Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 – LÀO CAI

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 20-8-2025

V/v "Ly hôn"

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phú Duy

Các Hội thẩm nhân dân:1. Bà Vương Thị Thu Lan

2. Ông Lý Trung Hiếu

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiển - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai.

Ngày 20 tháng 8 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai, mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 102/2025/TLST-HNGĐ-TY ngày 13-5-2025 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 18-7-2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2025/QÐST-HNGĐ ngày 05-8-2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Triệu Thị N, sinh năm 1975 – vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
  2. Bị đơn: Ông Trịnh Văn H, sinh năm 1971 – vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

Đều cư trú tại: Thôn V, xã L, tỉnh Lào Cai (trước khi sáp nhập là huyện T, tỉnh Yên Bái).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 05-5-2025 và bản tự khai, nguyên đơn bà Triệu Thị N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Bà đăng ký kết hôn với ông Trịnh Văn H tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai) vào ngày 21-02-1994 trên cơ sở tự nguyện của đôi bên. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Trịnh Văn H thường xuyên uống rượu say đập phá đồ đạc trong nhà, vợ chồng không còn chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã tạo cho nhau nhiều áp lực. Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là cháu Trịnh Tiến T (sinh ngày 20-01-1995) và cháu Trịnh Thị V (sinh ngày 27-7-1998) đều đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về chia tài sản và nợ chung: Bà xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã thực hiện đầy đủ thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật và giao nhận, tống đạt các văn bản hợp lệ cho ông Trịnh Văn H nhưng ông H vẫn không thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình. Do đó, trong hồ sơ vụ án không có lời khai của ông Trịnh Văn H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng. Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng:
    1. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Triệu Thị N có đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Trịnh Văn H, nơi thường trú: Thôn V, xã L, tỉnh Lào Cai. Căn cứ vào quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân khu vực 3 - Lào Cai.
    2. Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn bà Triệu Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Trịnh Văn H đã được triệu tập lần thứ hai nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
  2. Về quan hệ hôn nhân: Bà Triệu Thị N và ông Trịnh Văn H có đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Yên Bái (nay là xã L, tỉnh Lào Cai) là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông Trịnh Văn H thường xuyên uống rượu say đập phá đồ đạc trong nhà, vợ chồng không còn chung quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã tạo cho nhau nhiều áp lực. Vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2022 đến nay không còn quan tâm đến nhau nữa. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lào Cai đã thông báo nhiều lần nhưng ông Trịnh Văn H không đến Tòa, không có bản khai, như vậy ông Trịnh Văn H đã tự từ bỏ quyền lợi và cơ hội hàn gắn cuộc sống vợ chồng của bản thân. Điều đó cho thấy hôn nhân giữa bà Triệu Thị N và ông Trịnh Văn H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung thực tế không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ cho bà Triệu Thị N được ly hôn ông Trịnh Văn H theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
  3. Về con chung: Bà Triệu Thị N và ông Trịnh Văn H có 02 con chung là cháu Trịnh Tiến T (sinh ngày 20-01-1995) và cháu Trịnh Thị V (sinh ngày 27-7-1998) đều đã trưởng thành, không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  4. Về chia tài sản và nợ chung: Bà Triệu Thị N xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Triệu Thị N phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
  6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 235, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Triệu Thị N được ly hôn ông Trịnh Văn H.
  2. Về án phí: Bà Triệu Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2024/0001782 ngày 06-5-2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái. Bà Triệu Thị N đã nộp đủ.
  3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lào Cai;
  • - VKSND KV3-Lào Cai;
  • - THADS tỉnh Lào Cai;
  • - UBND xã Lương Thịnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, TA, HSVA.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phú Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 20/08/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI về ly hôn

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/08/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – LÀO CAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger