Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SƠN LA

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17 tháng 3 năm 2025

V/v: Ly hôn, con chung, nợ chung khi ly hôn"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lò Thị Quỳnh .
  2. Bà Đoàn Thị Thúy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Cầm Việt Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 40/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2024 về việc Xin ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXX-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 giữa các đương sư:

Nguyên đơn: Anh Hoàng Anh T, sinh năm 1971. Địa chỉ: Số H, tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.

Bị đơn: Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số H, tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H (H). Địa chỉ trụ sở chính: B N, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T2 - chức vụ Tổng giám đốc. Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Ma Quang S - Chức vụ Giám đốc H - chi nhánh S1. Địa chỉ: Số D, đường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (Quyết định ủy quyền số 3385/2024/QĐ-TGĐ ngày 22/8/2024). Vắng mặt.

Đại diện theo ủy quyền lại (Giấy ủy quyền số 24/2024/GUQ-CNSL ngày 24/12/2024):

  1. Bà Bùi Thị Huyền T3 - Chuyên viên Quan hệ khách hàng cá nhân. Địa chỉ: Số D, đường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
  2. Ông Nguyễn Tuấn T4 - Chuyên viên Quan hệ khách hàng cá nhân. Địa chỉ: Số D, đường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện đề ngày 04 tháng 7 năm 2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hoàng Anh T trình bày:

1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 đăng ký kết hôn ngày 27/4/2004 tại UBND phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Quá trình chung sống đến năm 2019 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị T1 thiếu trách nhiệm trong việc nuôi dạy con, không tu trí làm ăn, chăm sóc gia đình, để các con phải bỏ học nhiều ngày trong thời gian anh T đi công tác. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn anh T đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với chị Nguyễn Thị T1.

2. Về con chung: Có 02 con chung chưa thành niên là cháu Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 10/7/2008 và Hoàng Nhật Mai A1, sinh ngày 19/10/2019. Anh Hoàng Anh T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Quỳnh A và chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Nhật Mai A1.

3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung tạo dựng trong thời kỳ hôn nhân gồm: 01 ngôi nhà 03 tầng địa chỉ tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La hiện đang thế chấp tại ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford loại xe 5 chỗ, biển kiểm soát 30E 131.70.

Anh Hoàng Anh T không yêu cầu chia tài sản trên vì nhà và đất đang thế chấp tại ngân hàng, còn chiếc xe sau khi ly hôn sẽ bán, chia 1/2 giá trị xe cho chị T1, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

5. Về nợ chung: Theo hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD, ngày 16/8/2021 anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 có vay của ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H số tiền 300.000.000 đồng và 01 thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng.

Tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 14, Tờ bản đồ số SÐQH, diện tích 44.Om2, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AB 119656, sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 409/686QĐ-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sơn La cấp ngày 29/07/2005", theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 17010/21MB/HĐBĐ ngày 16/08/2021.

Sau khi nhận tiền giải ngân khoản vay từ Ngân hàng, anh T và chị T1 đã dùng 83.000.000 đồng dùng để trả nợ anh T vay ngân hàng TMCP L trước đó (vay để sửa nhà). Số tiền còn lại 227.000.000 đồng chị T1 dùng để kinh doanh buôn bán lời lãi thế nào anh T không biết và cũng không biết số tiền hiện tại còn nợ Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H là bao nhiêu tiền, vì hàng tháng chị T1 đã trả tiền gốc và lãi cho Ngân hàng.

Anh T cho rằng chị T1 đã quản lý chi tiêu số tiền trên thì chị T1 phải có trách nhiệm trả nợ cho Ngân hàng, anh T không đồng ý trả nợ cùng chị T1.

Tại các bản khai, các tài liệu có trong hồ sơ và tại phiên tòa bị đơn Nguyễn Thị T1 trình bày:

1. Về tình cảm: Chị T1 nhất trí lời khai của anh T về thời gian và địa điểm kết hôn. Kết hôn do hai bên tự nguyện không bị ép buộc. Quá trình chung sống hạnh phúc đến năm 2019 khi chị Thủy sinh cháu thứ 3 và một phần do điều kiện kinh tế khó khăn nên anh Hoàng Anh T đã phát sinh tình cảm với người phụ nữ khác, thường xuyên đi chơi về muộn, không chăm lo cho gia đình. Tình cảm vợ chồng rạn nứt. Mặc dù được hai bên gia đình phân tích giải thích nhưng không thành, vợ chồng đã ly thân nhiều năm, chị T1 nhất trí ly hôn với anh T.

2. Về con chung: Có 02 con chung là Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 10/7/2008 và Hoàng Nhật Mai A1, sinh ngày 19/10/2019.

Chị Nguyễn Thị T1 có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Nhật Mai A1. Đồng ý để anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Quỳnh A.

3. Về cấp dưỡng: Không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

4. Về tài sản chung: 01 ngôi nhà 03 tầng địa chỉ tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La hiện đang thế chấp tại ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford loại xe 5 chỗ, biển kiểm soát 30E 131.70. Chị T1 đề nghị Tòa án chia 1/2 giá trị chiếc xe.

5. Về nợ chung: Chị Nguyễn Thị T1 nhất trí với lời khai của anh T về số tiền trong thời kỳ hôn nhân anh chị vay của ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H. Tuy nhiên chị T1 không nhất trí với việc anh T cho rằng chị T1 phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ cho Ngân hàng. Bởi vì:

Theo hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD, ngày 16/8/2021 chị T1 và anh T có vay của ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H số tiền 300.000.000 đồng và 01 thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng. Trong đó: 83.000.000 đồng dùng để trả nợ anh T vay ngân hàng TMCP L, còn lại 227.000.000 đồng chị T1 dùng để kinh doanh buôn bán. Thời gian đầu cũng có lãi, số tiền lãi mang về chi tiêu gia đình và trả gốc, lãi hàng tháng cho ngân hàng. Hiện tại tính đến ngày 17/3/2025 đối với hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD, ngày 16/8/2021 còn nợ ngân hàng TMCP phát triển thành phố H (H) 121.156.360 đồng (tiền gốc 114.999.997 đồng, lãi trong hạn 5.305.767 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 850.596 đồng) và 01 thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng. Tổng cộng còn nợ ngân hàng là 151.298.755 đồng.

Chị T1 đề nghị Tòa án giải quyết buộc anh Hoàng Anh T phải chịu trách nhiệm trả 1/2 số nợ trên cho Ngân hàng.

Bản tự khai và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án Đại diện theo ủy quyền lại của ngân hàng TMCP phát triển thành phố H - chi nhánh S1 trình bày:

Ngày 16/08/2021, Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh S1 đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD và phát hành 01 thẻ tín dụng cho chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T cụ thể như sau:

Đối với hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD ngày 16/08/2021: Số tiền giải ngân 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); Thời hạn vay 60 tháng, từ ngày 18/08/2021 đến ngày 17/08/2026; Mục đích sử dụng vốn: Vay mua sắm trang thiết bị gia đình; Lãi suất cho vay trong hạn: 06 tháng đầu: 7.0%/năm; 06 tháng tiếp theo: 9.5%/năm; Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất vay quá hạn: 150% lãi suất trong hạn.

Đối với thẻ tín dụng: Hạn mức thẻ tín dụng 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Tài sản bảo đảm cho khoản vay nêu trên là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 14, Tờ bản đồ số SĐQH, diện tích 44.Om2, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AB 119656, sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 409/686QĐ-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sơn La cấp ngày 29/07/2005". Thực hiện theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 17010/21MB/HĐBĐ ngày 16/08/2021.

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La giải quyết vấn đề sau:

Buộc chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T thanh toán toàn bộ khoản nợ cho Ngân hàng TMCP phát triển thành phố H với tổng số nợ ngân hàng tính đến ngày 17/3/2025 là 151.298.755 đồng (nợ gốc 114.999.997 đồng, lãi trong hạn 5.305.767 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 850.596 đồng; thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng).

Buộc chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T phải thanh toán phần nợ lãi phát sinh theo quy định trong Hợp đồng tín dụng và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ và thẻ tín dụng đã ký kết với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên và lãi phát sinh thì Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản bảo đảm của khoản vay nói trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng, tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 14, Tờ bản đồ số SĐQH, diện tích 44.0 m2, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Son La, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AB 119656, sổ vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 409/686QĐ-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sơn La cấp ngày 29/07/2005.

Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T đối với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H, sau khi trừ đi các chi phí phát sinh trong quá trình khởi kiện và xử lý tài sản. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì chị Nguyễn Thị T1 và anh Hoàng Anh T vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Tại sơ thẩm phiên tòa:

Bị đơn giữ nguyên ý kiến thỏa thuận với nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án về thuận tình ly hôn, về con chung, nhưng không thống nhất được nghĩa vụ trả nợ và chia tài sản chung.

Đại diện ngân Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H: Giữ nguyên yêu cầu buộc anh T, chị T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, trong trường hợp đương sự không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử ký tài sản như các điều khoản mà các bên đã ký trong hợp đồng thế chấp.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, đương sự; việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đường lối giải quyết vụ án như sau:

Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán đã thực hiện đúng quy định tại Điều 28, Điều 35, Điều 39 và Điều 48 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử đã tuân thủ theo các quy định của Bộ luật dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Thư ký đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình đúng và đầy đủ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật.

Về đường lối giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 55, Điều 60, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 5 Điều 68, điểm đ khoản 1 Điều 217, Điều 147, Điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Các Điều 117, 119, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Các Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đề nghị xử:

Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, công nhận sự thỏa thuận của anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 về tình cảm, về con chung.

Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H buộc anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng tính đến ngày 17/3/2025 là 151.298.755 đồng (nợ gốc 114.999.997 đồng, lãi trong hạn 5.305.767 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 850.596 đồng; thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng). Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản đảm bảo trong trường hợp khách hàng không thực hiện nghĩa vụ.

Không giải quyết yêu cầu chia tài sản chung là 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford loại xe 5 chỗ, biển kiểm soát 30E 131.70 vì chị Nguyễn Thị T1 là người yêu cầu nhưng không nộp tiền tạm ứng chi phí định giá tài sản và chi phí tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm và chi phí tố tụng khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

[1] Về thủ tục tố tụng, quan hệ pháp luật: Xét đơn khởi kiện của nguyên đơn anh Hoàng Anh T, khởi kiện yêu cầu xin ly hôn đối với chị Nguyễn Thị T1, chị T1 đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân thành phố Sơn La thụ lý vụ án với quan hệ pháp luật tranh chấp xin ly hôn là đúng quan hệ pháp luật, đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nguyên đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của nguyên đơn không ảnh hưởng đến nội dung vụ án, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án, theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 288 Bộ luật Tố tụng Dân sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 tự nguyện kết hôn và đã được UBND phường C, thành phố S cấp giấy chứng nhận kết hôn. Khi kết hôn hai bên đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật, do đó anh T và chị T1 là vợ chồng hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.

[3] Anh Hoàng Anh T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với chị Nguyễn Thị T1 với lý do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên xảy ra việc tranh cãi, phát sinh nhiều mâu thuẫn không thể giải quyết được, vợ chồng đã sống ly thân và xác định tình cảm vợ chồng không còn, không hạnh phúc. Chị Nguyễn Thị T1 cũng thừa nhận vợ chồng có mâu thuẫn đến mức trầm trọng nên cũng đồng ý ly hôn. Hội đồng xét xử nhận thấy: Mục đích của hôn nhân là việc vợ chồng yêu thương nhau, cùng chăm lo cho gia đình và có cuộc sống hạnh phúc nhưng anh T và chị T1 đã không còn sống chung với nhau, mâu thuẫn vợ chồng xảy ra trong thời gian dài và các bên cùng đồng ý ly hôn. Căn cứ vào Điều 51 và Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn của anh T và chị T1.

[4] Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 10/7/2008 và Hoàng Nhật Mai A1, sinh ngày 19/10/2019. Anh Hoàng Anh T yêu cầu được quyền nuôi dưỡng cháu Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 10/7/2008. Chị Nguyễn Thị T1 yêu cầu được quyền nuôi dưỡng Hoàng Nhật Mai A1, sinh ngày 19/10/2019. Hội đồng xét xử nhận thấy: Các bên đã thống nhất về việc nuôi con chung sau khi ly hôn, việc thỏa thuận này cũng phù hợp với nguyện vọng của con chung khi bố mẹ ly hôn nên căn cứ vào Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình nên cần ghi nhận sự thỏa thuận về quyền nuôi con của các đương sự.

[5] Về yêu cầu tài sản chung:

[5.1] Quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Anh T5 khẳng định trong thời kỳ hôn nhân anh T5 và chị T1 tạo dựng được khối tài sản chung gồm 01 ngôi nhà 03 tầng địa chỉ tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La hiện đang thế chấp tại ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford loại xe 5 chỗ, biển kiểm soát 30E 131.70. Nguyên đơn không yêu cầu chia tài sản chung vì tài sản là ngôi nhà đang thế chấp tại Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H và chiếc ô tô cũ giá trị không cao sẽ tự bán để chia cho chị T1. Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.2] Đối với yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng của chị Nguyễn Thị T1 là 01 ngôi nhà 03 tầng địa chỉ tổ C, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La hiện đang thế chấp tại ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; 01 xe ô tô nhãn hiệu Ford loại xe 5 chỗ, biển kiểm soát 30E 131.70. Ngày 25/12/2024 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La ra thông báo số 40/TB-TA thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng, cùng ngày 25/12/2025 Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo trên cho chị T1. Tuy nhiên sau khi nhận thông báo nộp tiền tạm ứng án phí chia tài sản chung, hết thời hạn luật định chị T1 không thực hiện nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng chị phí tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Do chị T1 không nộp tiền tạm ứng chi phí Tố tụng nên Hội đồng không xem xét giải quyết yêu của bị đơn trong vụ án này.

[6] Về nợ chung: Các đương sự đều thống nhất, ngày 16/08/2021, anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 có ký kết Hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD vay Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh S1 số tiền 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng); Thời hạn vay 60 tháng, từ ngày 18/08/2021 đến ngày 17/08/2026; Mục đích sử dụng vốn: Vay mua sắm trang thiết bị gia đình; Lãi suất cho vay trong hạn: 06 tháng đầu: 7.0%/năm; 06 tháng tiếp theo: 9.5%/năm; Lãi suất cho vay được điều chỉnh 03 tháng/lần; Lãi suất vay quá hạn: 150% lãi suất trong hạn và 01 thẻ tín dụng có hạn mức thẻ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Tính đến ngày 17/3/2025 anh T và chị T1 còn nợ Ngân hàng 151.298.755 đồng (nợ gốc 114.999.997 đồng, lãi trong hạn 5.305.767 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 850.596 đồng; thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng).

Trong quá trình giải quyết vụ án anh Hoàng Anh T yêu cầu Toà án buộc chị T1 có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ trên cho ngân hàng, vì chị T1 là người đã sử dụng toàn bộ số tiền trên.

Ngân hàng không đồng ý với ý kiến của anh T và cho rằng đây là nợ chung của vợ chồng yêu cầu anh T và chị T1 phải có nghĩa vụ trả nợ theo thoả thuận đã ký trong hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp và yêu cầu được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý tài sản để thu hồi nợ.

Hội đồng xét xử xét thấy: Giao dịch phát sinh do vợ chồng cùng thoả thuận xác lập nhằm đắp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình (Mục đích sử dụng vốn: Vay mua sắm trang thiết bị gia đình). Về nội dung và hình thức của Hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp phù hợp với quy định của pháp luật, các bên tự nguyện giao kết thực hiện hợp đồng và cam kết chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung hợp đồng. Tại thời điểm ký hợp đồng, các bên đều có đầy đủ năng lực về hành vi dân sự theo quy định của pháp luật, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm và không trái đạo đức xã hội. Do đó, xác định đây là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành đối với các bên và phù hợp với quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình. Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 là chủ sở hữu hợp pháp và đang trực tiếp quản lý sử dụng đối với bất động sản. Trong trường hợp chị T1, anh T không thực hiện nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng có yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, anh T, chị T1 phải có trách nhiệm bàn giao lại tài sản bảo đảm cho Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền để đảm bảo quy trình phát mại tài sản bảo đảm thu hồi nợ.

Như vậy, yêu cầu của Ngân hàng buộc anh T và chị T1 có trách nhiệm trả nợ và quyền được yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp bất động sản đã ký kết giữa các bên trong trường hợp anh T, chị T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán hoặc thanh toán không đủ nghĩa vụ được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.

[7] Về chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ: Do yêu cầu độc lập của nguyên hàng được chấp nhận, nên anh T, chị T1 phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản tại chỗ là 6.140.000 đồng. Do phía Ngân hàng đã nộp tạm ứng số tiền này, nên cần buộc anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng chi phí nói trên.

[8] Về án phí:

[8.1] Về Án phí hôn nhân gia đình sơ thầm: Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

[8.2] Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:

Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 được phải chịu án phí có giá ngạch 7.565.000 (Bảy triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng có tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng Khoản 3 Điều 26, Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Khoản 5 Điều 68, điểm đ khoản 1 Điều 217, Điều 147, Điều 201 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 55, Điều 60, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 117, 119, 317, 318, 319, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự 2015; Điều 91, khoản 2 Điều 95, khoản 3 Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 7, Điều 8, Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; Các Điều 24, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh Hoàng Anh T và bà Nguyễn Thị T1.

2. Về con chung:

Giao con chung tên Hoàng Quỳnh A, sinh ngày 10/7/2008 cho anh Hoàng Anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Giao con chung tên Hoàng Nhật Mai A1, sinh ngày 19/10/2019 cho Nguyễn Thị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến tuổi thành niên (đủ 18 tuổi) và có khả năng lao động.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con; Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi.

3. Về cấp dưỡng: Các đương sự không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

4. Về yêu cầu chia tài sản chung của bị đơn: Hội đồng xét xử không giải quyết trong vụ án này bởi vì: Ngày 25/12/2024 Tòa án nhân dân thành phố Sơn La ra thông báo số 40/TB-TA thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng. Hết thời hạn luật định chị T1 không thực hiện nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng chị phí tố tụng quy định tại khoản 1 Điều 25 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016; Điều 146 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

5. Về nợ chung: Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh S1. Buộc anh Hoàng Anh T, chị Nguyễn Thị T1 phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền tính đến ngày 17/3/2025 là 151.298.755 đồng (nợ gốc 114.999.997 đồng, lãi trong hạn 5.305.767 đồng, lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 850.596 đồng; thẻ tín dụng là 30.142.395 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo ngày 17/3/2025 cho đến khi thi hành án xong số tiền trên, anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 17010/21MB/HĐTD ngày 16/08/2021 cho đến khi thanh toán nợ xong.

Trường hợp anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H - Chi nhánh S1 có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp gồm: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 14, Tờ bản đồ số SĐQH, địa chỉ: Bản G, phường Q, thành phố S, tỉnh Sơn La, theo “Giấy chứng nhận quyền sử dụng số AB 119656, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 409/686QĐ-UB do UBND thị xã S (nay là thành phố S), tỉnh Sơn La cấp ngày 29/07/2005.

(Theo trích bản đồ trích đo khu đất ngày 19/02/2025. Diện tích thửa đất theo hiện trạng là 46,0 m², tăng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 2,0m²; Có sơ đồ kèm theo).

Trường hợp số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ, anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 vẫn phải tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi hết nợ.

6. Về chi phí tố tụng: Buộc chị anh Nguyễn Anh T5, chị Nguyễn Thị T1 phải chịu 6.140.000 (Sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng) tiền chi phí xem xét, thấm định tại chỗ và thẩm định giá tài sản.

Ngân hàng Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H – Chi nhánh S1 đã nộp tạm ứng số tiền trên nên buộc bà anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 phải trả lại cho Ngân hàng TMCP Đ - Chi nhánh S1 toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tài sản là 6.140.000 (Sáu triệu một trăm bốn mươi nghìn đồng).

7. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:

Anh Hoàng Anh T phải chịu 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0002589 ngày 28 tháng 11 năm 2024 của chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La. Anh T được hoàn trả 225.000 (Hai trăm hai mươi lăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí.

Chị Nguyễn Thị T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 75.000 đồng (Bảy mươi lăm nghìn đồng).

8. Về án phí dân sự có giá ngạch: Anh Hoàng Anh T và chị Nguyễn Thị T1 được phải chịu án phí có giá ngạch 7.565.000 (Bảy triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).

9. Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị T1, người liên quan có yêu cầu độc lập có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án ngày 17/3/2025; anh Hoàng Anh T vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản được niêm yết.

10. Trường hợp bản án, quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La;
  • - Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La;
  • - Chi cục THADS thành phố Sơn La;
  • - UBND phường Quyết Thắng, thành phố Sơn la, tỉnh Sơn La.
  • - Các đương sự.
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN –CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Thị Phượng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 17/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về ly hôn, con chung, nợ chung khi ly hôn

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung, nợ chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp Hôn nhân gia đình giữ anh T và chị Th
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger