|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc |
|
Số: 09/2025/HNGĐ - ST Ngày 28 tháng 3 năm 2025 “V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Bích Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Xuân Thịnh và bà Phan Thị Nhung.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Ngọc Hồng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 237/2024/TLST - HNGĐ ngày 04 tháng 12 năm 2024, về việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 25 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị Thu H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Tổ dân phố D Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
Bị đơn: Anh Hà Tuấn L, sinh năm 1982; nơi cư trú: Tổ dân phố D Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 11 năm 2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Hoàng Thị Thu H trình bày:
Chị và anh Hà Tuấn L tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 03/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ) nay là phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau ngày cưới, chị về làm dâu nhà anh L ngay. Ban đầu, tình cảm vợ chồng hạnh phúc. Đến giữa năm 2017, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do, trong cuộc sống hàng ngày, giữa chị và anh L không có tiếng nói chung, sống không hạnh phúc, anh L thường xuyên uống rượu say sỉn không quan tâm gì đến gia đình. Mỗi lần, anh L uống rượu say, anh L đều đập phá đồ đạc, chửi bới vợ con, nhiều lần chị khuyên bảo nhưng không có kết quả. Cuối năm 2017, anh L uống rượu say về nhà chửi bới, đập phá đồ đạc rồi đánh, đuổi chị ra khỏi nhà nên chị đã phải bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống, sau đó phải đi làm ăn xa để tránh va chạm với anh L. Từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân với nhau. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân, cả chị và anh L đều không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau. Xét thấy, tình cảm vợ chồng không còn và không thể hàn gắn lại được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hà Tuấn L.
Bị đơn là anh Hà Tuấn L đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên Toà án không lấy được lời khai của anh L.
Về con chung: Chị H xác định, vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Quỳnh M, sinh ngày 04/12/2011 và cháu Hà Khánh N, sinh ngày 06/6/2016. Hiện tại, cả hai cháu đang ở cùng với anh L. Ly hôn, nguyện vọng của chị H xin được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị. Nguyện vọng của cháu Hà Quỳnh M và cháu Hà Khánh N đều xin được ở với mẹ.
Do không lấy được lời khai của anh L nên không nắm bắt được nguyện vọng nuôi con của anh L ra sao.
Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Toà án đã niêm yết, tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác cho anh L đầy đủ, thậm trí Tòa án đã về tận gia đình nhà anh L để làm việc nhưng không gặp được anh L, Tòa án cũng không gặp được người thân của anh L để lấy thông tin về anh L.
Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện: Anh Hà Tuấn L hiện tại đang ở nhà riêng nhưng cùng chung thửa đất với bà Nguyễn Thị S (bà S là mẹ đẻ của anh L), bản thân anh L ban ngày thì thường xuyên vắng mặt không ở nhà, buổi tối anh L mới về nhà và ở cùng với các con. Bà S là người trực tiếp đưa đón các con của anh L, chị H đi học hàng ngày.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
- - Về thủ tục tố tụng:
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự.
- Đối với các đương sự, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử, còn bị đơn thì đã vi phạm các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, không có mặt và không tham gia đầy đủ các buổi làm việc trong quá trình gia tố tụng tại Toà án. Tuy nhiên, Toà án đã niêm yết, tống đạt đầy đủ và hợp lệ các văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định của pháp luật nên Viện kiểm sát không có kiến nghị, khắc phục gì.
- - Về đường lối giải quyết vụ án:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các điều 51; 56; 81; 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:
- - Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Hoàng Thị Thu H và cho chị H được ly hôn với anh Hà Tuấn L.
- - Về con chung: Giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Khánh N, sinh ngày 06/6/2016; giao cho anh L được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hà Quỳnh M, sinh ngày 04/12/2011. Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau và có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở. Sau này, nếu anh L muốn chuyển dịch quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác.
- - Về tài sản chung, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị H không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.
- - Về án phí: Chị H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Chị Hoàng Thị Thu H là nguyên đơn, khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn đối với bị đơn là anh Hà Tuấn L. Hiện tại, anh L đang cư trú tại phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án dân sự về ly hôn, tranh chấp nuôi con, theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc cho nên Tòa án nhân dân thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc thụ lý và giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng trình tự tố tụng dân sự.
- Chị Hoàng Thị Thu H là nguyên đơn có đơn xin giải quyết vắng mặt, anh Hà Tuấn L là bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến phiên toà lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị H và anh L theo thủ tục chung.
[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy rằng:
Chị H xác định, tình cảm vợ chồng giữa chị và anh L không còn và không thể hàn gắn lại được với nhau nên chị H đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L. Căn cứ vào lời trình bày của chị H trong quá trình giải quyết vụ án và trên cơ sở kết quả xác minh thu thập chứng cứ của Toà án tại chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Chị H và anh L kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, không bị ai ép buộc vào ngày 03/12/2010 tại Ủy ban nhân dân xã T (cũ) nay là phường T, thành phố P, tỉnh Vĩnh Phúc cho nên cần xác định, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp và được pháp luật công nhận.
Quá trình chung sống, chị H xác định vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chủ yếu là do, trong cuộc sống hàng ngày, chị H và anh L luôn bất đồng quan điểm, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, không có tiếng nói chung dẫn đến vợ chồng thiếu sự quan tâm chia sẻ lẫn nhau. Chị H xin ly hôn, anh L có biết nhưng anh L bỏ mặc không quan tâm và tìm biện pháp để hàn gắn lại tình cảm vợ chồng; khi tình cảm vợ chồng dạn nứt thì cả hai người đều chọn cách buông xuôi và sống ly thân với nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị H và anh L không ai còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, cả hai người đều chủ động cắt đứt mọi liên lạc với nhau. Điều này chứng tỏ, tình cảm vợ chồng giữa chị H và anh L đã dạn nứt đến mức độ trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét thấy, yêu cầu xin ly hôn của chị H là có cơ sở nên căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H và cho chị H được ly hôn với anh L.
Về con chung: Chị H xác nhận, vợ chồng có 02 con chung là cháu Hà Quỳnh M, sinh ngày 04/12/2011 và cháu Hà Khánh N, sinh ngày 06/6/2016. Hiện tại cả hai cháu đều đang ở cùng với anh L. Ly hôn, chị H có nguyện vọng xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tất cả hai con chung và không yêu cầu anh L phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị H. Nguyện vọng của cháu M và cháu N đều xin được ở với mẹ. Do không lấy được lời khai của anh L nên Hội đồng xét xử không nắm bắt được nguyện vọng nuôi con của anh L như thế nào.
Xét thấy: Việc nuôi dạy và chăm sóc con vừa là quyền lợi và cũng là nghĩa vụ của cả cha và mẹ. Nguyện vọng của chị H xin được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai con chung và nguyện vọng của các con đều xin được ở với mẹ là nguyện vọng chính đáng. Kết quả xác minh, thu thập chứng cứ thể hiện, chị H đang đi làm ăn xa, thường xuyên vắng nhà nhưng ở cùng với bố mẹ đẻ. Anh L1 hiện đang là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu M và cháu N, mặc dù không nắm bắt được nguyện vọng của anh L1 về việc nuôi con nhưng thấy rằng cuộc sống của các cháu hiện tại đều rất ổn định, chị H tuy đi làm ăn xa nhưng lại ở cùng với bố mẹ đẻ nên chỉ có thể đủ điều kiện nuôi được 01 cháu, quan trọng hơn là tránh làm sáo trộn tâm lý của các con và phù hợp với Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình. Do vậy, Hội đồng xét xử cần giao cho chị H được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Hà Khánh N, sinh ngày 06/6/2016 và giao cho anh L1 được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Hà Quỳnh M, sinh ngày 04/12/2011. Sau này, nếu anh L1 có nguyện vọng xin dịch chuyển quyền nuôi con thì sẽ giải quyết bằng vụ án dân sự khác. Không ai được quyền cản trở việc thăm nom, chăm sóc con chung của chị H và anh L1.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
Về tài sản chung, tài sản riêng, đất ở, đất canh tác; công nợ và công sức: Chị H không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[3]. Về án phí:
Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí.
Chị Hoàng Thị Thu H phải chịu toàn bộ án phí ly hôn gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[4]. Quan điểm đề nghị của Kiểm sát viên đối với vụ án trên là phù hợp nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên./.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các điều 51; 56; 57; 81; 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Hoàng Thị Thu H được ly hôn với anh Hà Tuấn L.
- Về con chung: Giao cho chị Hoàng Thị Thu H được quyền trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Hà Khánh N, sinh ngày 06/6/2016 (giới tính: nữ); giao cho anh Hà Tuấn L được quyền tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục cháu Hà Quỳnh M, sinh ngày 04/12/2011 (giới tính: nữ). Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho ai và có quyền thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được cản trở.
- Về án phí:
- Về quyền kháng cáo:
Chị Hoàng Thị Thu H phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0004206 ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Xác nhận, chị Hoàng Thị Thu H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Thị Bích Hạnh |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Bích Hạnh |
Bản án số 09/2025/HNGĐ - ST ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚC YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và chia con chung