|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 09/2025/HS-PT Ngày 03 tháng 3 năm 2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Vũ; Ông Nguyễn Ngọc Thúy.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hà - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Trương Thị Kim Dung - Kiểm sát viên.
Ngày 03/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 13/2025/TLPT-HS ngày 11/02/2025 Đối với bị cáo: Nguyễn Minh T; Do có kháng cáo của bị cáo: Nguyễn Minh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Minh T; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 29/5/2003 . Nơi ĐKHKTT: khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Đoàn thể: không. Con ông: Nguyễn Minh C, sinh năm 1975; Con bà: Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975. Vợ, con: không; Tiền án, tiền sự: Không ; Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính,đã xử lý kỷ luật): Không; Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 02/10/2024 đến ngày 11/10/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P. (Có mặt tại phiên tòa).
Người bị hại:
- Chị Vũ Thị Thu T1, sinh năm 1991.
ĐKHKTT : Khu 2, xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Nơi ở: Khu 4, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Chị Nông Thị L, sinh năm 1983.
ĐKHKTT : Thôn Na Lũng, Bản Díu, huyện Xí Mần, tỉnh Hà Giang
Nơi ở: Khu 4, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Nguyễn Thị Út T2, sinh năm 2005.
ĐKHKTT : Khu 2, xã Hoàng Cương, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ
Nơi ở: Khu 4, xã Phú Hộ, thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975.
Địa chỉ: Khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ.
Những Người bị hại và những Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo, không bị kháng cáo; Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Buổi tối ngày 27/9/2024 Nguyễn Minh T, sinh năm 2003 nơi thường trú khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ, chỗ ở hiện nay khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ đi xe ôm lên thị xã P chơi điện tử. Sau khi chơi xong, đến khoảng 03 giờ 30 phút ngày 28/9/2024 T đi bộ dọc theo đường 35 để về phòng trọ. Khi đi đến khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, T thấy phía trước cửa nhà trọ của gia đình ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1962 trú tại khu D, xã P, thị xã P có dựng nhiều xe mô tô không có người trông giữ, cổng nhà trọ không khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. T đi vào phía cửa hành lang tầng một của nhà trọ, quan sát xung quanh khu vực để xe không có người, sau đó đi đến vị trí chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 19K1 - 473.45 của chị Vũ Thị Thu T1, sinh năm 1991 địa chỉ khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện tạm trú tại khu D, xã P, thị xã P đang dựng chân trống phụ gần với cửa ra vào của nhà trọ. Thấy xe mô tô không khóa cổ, khóa càng nên T gạt chân trống phụ, quay đầu xe và ngồi lên xe mô tô, dùng một chân đạp xuống đất để tạo đà đẩy xe mô tô ra đến đường Quốc lộ 2. Khi ra đến đường Q, T nhìn thấy ở ven đường có một chiếc tuốc nơ vít dài khoảng 20cm, chuôi bằng nhựa màu trắng có sọc kẻ màu đỏ nên dừng lại nhặt chiếc tuốc nơ vít lên và dùng phá ổ khóa điện sau đó khởi động được xe mô tô. T điều khiển xe mô tô đi theo đường Quốc lộ 2 về phòng trọ tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ cất giấu chiếc xe mô tô này tại nhà trọ rồi đi ngủ.
Đến khoảng 03 giờ 00 phút ngày 30/9/2024 T mang theo chiếc tuốc nơ vít nhặt được từ hôm trước, cất vào túi áo khoác và điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 đã trộm cắp được ngày 28/9/2024 đi từ phòng trọ lên xã P, thị xã P mục đích tiếp tục trộm cắp xe mô tô. Khi đi đến đoạn gần cây xăng dầu P thuộc khu C, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, T rẽ vào một đường dân sinh và để chiếc xe mô tô này ở cổng một nhà trọ không biết tên địa chỉ cụ thể. Sau đó T đi bộ loanh quanh với mục đích tìm xe mô tô để trộm cắp. Khi đi đến khu vực nhà trọ của anh Lê Văn T4, sinh năm 1979 trú tại khu D, xã P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ thấy hiên của dãy nhà trọ dựng nhiều xe mô tô không có người trông coi. T đến vị trí xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 19K1 - 404.59 của chị Nông Thị L, sinh năm 1983 địa chỉ Thôn N, Bản D, huyện X, tỉnh Hà Giang hiện đang tạm trú tại khu D, xã P, thị xã P và gạt chân trống phụ lên, ngồi trên xe, dùng một chân đạp xuống đất tạo đà để xe trôi theo dốc nhà trọ xuống đến đường quốc lộ 2. Sau đó T sử dụng chiếc tuốc nơ vít đã chuẩn bị từ trước dùng để phá ổ khóa điện và khởi động được xe. T điều khiển xe mô tô này đi theo đường quốc lộ 2 về nhà trọ ở khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Khi về đến nhà trọ, T tháo biển kiểm soát19K1 - 404.59 cất giấu tại gầm giường phòng trọ. Sau đó T đi bộ quay lại nơi để chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 và điều khiển xe này về cất giấu tại phòng trọ. Do không có tiền tiêu sài nên ngày 30/9/2024 T đã bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 cho một người tên F là Trần Văn Q ở Vĩnh Phúc với giá 7.100.000 đồng.
Sau khi bị mất tài sản, ngày 02/10/2024 chị T1 và chị L đã đến công an thị xã P để trình báo về việc bị mất tài sản. Chị T1 trình báo xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 có giá trị khoảng 13.500.000 đồng. Chị L trình báo xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 404.59 có giá trị khoảng 10.00.000 đồng.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã tiến hành khám nghiệm hiện trường, đồng thời trích xuất đoạn camera tại phòng trọ của gia đình ông Nguyễn Ngọc T3 và đoạn camera tại nhà anh Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1985 trú tại khu D, xã P, thị xã P (là nhà liền kề với gia đình anh T4). Cơ quan điều tra đã niêm phong, trích xuất, chụp ảnh, lưu trữ vào 01 đĩa DVD để phục vụ công tác điều tra đồng thời Cơ quan điều tra đã tiến hành làm việc với Nguyễn Minh T, mở đoạn camera ghi lại hình ảnh đối tượng trộm cắp tài sản cho T xem, T khẳng định người trong hình ảnh đó chính là T.
Ngày 02/10/2024 cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Minh T tại khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét thu giữ: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn trắng đen bạc, không lắp biển số; 01 biển kiểm soát 19K1 - 404.59; 01 chiếc tuốc nơ vít; 01 áo khoác màu đen xanh, mũ áo màu đen, tay áo màu xanh; 01 áo cộc tay màu đen, ngực áo có chữ “GUCCI” ; 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen; 01 quần đùi màu đen, có dây thắt màu trắng. Các đồ vật tài sản đều đã qua sử dụng.
Ngày 04/10/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã Yêu cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/2024/KL –ĐGTS ngày 10/10/2024, Hội đồng định giá tài sản Ủy ban nhân dân thị xã P kết luận giá trị chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 là 14.560.000 đồng và xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 404.59 là 10.920.000 đồng.
Tại cơ quan điều tra, Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Đồng thời T khai nhận về việc bán chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 như sau: Sau khi trộm cắp được hai chiếc xe mô tô, do không có tiền tiêu sài nên buổi sáng ngày 30/9/2024, T dùng tài khoản Facebook Nguyễn Khánh T5 vào mạng xã hội với mục đích để tìm người mua xe mô tô. T5 vào nhóm mua bán xe máy cũ 88 Vĩnh Phúc thấy có người tên tài khoản Facebook là Trần Văn Q nên T5 nhắn tin và gửi hình ảnh chiếc xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 Toàn trộm cắp được ngày 28/9/2024 cho Q xem. T5 nói với Q là xe không có giấy tờ và muốn bán với giá 7.100.000 đồng. Q đồng ý và bảo Toàn đi giao xe luôn cho Q tại khu công nghiệp B thuộc huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. T5 điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 19K1 - 473.45 đến địa chỉ như đã hẹn trên. Đến nơi T5 gặp Q tại cổng một công ty trong khu công nghiệp B, Q kiểm tra xe, đồng ý mua, sau đó dùng số tài khoản 1033854733 mở tại Ngân hàng V chủ tài khoản là Nguyễn Văn S chuyển khoản số tiền 7.100.000 đồng (bảy triệu một trăm nghìn đồng) đến số tài khoản 107875457299 mở tại ngân hàng V mang tên Nguyễn MinhToàn. Bán được xe mô tô xong T5 bắt xe khách quay về nhà trọ thuộc khu A, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. Trên đường về, T5 đã làm rơi chiếc điện thoại di động dùng để liên lạc bán xe mô tô và nhận tiền bán xe mô tô từ người có tên tài khoản Facebook là Trần Văn Q. Số tiền bán chiếc xe mô tô trên T5 đã sử dụng chi tiêu sinh hoạt cá nhân hết.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã P đã xác minh thông tin tài khoản nhận tiền của T5, xác định chủ đăng ký số tài khoản 1033854733 mở tại Ngân hàng V là Nguyễn Văn S, sinh năm 2000, hộ khẩu thường trú tổ dân phố Số T, thị trấn K, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Cơ quan điều tra đã xác minh, triệu tập Nguyễn Văn S đến làm việc nhưng S không có mặt tại địa phương nơi cư trú. Cơ quan điều tra đã xác minh, làm việc với gia đình S và chính quyền địa phương. Tuy nhiên gia đình và chính quyền địa phương không biết S đi đâu làm gì, không liên lạc và không quản lý được nên chưa có căn cứ để xử lý đối với S.
Về vật chứng, đồ vật, tài sản tạm giữ: Đối với 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng đen bạc và 01 biển kiểm soát 19K1-404.59 là tài sản của chị Nông Thị L; 01 chiếc tuốc nơ vít T5 nhặt được ở ven đường và sử dụng để phá ổ khóa trộm cắp xe mô tô; 01 áo khoác màu đen xanh, mũ áo màu đen, tay áo màu xanh, 01 áo cộc tay màu đen, ngực áo có chữ “GUCCI”, 01 mũ bảo hiểm loại nửa đầu màu đen, 01 quần đùi màu đen, có dây thắt màu trắng là trang phục của T5 sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Đối với chiếc điện thoại di động dùng liên lạc để bán xe, T5 đã làm rơi nên cơ quan điều tra không thu giữ được làm vật chứng vụ án.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 19K1 - 473.45 là tài sản của chị Nguyễn Thị Út T2, sinh năm 2005, có địa chỉ khu B, xã H, huyện T, tỉnh Phú Thọ hiện tạm trú tại khu D, xã P, thị xã P. Khoảng tháng 8 năm 2024 chị T2 đã cho chị Vũ Thị Thu T1 mượn xe để làm phương tiện đi làm. Sau khi T5 trộm cắp xe mô tô, T5 đã bán chiếc xe trên nên cơ quan điều tra không thu hồi được. Mẹ đẻ của T5 là bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1975 trú tại khu G, xã T, huyện P, tỉnh Phú Thọ đã thay T5 bồi thường thiệt hại cho chị T2 theo giá trị chiếc xe là 14.560.000 đồng. Chị T2 đã nhận đủ tiền và không có ý kiến gì. Do bà Đ đã bồi thường giá trị chiếc xe mô tô cho chị T2 nên chị T1 đã đồng ý và không có đề nghị gì liên quan đến tài sản bị trộm cắp.
Về điều kiện kinh tế: Bị cáo là lao động tự do, ngoài đồ dùng sinh hoạt thiết yếu, bị cáo không có tài sản giá trị.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 38, khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự; Điểm a, c khoản 2, khoản 3 điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Nguyễn Minh T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02/10/2024.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;
Ngày 21/01/2025 bị cáo Nguyễn Minh T gửi đơn kháng cáo qua ban giám thị trại tạm giam công an tỉnh P với nội dung đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh T giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm:
Căn cứ điểm a khoản 1 điều 355; Điều 356; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Minh T.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo nói lời sau cùng xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T trong hạn luật định nên được xem xét, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ đã truy tố, không oan sai. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của Người bị hại, Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra vụ án, vật chứng thu giữ được và các tài liệu khác có trong hồ sơ. Do đó đã có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Nguyễn Minh T đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần.
Lần thứ nhất: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 28/9/2024 tại nhà trọ của ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1962 ở tại khu D, xã P, thị xã P, Nguyễn Minh T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn trắng - đen - bạc, biển kiểm soát 19K1 - 473.45 đã qua sử dụng của chị Vũ Thị Thu T1. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 14.560.000 đồng.
Lần thứ hai: Khoảng 03 giờ 30 phút, ngày 30/9/2024 tại nhà trọ của anh Lê Văn T4, sinh năm 1979 ở tại khu D, xã P, thị xã P, Nguyễn Minh T đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 19K1 - 404.59 đã qua sử dụng của chị Nông Thị L. Giá trị tài sản chiếm đoạt là 10.920.000 đồng.
[3] Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:
Trong khoảng thời gian ngắn bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, mỗi lần trộm cắp đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 25.480.000đ; Bị cáo Nguyễn Minh T được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân và giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù là phù hợp. Đúng quy định của pháp luật.
Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này đã được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ. Xong tại cấp phúc thẩm bị cáo T không cung cấp thêm được tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho việc kháng cáo của mình. Do vậy, kháng cáo của bị cáo T không được chấp nhận.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[5] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên Tòa phúc thẩm là có căn cứ nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị. Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356; Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Minh T.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số: 02/2025/HS-ST ngày 09/01/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ về hình phạt chính đối với bị cáo Nguyễn Minh T;
Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1 điều 51, điểm g khoản 1 điều 52, khoản 1 điều 38 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh T 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02/10/2024.
[2] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị Viện kiểm sát kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
7
Bản án số 09/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 09/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Minh T
