Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAK ĐOA

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 17-6-2025

V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Long.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Ngọc Diệp

Bà Nguyễn Thị Chín

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Thạch - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 06 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 188/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 12 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đào Thị Q; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Có mặt.

Bị đơn: Anh Đặng Văn Q1; địa chỉ: Thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai.

Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Nguyên đơn chị Đào Thị Q trình bày:

    Về hôn nhân: Chị và anh Đặng Văn Q1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai vào ngày 1-7-2015.

    Quá trình chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, từ tháng 4 năm 2020 đến nay chị và anh Q1 không còn chung sống với nhau. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn Q1.

    Về con: Chị và anh Đặng Văn Q1 có một con chung là cháu Đặng Bích T, sinh ngày 5-2-2016. Từ khi không chung sống cùng nhau cho đến nay, cháu T ở với anh Q1. Do vậy chị đề nghị Tòa án giao con Đặng Bích T cho anh Đặng Văn Q1 tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con như hiện nay và chị Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

    Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị Đào Thị Q không yêu cầu Tòa án giải quyết.

  2. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần thông báo, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập anh Đặng Văn Q1 đến Tòa án để cung cấp lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng anh Đặng Văn Q1 đều vắng mặt, cũng không gửi văn bản nêu ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Tòa án.

    Tại phiên tòa:

    - Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện;

    - Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt không có lý do.

    - Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; quyết định chị Đào Thị Q được ly hôn với anh Đặng Văn Q1; giao cháu Đặng Bích T, sinh ngày 5-2-2016 cho anh Q1 tiếp tục chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng như thực tế hiện nay; chị Đào Thị Q không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con; buộc chị Đào Thị Q phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Đặng Văn Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa, nhưng vắng mặt. Do vậy, căn cứ quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với anh Đặng Văn Q1.

[2] Về nội dung:

[2.1] Các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện chị Đào Thị Q và anh Đặng Văn Q1 tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13 tháng 11 năm 2015.

Như vậy, hôn nhân giữa chị Đào Thị Q và anh Đặng Văn Q1 là hợp pháp.

[2.2] Chị Đào Thị Q khởi kiện và cho rằng, quá trình chung sống, vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, từ tháng 4 năm 2020 đến nay hai vợ chồng không còn chung sống với nhau; chị Q nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn Q1;

Tại “Biên bản xác minh” do Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa lập ngày 19 tháng 12 năm 2024, Thôn T, xã I, huyện Đ xác nhận vợ chồng chị Q và anh Q1 hiện tại không chung sống với nhau.

Quá trình giải quyết vụ án, anh Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không giao nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn thể hiện ý thức không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân, không có nhu cầu, nguyện vọng, thiện chí hòa giải hàn gắn, đoàn tụ; cũng không chứng minh được sự việc vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay là do vợ chồng có thỏa thuận hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác.

Các tình tiết trên cho thấy, chị Q và anh Q1 đã không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh Q1 đã kéo dài và đã đến mức sâu sắc; người nào chỉ biết bổn phận người đó; họ không còn tình thương và niềm tin đối với nhau. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân của chị Q và anh Q1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Q yêu cầu ly hôn với anh Q1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.

[2.3] Về con:

Chị Đào Thị Q và anh Đặng Văn Q1 có một con là cháu Đặng Bích T, sinh ngày 5-2-2016. Ly hôn, chị Q đề nghị Tòa án giao con chung cho anh Q1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, vì từ khi sống ly thân (tháng 4/2020) đến nay cháu T sống cùng với anh Q1.

Xét, cháu T sống cùng với anh Q1 tại thôn A, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai ổn định từ trước cho đến nay. Anh Q1 không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu nuôi con chung của chị Q. Tòa án đã tiến hành lấy lời khai của cháu T nhưng anh Q1 không hợp tác và không đồng ý cho cháu T cung cấp lời khai cho Tòa án về nguyện vọng của cháu T sống với ai khi bố mẹ ly hôn, vì vậy, không có lời khai của cháu T tại hồ sơ vụ án.

Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của chị Q là phù hợp đến sự phát triển ổn định của cháu T, nên giao cháu Đặng Bích T cho anh Q1 tiếp tục trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi con chung thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động tự nuôi sống bản thân mình.

[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung:

Chị Đào Thị Q yêu cầu không phải cấp dưỡng nuôi cháu T.

Anh Q1 không đến Tòa án trình bày ý kiến đối với yêu cầu không phải cấp dưỡng nuôi cháu T của chị Q. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị Q, không buộc chị Q phải cấp dưỡng nuôi cháu T.

Trường hợp, anh Q1 yêu cầu cấp dưỡng nuôi con thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác.

[2.4] Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản:

Đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Từ những nhận định và đánh giá trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Q, quyết định chị Q được ly hôn với anh Q1; giao cháu Đặng Bích T cho anh Q1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; không buộc chị Q phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Áp dụng Điều 51, Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84, Điều 110 và Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đào Thị Q.
    • - Về hôn nhân: Chị Đào Thị Q được ly hôn với anh Đặng Văn Q1.
    • - Về con: Giao cháu Đặng Bích T, sinh ngày 5-2-2016 cho anh Đặng Văn Q1 trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động, bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự và không có tài sản để tự nuôi mình.

    Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

    • - Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đào Thị Q không phải cấp dưỡng nuôi cháu Đặng Bích T, sinh ngày 5-2-2016;
  2. Về án phí:

    Chị Đào Thị Q phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0010739 ngày 13 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Chị Đào Thị Q đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  3. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu xét xử phúc thẩm; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Đak Đoa;
  • - Chi cục THADS huyện Đak Đoa;
  • - Các đương sự;
  • - Ủy ban nhân dân xã Ia Pết, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai (GCNKH cấp số 46 ngày 1-7-2015;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: [2.1] Các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ thể hiện chị Đào Thị Q và anh Đặng Văn Q1 tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận kết hôn ngày 13 tháng 11 năm 2015. Như vậy, hôn nhân giữa chị Đào Thị Q và anh Đặng Văn Q1 là hợp pháp. [2.2] Chị Đào Thị Q khởi kiện và cho rằng, quá trình chung sống, vợ chồng chị phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống không hạnh phúc, bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, từ tháng 4 năm 2020 đến nay hai vợ chồng không còn chung sống với nhau; chị Q nhận thấy cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Đặng Văn Q1; Tại “Biên bản xác minh” do Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa lập ngày 19 tháng 12 năm 2024, Thôn T, xã I, huyện Đ xác nhận vợ chồng chị Q và anh Q1 hiện tại không chung sống với nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh Q1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do, không giao nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình, không cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn thể hiện ý thức không quan tâm đến cuộc sống hôn nhân, không có nhu cầu, nguyện vọng, thiện chí hòa giải hàn gắn, đoàn tụ; cũng không chứng minh được sự việc vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ chung sống với nhau từ năm 2020 đến nay là do vợ chồng có thỏa thuận hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác. Các tình tiết trên cho thấy, chị Q và anh Q1 đã không còn thực hiện nghĩa vụ của vợ chồng với nhau theo quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Q và anh Q1 đã kéo dài và đã đến mức sâu sắc; người nào chỉ biết bổn phận người đó; họ không còn tình thương và niềm tin đối với nhau. Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở để nhận định rằng, tình trạng hôn nhân của chị Q và anh Q1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc chị Q yêu cầu ly hôn với anh Q1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger