|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2025 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | ông Phạm Vũ Ngọc Châu. |
| Các hội thẩm nhân dân: | ông Thái Tăng Hữu; |
| bà Hồ Thị Hải Thanh. |
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Quốc Tùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên tòa: bà Võ Thị Hương Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 04/2024/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 02 năm 2025, về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2025 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử vụ án số 01/TB-TA ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1963; địa chỉ: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- Bị đơn: ông Trần Duy T, sinh năm 1957; địa chỉ: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 01 năm 2025 và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị Đ trình bày: bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Duy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn vào năm 1986, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống với nhau vợ chồng phát sinh mâu thuẩn đã lâu, hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân hơn 06 năm nay. Nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp nhau, không tôn trọng lẫn nhau, ông T thường uống rượu về gây gổ; vì các con nên hai vợ chồng cố gắng nhưng không thể hàn gắn được, mặc dù sống chung nhà nhưng không ai quan tâm đến ai. Nay thấy cuộc sống chung của vợ chồng không có hạnh phúc nên bà Nguyễn Thị Đ đề nghị Tòa án giải quyết:
Về tình cảm: bà Nguyễn Thị Đ xin được ly hôn ông Trần Duy T.
Về con chung: có 3 con chung là Trần Duy T1, sinh ngày 01/02/1987, Trần Thị Thùy N, sinh ngày 22/5/1990 và Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 01/12/1997. Các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 04/03/2025 ông Trần Duy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: ông Trần Duy T và bà Nguyễn Thị Đ kết hôn trên tinh thần tự nguyện, đăng ký kết hôn vào năm 1986, tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về sinh sống tại thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Thời gian đầu sống hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh nhiều mâu thuẩn, hai vợ chồng thường gây gổ, cải vã và xúc phạm lẫn nhau. Mặc dù, sống chung nhà nhưng đã ly thân 06 năm, không quan tâm đến nhau. Tình cảm vợ chồng không còn nhưng vì con ông T không muốn ly hôn mà chỉ sống ly thân như hiện tại.
Về con chung: có 3 con chung là Trần Duy T1, sinh ngày 01/02/1987, Trần Thị Thùy N, sinh ngày 22/5/1990 và Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 01/12/1997. Các con đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ trình bày ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các bước đảm bảo theo quy định của pháp luật.
Người tham gia tố tụng: nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, 71 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 xét xử vắng mặt bị đơn.
Về nội dung vụ án: quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Duy T là hợp pháp; mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của bà Đ, xử cho bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn ông Trần Duy T.
Về con chung: anh Trần Duy T1, sinh ngày 01/02/1987, chị Trần Thị Thùy N, sinh ngày 22/5/1990 và chị Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 01/12/1997 đã thành niên và có khả năng lao động nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với ông Trần Duy T; trú tại: thôn T, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị nên Toà án xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cam Lộ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: tại phiên tòa hôm nay ông Trần Duy T vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Duy T là hợp pháp, kết hôn trên tinh thần tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã V, huyện V, tỉnh Quảng Trị vào 1986. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường phát sinh mâu thuẫn; nguyên nhân chủ yếu do tính tình không hợp nhau, hay gây gổ, cãi vã, bất đồng quan điểm sống, không tôn trọng lẫn nhau. Mặc dù, sống chung nhà nhưng đã ly thân 06 năm nay, không quan tâm đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án ông T và bà Đ đều thừa nhận mâu thuẩn và không còn tình cảm vợ chồng; bà Nguyễn Thị Đ xin ly hôn nhưng ông Trần Duy T không muốn ly hôn mà chỉ sống ly thân như hiện tại vì các con đã khôn lớn.
Biên bản xác minh ngày 26/4/2025, tại Trưởng thôn T, xã C cho biết: vợ chồng ông Trần Duy T và bà Nguyễn Thị Đ xãy ra mâu thuẩn đã lâu, vợ chồng thường xãy ra cải vã, gây gổ, chính quyền thôn đã nhiều lần hòa giải nhưng không biết rõ nguyên nhân, nay bà Đ xin ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
HĐXX thấy rằng: tình cảm vợ chồng của bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Duy T đã mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ vào khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình xử cho bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn ông Trần Duy T.
[2.2] Về con chung: quá trình chung sống bà Nguyễn Thị Đ và ông Trần Duy T có 3 con chung là anh Trần Duy T1, sinh ngày 01/02/1987, chị Trần Thị Thùy N, sinh ngày 22/5/1990 và chị Trần Thị Mỹ H, sinh ngày 01/12/1997. Các con của bà Đ và ông T đã thành niên và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
[3] Về án phí: bà Nguyễn Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 và Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về lệ phí, án phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Nguyễn Thị Đ được ly hôn ông Trần Duy T.
- Về án phí: bà Nguyễn Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số BLTU/2023/0000203 ngày 06/02/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị (bà Đ đã nộp đủ án phí).
- Quyền kháng cáo: nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Châu |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 22/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn Nguyễn Thị Đ- Trần Duy T
