh hưởng chức năng: 03%, 03%, 03%.

- Áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư số 22/2019/TT-BYT, tỷ lệ tổn thương cơ thể của Bạch Hồng P tại thời điểm giám định: 26%.

- Trường hợp Trần Tuấn A dùng dao chém vào vai phải và vùng lưng của Bạch Hồng P có thể gây nên vết thương vai phải và 02 vết thương vùng lưng phải cùng các tổn thương kèm theo (gãy xương đòn phải, gãy xương bả vai phải, gãy mỏm cùng vai phải, gãy xương sườn VI bên phải) như ghi nhận tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 18 ngày 06/02/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H.

Ngày 26/02/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Trần Vũ H1. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 35/KLTTCT-TTGĐYK&PY ngày 05/3/2024 của Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Vết thương gan, điều trị bảo tồn kết quả tốt: 07%;
  • - Sẹo nhỏ ngực phải, không ảnh hưởng chức năng: 01%;
  • - 05 sẹo nhỏ (phẫu thuật), không ảnh hưởng chức năng: 01%; 01%; 01%; 01%; 01%;
  • - Sẹo nhỏ ngón V tay trái, không ảnh hưởng chức năng: 01%;

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Vũ H1 tại thời điểm giám định là 13%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Qua nghiên cứu hồ sơ tài liệu và khám giám định, nhận định: Thương tích điều trị ổn định không xác định được chiều hướng. Thương tích do vật sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên”.

Ngày 29/6/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ. Ngày 01/7/2024 Trung tâm giám định y khoa và pháp y tỉnh H có văn bản số 159 về việc từ chối giám định do nội dung trưng cầu giám định vượt quá giới hạn chuyên môn của giám định viên.

Ngày 02/7/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu V giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ. Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 113/KLTTCT-PYQG ngày 08/7/2024 của V kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • - Sẹo vùng thái dương trái kích thước lớn;
  • - Sẹo dẫn lưu vùng chẩm trái kích thước nhỏ;
  • - Hội chẩn chuyên gia: Ở khuyết não dịch hóa di chứng sau đụng dập máu tụ ở thái dương trái;
  • + Máu tụ dưới màng cứng bán cầu trái;
  • + Vỡ xương thái dương có mảnh lún rời ngang mức phần trai thái dương;
  • + Khuyết xương sọ;

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT, ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn Đ tại thời điểm giám định là 52%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

- Cơ chế, vật gây thương tích: Do vật tày tác động trực tiếp vào vùng thái dương theo hướng từ trái sang phải và từ ngoài vào trong gây ra.”

Thi hành Lệnh khám xét đối với Bạch Hồng P, Lê Tự L, Trần Vũ H1, Trần Tuấn A; Lệnh khám xét khẩn cấp đối với Phạm Văn T1, Nguyễn Văn Đ, Phạm Quyết T2, Cơ quan CSĐT Công an huyện T không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Quá trình điều tra, Trần Tuấn A chỉ khai nhận đã dùng tay chân đấm đá Nguyễn Văn Đ, không thừa nhận hành vi dùng viên đá đập vào đầu gây thương tích cho Đ. Trên cơ sở lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bản kết luận giám định có đủ căn cứ xác định hành vi của Trần Tuấn A như đã nêu ở phần nội dung vụ án.

Do nghi ngờ tình trạng tâm thần của Nguyễn Văn Đ, ngày 19/7/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T ra Quyết định trưng cầu V1 giám định để xác định: Trước, trong khi thực hiện hành vi phạm tội và thời điểm hiện tại bị can Nguyễn Văn Đ có bị bệnh tâm thần không; nếu bị bệnh tâm thần thì thuộc loại gì, nguyên nhân do đâu; bị can có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi không? Do chưa có Kết luận giám định, ngày 20/7/2024 cơ quan CSĐT - Công an huyện T đã ra Quyết định tách vụ án hình sự đối với Nguyễn Văn Đ cùng với vật chứng là 01 con dao để tiếp tục điều tra, làm rõ, xử lý sau.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 26/9/2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam đã quyết định:

Về hình sự: căn cứ vào điểm c khoản 3 Điều 134, các điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự (đối với Trần Tuấn A); điểm b khoản 2 Điều 318 (đối với Bạch Hồng P, Trần Vũ H1, Lê Tự L, Phạm Văn T1), khoản 1 Điều 318 (đối với Phạm Quyết T2); các điều 17, 58 Bộ luật Hình sự (đối với Bạch Hồng P, Trần Vũ H1, Lê Tự L, Phạm Văn T1, Phạm Quyết T2), điểm s khoản 1 Điều 51 (đối với tất cả các bị cáo); điểm i khoản 1 Điều 51 (đối với Phạm Quyết T2); điểm h khoản 1 Điều 52 (đối với Phạm Văn T1); khoản 2 Điều 51 đối với các bị cáo (Trần Tuấn A, Bạch Hồng P, Lê Tự L); Điều 38 (đối với Trần Tuấn A, Bạch Hồng P, Trần Vũ H1, Lê Tự L, Phạm Văn T1), Điều 65 của Bộ luật Hình sự (đối với Phạm Quyết T2); điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,

Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”; các bị cáo Bạch Hồng P, Trần Vũ H1, Lê Tự L, Phạm Văn T1, Phạm Quyết T2 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

  • - Xử phạt Trần Tuấn A 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (01/4/2024).
  • - Xử phạt Bạch Hồng P 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (23/02/2024).
  • - Xử phạt Trần Vũ H1 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (23/02/2024).
  • - Xử phạt Phạm Văn T1 03 (Ba) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (16/4/2024).
  • - Xử phạt Lê Tự L 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (23/02/2024).
  • - Xử phạt Phạm Quyết T2 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, thời gian được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/9/2024).

Ngoài ra án sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 09/10/2024 bị cáo Trần Tuấn A có đơn kháng cáo đề nghị HĐXX phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo Tuấn A giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà kết luận: Không có căn cứ chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn A. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự: Giữ nguyên Bản án sơ thẩm 82/2024/HS-ST ngày 26/9/2024, Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

- Tại phiên tòa:

  • + Người bào chữa cho bị cáo Trần Tuấn A ông Nguyễn Văn O và ông Nguyễn Mạnh C có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét nguyên nhân và điều kiện phạm tội xuất phát từ phía bị hại đã gây sự trước và đánh mẹ của bị cáo; dẫn đến bị cáo có hành vi gây thương tích cho bị hại, nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội trong trường hợp bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của nạn nhân gây ra”. Đối với hành vi gây thương tích cho bị hại Nguyễn Văn Đ, bị cáo chỉ dùng tay đánh nhau với Đ và sau này chỉ có lời khai của Phạm Quyết T2. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ gia đình bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn; có giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022; có Trích sao bệnh án của ông Trần Đức K (Bố đẻ bị cáo) bị tai nạn và bị trấn thương sọ não. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, xét xử theo khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 18 – 24 tháng tù cho hưởng án treo.
  • + Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Tuấn A đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
  • + Bị cáo Trần Tuấn A nhất trí với quan điểm của những người bào chữa cho bị cáo và người đại diện hợp pháp của bị cáo đã trình bày.
  • + Bị hại anh Bạch Hồng P có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
  • + Bị hại anh Nguyễn Văn Đ có quan điểm: Yêu cầu bị cáo bồi thường dân sự cho bị hại.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Tuấn A trong thời hạn luật định, đảm bảo đúng quy định theo khoản 2 Điều 332 Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó được cấp phúc thẩm xem xét, giải quyết theo quy định.

[2] Về tội danh và hành vi phạm tội:

Hội đồng xét xử thấy: Toà án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá toàn diện vụ án qua các lời khai của bị cáo Tuấn A cũng như lời khai của bị cáo Đ và các bị cáo khác trong vụ án thể hiện. Bản thân bị cáo Trần Tuấn A đã khai nhận và khẳng định chỉ có một mình bị cáo đánh nhau với Đ bằng tay chân (Bút lục 337 mặt thứ 2 dòng 11, 12 từ dưới lên và Bút lục 338). Quá trình xô xát giữa bị cáo Tuấn A và Đ thì các bị cáo khác không tham gia.

Căn cứ vào nội dung vụ án thấy: Trước khi sảy ra xô xát bị hại Nguyễn Văn Đ cùng các bị cáo Lê Tự L, Bạch Hồng P, Phạm Văn T1, Phạm Quyết T2 cùng Phạm Quốc H2, Phạm Bá T3 và Phạm Đức T4 ngồi ở quán ăn của vợ chồng anh Lê Tuấn A1 và chị Phạm Thị Thu H mở tại khu đô thị mới thuộc địa bàn thôn P, xã T để uống nước sau đó Trần Tuấn A, Trần Vũ C2 và Nguyễn Phú C1 mới đến quán nước. Khi ngồi uống nước cùng với các bị cáo khác thì lúc này trên người, thân thể Đ chưa hề có thương tích và chưa hề có các vết máu trên cơ thể. Chỉ sau khi xô xát đánh nhau vơi Tuấn A thì trên cơ thể Đệ mới có thương tích. Lời khai trong quá trình đối chất giữa Trần Tuấn A, và Phạm Quyết thắng ngày 05/7/2024 Bút lục 339 (Mặt 2), T2 đã khẳng định: “Khi tôi chở bạn gái quay lại khu đô thị thì có nhìn thấy P, L, Đ đang đuổi theo H1 và Tuấn A; tôi đi xe lại gần thì thấy Tuấn A nhặt một viên đá ở đường rồi cùng H1 quay lại đánh Đ. Tôi nhìn thấy Tuấn A và H1 có các động tác vung tay vào người của Đ; tuy nhiên có phải Tuấn A cầm đá đập vào đầu của Đ không thì tôi không xác định được”. Tại Bút lục 344 (Mặt 4) lời khai ngày 09/7/2024, chính bị cáo Tuấn A khẳng định “H1 không tham gia đánh Đ”. Lời khai của bị hại Nguyễn Văn Đ tại Bút lục 670 (mặt thứ 2) Cơ quan điều tra hỏi: “Bị can bị thương tích ở đâu? Do ai gây ra”, Đ khai: “Tôi chỉ nhớ khi đuổi theo H1, Tuấn A thì bị một trong hai người quay lại dùng vật gì đó đập vào đầu tôi gây thương tích cho tôi”. Do đó, đủ cơ sở kết luận chỉ có bị cáo Tuấn A nhặt đá rồi đánh nhau với Đ, thương tích của Nguyễn Văn Đ là do Trần Tuấn A gây ra. Căn cứ vào kết luận giám định của Cơ quan chuyên môn đối với tổn thương cơ thể của bị hại Nguyễn Văn Đ cũng như lời khai của bị hại, những người làm chứng, biên bản thu giữ vật chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 20/10/2023, tại khu vực quán ăn của anh Lê Tuấn A1 ở khu đô thị mới thuộc địa bàn thôn P, xã T, huyện T; Bạch Hồng P đã vô cớ gây sự và chửi Trần Vũ H1 thì H1 cầm ghế nhựa ném trúng người P rồi cùng Trần Tuấn A bỏ chạy, P đã cùng Nguyễn Văn Đ, Lê Tự L đuổi theo H1 và Trần Tuấn A, L cầm 01 viên đá ném về phía H1 nhưng không trúng, sau đó H1, Trần Tuấn A xông vào đánh nhau với Đ, Trần Tuấn A dùng 01 viên đá đập vào vùng đầu bên trái gây thương tích cho Đ, tỷ lệ tổn thương cơ thể 52%; H1 bị P, L, Đ xông vào dùng tay, chân đánh, sau đó cả 04 đối tượng cùng với Phạm Quyết T2 quay lại khu vực quán ăn, tiếp tục chửi nhau, P, L, Đ xông vào dùng chân tay đấm đá H1, T2 xông vào đấm H1, do P cũng xông vào đấm H1 nên T2 đấm vào vai P rồi dừng lại không có hành vi gì tiếp theo (T2 không biết việc H1 cầm ghế nhựa đánh P vì lúc đó T2 không có mặt), tiếp đó Đ sử dụng dao gọt hoa quả đâm vào vùng bụng gây thương tích cho H1, khi H1 vùng bỏ chạy thì Đ, L, T1 tiếp tục đuổi theo. Khi Nguyễn Thị T đến tìm Trần Tuấn A thì bị T1, P, L dùng lời nói kích động và chửi nhau với T, T1 đã sử dụng cán chổi bằng tre vụt T, P xông vào vật nhau, dùng 01 viên đá đập vào đầu T thì Trần Tuấn A sử dụng dao chém vào vùng vai, lưng P gây thương tích, tỷ lệ tổn thương cơ thể 26%, khi T vùng ra được thì L tiếp tục chửi nhau và xô xát với T.

Hành vi của Trần Tuấn A sử dụng tay chân đánh và dùng đá gây thương tích cho Nguyễn Văn Đ tỷ lệ tổn thương cơ thể 52% và hành vi dùng dao chém Bạch Hồng P tỷ lệ tổn thương cơ thể 26%. Trong đó dao và đá là hung khí nguy hiểm nên hành vi của bị cáo Trần Tuấn A đã phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên bố bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn A, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi dùng hung khí nguy hiểm gây thương tích cho Nguyễn Văn Đ tỷ lệ tổn thương cơ thể 52% và gây thương tích cho Bạch Hồng P tỷ lệ tổn thương cơ thể 26%. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố và Tòa án nhân dân Huyện Thanh Liêm xét xử bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng quy định pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại, quyền bảo hộ về sức khoẻ của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an trên địa bàn dân cư, gây tâm lý hoang mang, lo lắng cho quần chúng nhân dân. Do đó cần phải xử lý nghiêm minh hành vi phạm tội của bị cáo theo quy định của pháp luật.

Khi áp dụng hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả do bị cáo gây nên; nhân thân và vận dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo được hưởng như: Bị cáo chỉ thừa nhận hành vi gây thương tích cho Bạch Hồng P và xác nhận có đánh nhau với bị hại Nguyễn Văn Đ bằng chân tay nên Hội đồng xét xử áp dụng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có ông nội Trần Quốc T5 là liệt sỹ nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo 05 (Năm) năm tù, là mức án khởi điểm của khung hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 134 là tương xứng và đã thể hiện tính khoan hồng của pháp luật. Quá trình xét xử phúc thẩm, người đại diện hợp pháp của bị cáo (Mẹ đẻ của bị cáo) xuất trình biên lai thu tiền án phí hình sự sơ thẩm, đơn xin xác nhận của chính quyền địa phương vì có hoàn cảnh gia đình khó khăn; có giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2022 (Hiện nay không còn là hộ cận nghèo nữa); có Trích sao bệnh án của ông Trần Đức K (Bố đẻ bị cáo) bị tai nạn và bị trấn thương sọ não (Kèm theo chứng thương và Trích sao bệnh án của Bệnh viện H3); người bị hại Bạch Hồng P có mặt tại phiên toà xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là những tình tiết giảm nhẹ mới cần áp dụng cho bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Mặc dù có tình tiết mới áp dụng cho bị cáo được hưởng theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nhưng xét thấy hành vi phạm tội bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, gây thương tích, tổn hại sức khoẻ cho nhiều người bị hại, tỉ lệ tổn hại sức khỏe của bị hại cao do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Mức án 05 (Năm) năm tù mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là phù hợp. Do đó kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn A không có căn cứ chấp nhận.

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tuấn A phải chịu theo quy định pháp luật.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Trần Tuấn A. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 82/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Toà án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38; các điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 136, Điều 292, Điều 293, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Trần Tuấn A 05 (Năm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam (01/4/2024).

Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Tuấn A phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - Sở tư pháp tỉnh Hà Nam;
  • - Phòng NVHS Công an tỉnh Hà Nam;
  • - TAND huyện Thanh Liêm;
  • - VKSND huyện Thanh Liêm;
  • - Công an huyện Thanh Liêm;
  • - Cơ quan THAHS huyện Thanh Liêm;
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Liêm;
  • - Bị cáo; Bị hại; các đương sự;
  • - Người bào chữa;
  • - Lưu HS, Tòa hình sự, Bộ phận HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Phạm Hùng Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HSPT ngày 23/01/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về hình sự phúc thẩm (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 09/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger