TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ - ST Ngày: 30/9/2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông: Vũ Hải Dương.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Hải; Bà Nguyễn Thị Khánh.
Thư ký phiên tòa: Đỗ Thị Thanh Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 17 - Phú Thọ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17 - Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Trần Thu Hằng, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 09 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 17 - Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 01/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2025, về tranh chấp hôn nhân gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 29 tháng 8 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa, giữa:
Nguyên đơn: anh Bùi Văn C, sinh năm 1992 (Vắng mặt có đơn xét xử vắng mặt).
Bị đơn: chị Lê Thị T, sinh năm 1990 (Vắng mặt không có lý do).
Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ.
Người làm chứng:
- + Ông Đinh Văn T1, sinh năm 1960; bà Quách Thị T2, sinh năm 1972; bà Bùi Thị M, sinh năm 1960; ông Bùi Văn T3, sinh năm 1960. (Vắng mặt).
- Cùng địa chỉ: thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn đề ngày 02/7/2025, bản tự khai và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn anh Bùi Văn C trình bày:
- Về hôn nhân: anh Bùi Văn C và chị Lê Thị T kết hôn do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là UBND xã A, tỉnh Phú Thọ) vào ngày 23/5/2014. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống cùng gia đình anh C tại thôn Đ, xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ). Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc, sau đó thì nảy sinh mâu thuẫn, đến tháng 6 năm 2024 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do trong cuộc sống chung vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống trong xây dựng kinh tế gia đình, hôn nhân không hòa hợp nên anh C đã sống ly thân với chị T từ tháng 6 năm 2024 cho đến nay, xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, nên anh C kiện ra tòa xin được ly hôn với chị Lê Thị T.
- Về con chung: anh Bùi Văn C khai trong quá trình chung sống anh và chị Lê Thị T có với nhau 02 con chung là Bùi Đức Đ, sinh ngày 16/3/2015 và Bùi Minh Q, sinh ngày 05/12/2020. Anh C có nguyện vọng được quyền nuôi con là cháu Bùi Đức Đ và chưa yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con. Hiện nay cháu Bùi Minh Q còn nhỏ và hiện tại đang do chị T trực tiếp nuôi dưỡng nên anh có ý kiến đề nghị Tòa án giải quyết giao con là Bùi Minh Q cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh Bùi Văn C xác nhận trong quá trình chung sống anh và chị T không có tài sản chung và không vay nợ ai hay tổ chức nào nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Đối với bị đơn chị Lê Thị T: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để giải quyết vụ án nhưng chị Lê Thị T vẫn không có mặt tại Tòa án, do đó Tòa án không ghi được lời khai và vụ án không tiến hành hòa giải được. Tuy nhiên, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cũng như quyết định đưa vụ án ra xét xử và quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhưng chị Lê Thị T vẫn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.
Quá trình điều tra xác minh tại địa phương nơi cư trú của chị Lê Thị T và lời khai của người làm chứng thể hiện: Tại thời điểm xác minh ngày 24/7/2025 chị Lê Thị T đăng ký hộ khẩu thường trú tại: thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ. Chị T và anh C sau khi kết hôn có về ở chung cùng bố mẹ anh C tại thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ. Sau khi sinh con có gửi con ở nhà bố mẹ anh C để hai vợ chồng đi làm thỉnh thoảng mới về nhà anh C thăm con. Từ tháng 7/2024 đến nay không thấy anh chị Chiến T4 chung sống cùng nhau và chị T4 không thường xuyên về nhà anh C nữa. Bố mẹ anh C cũng biết hai vợ chồng anh chị Chiến T4 đang mâu thuẫn, gia đình có khuyên giải nhưng không hàn gắn được. Chị T4 có về đón con là cháu Bùi Minh Q đi để chăm sóc từ đó không thấy về, còn để lại cháu Bùi Đức Đ cho anh C chăm sóc. Chị T4 thỉnh thoảng có gọi điện thoại về để hỏi thăm cháu Đ nhưng khi hỏi đang ở đâu, làm gì thì chị T4 cho biết đang làm ăn ở Hà Nội còn địa chỉ cụ thể như thế nào không cho gia đình biết.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Tòa án nhân dân khu vực 17-Phú Thọ, thụ lý và giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm về việc Tranh chấp hôn nhân và gia đình là đúng thẩm quyền, đúng nội dung tranh chấp. Tòa án xác định tư cách đương sự và tiến hành các thủ tục tố tụng theo đúng trình tự của pháp luật quy định. Các thành phần tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã được Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tiến hành theo đúng trình tự, đúng pháp luật tố tụng quy định. Ý thức chấp hành pháp luật của nguyên đơn anh C đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn chị T4 không chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 17-Phú Thọ, đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 5 Điều 177; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS năm 2015. Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Bùi Văn C.
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn C được ly hôn với chị Lê Thị T.
- Về con chung: Giao cháu Bùi Đức Đ, sinh ngày 16/3/2015 cho anh C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Bùi Minh Q, sinh ngày 05/12/2020 cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh C, chị T có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh C chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, nên không xem xét giải quyết. Chị T không có lời khai nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: anh C khai không có, không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T cố tình không đến nên đề nghị Tòa án không giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ chung: Anh C khai không có, không yêu cầu giải quyết. Trong quá trình giải quyết vụ án chị T cố tình không đến nên đề nghị Tòa án không giải quyết.
- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị HĐXX tuyên theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; HĐXX nhận định:
[1]. Về thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án: Tranh chấp trong vụ án là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại thôn Đ, xã A, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân khu vực 17 - Phú Thọ thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS năm 2015; khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
[2]. Về việc xét xử vắng mặt đương sự: Nguyên đơn là anh C có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Lê Thị T đã được triệu tập hợp lệ để ghi lời khai, trình bày ý kiến, tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có mặt theo giấy triệu tập. Tòa án đã xác minh tại gia đình và nơi cư trú của chị Lê Thị T, tiến hành tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng chị Lê Thị T vắng mặt không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 BLTTDS là phù hợp.
[3]. Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Anh Bùi Văn C và chị Lê Thị T kết hôn năm 2014, có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã A, huyện L, tỉnh Hòa Bình (nay là UBND xã A, tỉnh Phú Thọ). Quan hệ hôn nhân giữa anh C và chị T là tự nguyện, hợp pháp. Trong thời gian chung sống, thời gian đầu anh chị chung sống hạnh phúc, nhưng sau đó mâu thuẫn bắt đầu nảy sinh và đỉnh điểm của mâu thuẫn là từ tháng 6 năm 2024 anh chị đã sống ly thân và không còn chung sống cùng nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống trong xây dựng kinh tế gia đình. Từ khi sống ly thân giữa anh C và chị T không còn quan tâm, chăm sóc nhau nữa. Xét thấy cuộc sống chung giữa anh C và chị T không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, anh C có nguyện vọng xin được ly hôn và chị T đồng ý ly hôn. Vì vậy, HĐXX căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Bùi Văn C.
* Về con chung: Anh C và chị T có 02 con chung là Bùi Đức Đ, sinh ngày 16/3/2015 và Bùi Minh Q, sinh ngày 05/12/2020. Tại bản tự khai của anh C, cháu Đ đều thống nhất nội dung: Anh C có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Đức Đ; cháu Đ có nguyện vọng ở cùng bố là anh C. Xét thấy nguyện vọng của anh C, cháu Đ phù hợp quy định của pháp luật nên HĐXX giao con là cháu Bùi Đức Đ cho anh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Căn cứ vào lời khai của anh C và người làm chứng hiện nay chị Lê Thị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Bùi Minh Q. Anh C đồng ý giao con là Bùi Minh Q cho chị T nuôi dưỡng. Xét thấy mặc dù chị T vắng mặt không tham gia tố tụng nhưng hiện nay chị T đang trực tiếp nuôi dưỡng cháu Q, anh C đồng ý giao con là cháu Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng nên HĐXX căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao con là cháu Bùi Minh Q cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Anh C, chị T có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: anh C chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, chị T không có lời khai nên HĐXX không xem xét giải quyết.
* Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
* Về tài sản chung và công nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4]. Về án phí: Anh Bùi Văn C phải chịu toàn bộ tiền án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 5 Điều 177; Điều 179; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 2 Điều 229; Điều 238; Điều 271; Điều 273 BLTTDS năm 2015. Khoản 2 Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hòa giải, đối thoại tại Tòa án.
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, xử cho anh Bùi Văn C được ly hôn với chị Lê Thị T.
2. Về con chung:
Giao con chung là Bùi Đức Đ cho anh C được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Giao con chung là Bùi Minh Q cho chị T được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Anh C, chị T có quyền thăm nom con chung theo quy định của pháp luật.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh C, chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
3. Về án phí:
Anh Bùi Văn C phải chịu toàn bộ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0000043, ngày 08 tháng 07 năm 2025, của thi hành án dân sự tỉnh Phú Thọ. Anh Bùi Văn C đã nộp đủ tiền án phí.
Chị Lê Thị T không phải chịu tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Anh Bùi Văn C, chị Lê Thị T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Vũ Hải Dương |
Bản án số 09/2025/HNGĐ - ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 17 - PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: anh Ch ly hôn chị T
