Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 1 -THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 16/7/2025

Về việc ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 -THÁI NGUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán, Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tứ Xuân

* Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Thanh Vân

2. Ông Trần Xuân Viện

* Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Ngọc Huyền - Cán bộ Toà án Khu vực 1 - Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.

* Đại diện Viện kiểm sát Khu vực 1 - Thái Nguyên: Bà Quản Mỹ Hạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 16/7/2025, tại Hội trường Toà án Khu vực 1 - Thái Nguyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 325/2025/TLST- HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2025 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2025/QĐXX- ST ngày 24/6/2025 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Chị Trần Thị O, sinh năm 1997. Có mặt

HKTT: Xóm U, xã P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường Q, tỉnh Thái Nguyên).

* Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1995. Có đơn xin xét xử vắng mặt

Nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (nay là phường Q, tỉnh Thái Nguyên)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn xin ly hôn, các bản khai và tại phiên tòa chị Trần Thị O trình bày: Chị và anh Dương Văn T kết hôn năm 2016 trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T cũ. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống cùng bố mẹ chồng tại tổ A, phường T, thành phố T (nay là phường Q, tỉnh Thái Nguyên). Thời gian đầu, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc và đã có một con là Dương Gia H, sinh ngày 16/5/2017. Nhưng đến năm 2020, thì bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh T không tu chí làm ăn, vợ chồng không có tiếng nói chung, không có sự quan tâm, chia sẻ với nhau dẫn đến vãi vã và ly thân từ năm 2021 đến nay. Chị O xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh T, mâu thuẫn gia đình đã ở mức trầm trọng nên đề nghị Toà án giải quyết cho được ly hôn.

Về con chung: Chị O khai vợ chồng có 01 con chung là Dương Gia H, sinh ngày 16/5/2017. Khi ly hôn, chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là cháu H cho đến khi đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác, chị không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con.Về điều kiện nuôi con: hiện nay chị đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ tại xóm U, phường Q, tỉnh Thái Nguyên, chị mở quầy kinh doanh bán hoa quả tại nhà, thu nhập 12.000.000 đồng/ tháng, cháu H từ bé đã ở với chị và cũng đang theo học gần nhà. Vì vậy, chị đủ điều kiện chăm sóc cháu H.

Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không đề nghị giải quyết.

Bị đơn anh Dương Văn T tại Bản tự khai ngày 05/6/2025 trình bày: Anh và chị Trần Thị O kết hôn năm 2016 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường T, thành phố T. Anh chị có 01 con chung là Dương Gia H. Thời gian đầu chung sống vợ chồng hạnh phúc, đến năm 2021 thì mâu thuẫn, vợ chồng xảy ra cãi nhau và ly thân từ năm 2021 đến nay. Anh T đồng ý ly hôn với chị O và đồng ý để chị O nuôi cháu H. Tài sản chung, công nợ chung: Không có.

Sau khi thụ lý vụ án, Toà án đã tiến hành triệu tập, hòa giải nhưng bị đơn có đơn xin hòa giải, xét xử vắng mặt. Vì vậy, vụ án phải được đưa ra xét xử ngày hôm nay.

Trong phần tranh tụng, chị O giữ nguyên quan điểm khởi kiện là đề nghị được ly hôn với anh T. Về con chung: Chị có nguyện vọng nuôi dưỡng con chung là Dương Gia H và không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, công nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ vào Điều 21; Điều 262 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.Về tố tụng: Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định về thẩm quyền của mình theo Điều 48 BLTTDS; Tuân thủ quy định về trình tự, tố tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của BLTTDS. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 BLTTDS.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị O, cho chị O được ly hôn với anh Dương Văn T. Về con chung: Giao con chung Dương Gia H, sinh ngày 16/5/2017 cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, anh T được quyền đi lại thăm nom con chung. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng do các bên không yêu cầu. Tài sản chung, công nợ chung không có. Buộc chị O nộp án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng: Bị đơn đang cư trú tại phường Q, tỉnh Thái Nguyên. Căn cứ Điều 28; Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án Khu vực 1 -Thái Nguyên là đúng quy định. Anh T có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 227 BLTTDS, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn. Các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án đều đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

2. Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị O và anh Dương Văn T là hợp pháp. Quá trình chung sống chị O và anh T phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, anh chị ly thân từ năm 2021 đến nay. Chị O xác định không còn tình cảm với anh T mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng và đề nghị được ly hôn. Bị đơn, anh T trong Bản tự khai đồng ý ly hôn với chị O và xin vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên tòa. Như vậy, có thể khẳng định mâu thuẫn vợ chồng giữa chị O và anh T đã ở mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc chị O đề nghị ly hôn là có căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình nên chấp nhận.

3. Về con chung: Chị Trần Thị O và anh Dương Văn T có 01 con chung là cháu Dương Gia H, sinh ngày 16/5/2017. Hội đồng xét xử thấy, chị O có nguyện vọng nuôi cháu H, anh T trong bản tự khai cũng đồng ý để chị O trực tiếp nuôi cháu H. Về điều kiện nuôi con: hiện nay chị O đang sinh sống cùng bố mẹ đẻ, có quầy bán hoa quả tại nhà thu nhập khoảng 12.000.000 đồng/ tháng, cháu H từ bé đã ở với chị và cũng đang theo học gần nhà. Cháu H trong bản tự khai cũng có nguyện vọng ở với mẹ. Hội đồng xét xử thấy, đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các đương sự nên chấp nhận, giao cháu H cho chị O trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Việc cấp dưỡng nuôi con Tòa án không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.

4. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có, không giải quyết.

5. Về án phí: Chị O phải nộp án dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.

Xét ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về nội dung vụ án là có căn cứ chấp nhận. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 28; Điều 35, Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 227 BLTTDS năm 2015. Áp dụng Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Luật Phí và lệ phí số 97 năm 2016; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Trần Thị O. Cho chị Trần Thị O được ly hôn với anh Dương Văn T.

2. Về con chung: Giao con chung là Dương Gia H, sinh ngày 16/5/2017 cho chị Trần Thị O trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi cháu H đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác. Anh T được quyền đi lại thăm nom con chung.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do nguyên đơn không yêu cầu.

3. Về tài sản chung, công nợ chung: Không có. Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Án phí: Chị Trần Thị O phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí sang theo biên lai thu số 0001126 ngày 28/5/2025 của Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Nguyên (nay là Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 – Thái Nguyên).

5. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Tứ Xuân

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND KV1-Thái Nguyên ;
  • - Phòng THADS KV1-Thái Nguyên;
  • - UBND P. Quan Triều, tỉnh Thái Nguyên;
  • - Các ĐS;
  • - Lưu.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 16/07/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN về ly hôn

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc giữa chị Nguyễn Thị L và anh Vũ Duy D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger