|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST Ngày: 17/02/2025. V/v: “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đàm Thị Bích Ngọc
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Ngân
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Mi – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 884/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 06/01/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 03/2025/QĐST-HNGĐ ngày 23/01/2025, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Vương Thị N – sinh năm 1993
Địa chỉ: Tổ A Đ, V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Bị đơn: Ông Phạm Văn T – sinh năm 1983
Địa chỉ: Tổ A Đ, V, N, Khánh Hòa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn bà Vương Thị N trình bày: Bà và ông Phạm Văn T tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn vào năm 2015 tại Ủy ban nhân dân xã xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn dẫn đến không thể hoà hợp, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc cho nhau. Cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên bà N yêu cầu ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà và ông Phạm Văn T có 01 con chung là cháu Phạm Văn Vương K, sinh ngày 18/4/2016, bà N xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng con chung. Bà N1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyệt không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Phạm Văn T đã được Tòa án tổng đạt các văn bản tố tụng hợp lệ nhưng ông không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập nên Tòa án không lấy được lời khai, không hòa giải được vụ án và tại phiên tòa ông T cũng vắng mặt không có lý do.
* Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân thành phố Nha Trang thụ lý giải quyết vụ kiện là đúng thẩm quyền, có căn cứ, đúng pháp luật. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự đúng quy định. Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử thẩm tra, xem xét công khai tại phiên tòa.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, bà Vương Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn T; Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Văn Vương K, sinh ngày 18/4/2016 cho bà N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Bà N1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét; Về tài sản chung và nợ chung: bà N1 không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bà Vương Thị N có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông Phạm Văn T đã được Tòa án tiến hành thủ tục tống đạt các quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà N, ông T theo quy định pháp luật.
[2]. Về nội dung:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị N và ông Phạm Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn, đã được Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 89, ngày 31/12/2015, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét: Cuộc sống hôn nhân giữa bà N và ông T có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương nhau, không quan tâm chăm sóc nhau. Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T đến Tòa để làm việc nhưng ông T không chấp hành và vắng mặt tại phiên tòa, cho thấy ông T đã bỏ mặc, không còn quan tâm đến việc giải quyết quan hệ hôn nhân giữa ông và bà N. Như vậy, có cơ sở để xác định, tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà N là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận để bà N được ly hôn với ông T.
[2.2]. Về con chung: Bà N1 và ông T có 01 con chung là cháu Phạm Văn Vương K, sinh ngày 18/4/2016, hiện nay cháu đang sống với bà N1, bà N1 xin được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu K. Theo lời khai của bà N1 thì từ trước đến nay bà là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung và hiện nay cháu K đang học tập và ở ổn định với bà N1. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy giao con chung là cháu Phạm Văn Vương K, sinh ngày 18/4/2016 cho bà N1 được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con, bà N1 không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Vương Thị N không yêu cầu giải quyết nên không xem xét,.
[2.4]. Về án phí: Bà Vương Thị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003042 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, bà N đã nộp đủ án phí.
[2.5]. Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nha Trang tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 179, Điều 227, Điều 228, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vương Thị N.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Vương Thị N được ly hôn với ông Phạm Văn T.
- Về con chung: Giao con chung là cháu Phạm Văn Vương K, sinh ngày 18/4/2016 cho bà Vương Thị N được trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cho đến khi con chung tròn 18 tuổi. Bà N1 không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con nên không xét.
Ông Phạm Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con, không ai được cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con chung.
- Tài sản chung và nợ chung: Bà N1 không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí: Bà Vương Thị N phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003042 ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Nha Trang, bà N đã nộp đủ án phí.
- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đàm Thị Bích Ngọc |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NHA TRANG TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHẤP NHẬN YÊU CẦU CỦA NGUYÊN ĐƠN
