Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ THÁI HÒA

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 16 tháng 6 năm 2025

(V/v kiện xin ly hôn,

tranh chấp nuôi con chung)

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Ngô Sỹ Lượng

2. Bà Phan Thị Thanh Thủy

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Thương- Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Thái Hòa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân, Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2025/TLST- HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “ Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2025/QĐST-HNGĐ ngày 29/5/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L năm: 1996 (Có mặt)Trú tại: Xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An

Bị đơn: Anh Phùng Xuân P năm: 1993 (Vắng mặt) ;

Trú tại: K, phường L, thị xã T, tỉnh Nghệ An

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn đề ngày 03 tháng 01 năm 2025 và các bản khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như quá trình xét xử tại Tòa án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị L1 trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L2 anh Phùng Xuân P1 hôn với nhau vào ngày 04/5/2023 tại UBND xã N, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống của hai người không hợp nhau, dẫn đến khúc mắc không thể hòa giải được, đến tháng 10/2023 thì chị L3 về bên ngoại sinh sống. Hai người sống ly thân từ đó đến nay. Hiện tại chị L4 thấy không còn tình cảm vợ chồng và không thể tiếp tục chung sống với anh P2 nên có nguyện vọng được ly hôn với anh Phùng Xuân P3

+ Về con chung: Chị Nguyễn Thị L5 bày: Chị L2 anh P có 01 con chung là: Phùng Mỹ Asinh ngày 15/7/2021, hiện nay chị L6 trực tiếp nuôi con chung.

Nay ly hôn chị L7 nguyện vọng tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Phùng Mỹ A ngày 15/7/2021.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

+ Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn anh Phùng Xuân P4 mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án;

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án nhân dân thị xã Thái Hòa, tỉnh Nghệ An đã tống đạt hợp lệ cho anh Phùng Xuân P3 nhưng anh P4 mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có tiến hành xác minh tại khối L, phường L anh P sống sau khi kết hôn, đại diện Ban cán sự khối cung cấp: chị L2 anh P5 chung sống với nhau ở khối L, phường L, thị xã T nhưng hai người chỉ chung sống với nhau một thời gian ngắn thì chị L đi đâu, làm gì không rõ. Quá trình chung sống vợ chồng có mâu thuẫn hay không ban cán sự khối không nắm được; chị L2 anh P5 01 con chung, quá trình nuôi con không ai có hành vi vi phạm việc chăm sóc con chung.

Tòa án tiến hành xác minh tại xóm N, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ Annơi chị L7 hộ khẩu thường trú. Ban cán sự xóm cung cấp: Về nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng Ban cán sự xóm không nắm được. Vợ chồng có 01 con chung, quá trình nuôi con chị L8 có hành vi vi phạm việc chăm sóc, giáo dục con.

Ý kiến của đại diện viện kiểm sát: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đúng quy định của pháp luật.

Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi nộp đơn, thụ lý vụ án cho đến khi xét xử thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn anh Phùng Xuân P3 trong quá trình giải quyết vụ án vắng mặt không lý do. Nên không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 và Điều 72- BLTTDS

Về quan điểm giải quyết vụ án: Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271, 273 –BLTTDS; Các điều 19; Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 57, các Điều 81, 82, 83 - Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L1 cho chị Nguyễn Thị L9 ly hôn với anh Phùng Xuân P3

Về con chung: Giao cho chị L9 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục 01 con chung của chị L2 anh P là: Phùng Mỹ A1, sinh ngày 15/7/2021.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị L không yêu cầu nên không xem xét.

Về quan hệ tài sản: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.

Về án phí: Buộc chị Nguyễn Thị L10 chịu án phí theo quy định của pháp luật;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị L11 cầu Tòa án nhân dân thị xã Thái Hoà giải quyết ly hôn với anh Phùng Xuân P6 cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thị xã Thái Hoà, tỉnh Nghệ An. Bị đơn anh P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do nên Tòa án xét xử vụ án vắng mặt anh P là đúng quy định tại khoản 2 điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về tình cảm: Thấy rằng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị L2 anh Phùng Xuân P3 là hoàn toàn tự nguyện, hợp pháp và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, tỉnh Nghệ Anvào ngày 04/5/2023. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Hai người chung sống hạnh phúc được thời gian đầu. Sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do tính cách, quan điểm sống của hai người không hợp nhau, dẫn đến khúc mắc không thể hòa giải được, hai người sống ly thân từ tháng 10/2023 đến nay, không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị L không còn tình cảm vợ chồng với anh P2 mà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ cho anh P nhưng anh P7 có mặt trong quá trình Tòa án giải quyết, xét xử vụ án. Như vậy anh P8 không có ý thức hòa giải với chị L12 việc chị L13 ly hôn. Thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên cần chấp nhận yêu cầu của chị L cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn anh Phùng Xuân P3 là phù hợp.

[2.2] Về việc nuôi con: Chị Nguyễn Thị L2 anh Phùng Xuân P3 có 01 con chung là Phùng Mỹ A ngày 15/7/2021. Hiện nay, cháu Phùng Mỹ A2 sinh sống với chị LChị Nguyễn Thị L1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Thấy rằng từ lúc vợ chồng ly thân đến nay chị L14 người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Quá trình nuôi con, chị L15 có hành vi vi phạm gì. Vì vậy cần giao con chung là Phùng Mỹ A ngày 15/7/2021 cho chị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L1 không yêu cầu nên không xem xét;

[2.3] Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên miễn xét.

[2.4] Về án phí: Cần buộc chị Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35; Điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 271, 273 - BLTTDS; Các điều 19; Điều 51; Khoản Điều 56; Điều 57; Điều 818283 - Luật Hôn nhân và gia đình xử:

- Về tình cảm: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị L1, cho chị Nguyễn Thị L1 được ly hôn anh Phùng Xuân P3

- Về con chung: Giao cho chị Nguyễn Thị L1 được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 con chung của chị L2 anh P9: Phùng Mỹ Asinh ngày 15/7/2021 cho đến khi con chung trưởng thành.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị L1 không yêu cầu nên không xem xét; Anh Phùng Xuân P3 có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, ngăn cấm.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

- Về quan hệ tài sản: Chị Nguyễn Thị L1 không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên không xem xét;

- Về án phí: Áp dụng khoản 4 Điều 147 - BLTTDS và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị L1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí LHST. Đã nộp đủ theo biên lai số 0007071 ngày 14/02/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Thái Hòa.

- Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ an trong hạn 15 ngày kể từ nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân TX Thái Hòa;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS TX Thái Hòa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Thái Thị Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 16/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN về kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ THÁI HÒA, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Lan - Pho
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger