Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 14/3/2025

V/v:"ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Xuân Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phú Anh Lân.
  2. Bà Lê Thị Hường.

-Thư ký phiên tòa: Bà Lương Nữ Vân Kiều-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền –Kiểm sát viên.

Ngày 14/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 312/2024/TLST-HNGĐ ngày 17/10/2024 về việc "ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/02/2025,Quyết định hoãn phiên tòa số 12/2025/QĐHNGĐ-ST ngày 26/02/2025 giữa các đương sự:

-Nguyên đơn: Bà Đàng Nữ T -sinh năm 1998 (có mặt)

Trú tại: Thôn T, xã P, huyện N, Ninh Thuận.

-Bị đơn: Ông Thạch Ngọc D -sinh năm 1991 (vắng mặt).

Trú tại: Khu phố A, thị trấn P, huyện N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đàng Nữ T trình bày:

Bà và ông Thạch Ngọc D tự nguyện chung sống với nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn tại UBND xã P-N năm 2023. Quá trình vợ chồng sống xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cải vả. Ông D ham chơi bài bạc cá độ, nợ nần, ông D còn có thái độ hỗn xược đánh mẹ vợ, mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên từ tháng 5 năm 2024 ông D bỏ đi về nhà cha mẹ ruột tại Khu phố A, thị trấn P, huyện N ở một thời gian, sau đó ông D đi đâu không rõ cho đến ngày hôm nay, vợ chồng không qua lại với nhau. Tình cảm vợ chồng không còn, nên bà yêu cầu ly hôn với ông D.

Về con chung: Bà và ông Thạch Ngọc D có 01 con chung tên Thạch Linh Đ-sinh ngày 21/4/2023. Trong khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân, thì con sống cùng với bà tại địa phương thôn T, xã P Ông D không quan tâm vợ con, không chu cấp tiền nuôi con. Khi ly hôn, bà yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung: không có.

Bị đơn ông Thạch Ngọc D: Vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý hồ sơ cho đến phiên tòa xét xử hôm nay nên không có lời trình bày.

Chính quyền địa phương khu phố A, thị trấn P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông Thạch Ngọc D cư trú xác nhận: Hiện ông D không có mặt tại địa phương, ông D đi đâu và làm gì thì địa phương không rõ, ông D không đăng ký tạm vắng tại địa phương.

Chính quyền địa phương thôn T, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận-nơi ông Thạch Ngọc D và bà Đàng Nữ T chung sống xác nhận: ông D và bà T chung sống thường xảy ra cải nhau. Hiện bà T đang nuôi con tại địa phương, còn ông D bỏ đi đâu không rõ đã một năm nay, không thấy vợ chồng qua lại với nhau.

Lời khai của bà Đàng Thị C-là mẹ ruột của Đàng Nữ T cho biết: Năm 2022, gia đình có tổ chức cưới chồng cho con gái Đàng Nữ T. Chồng của T tên Thạch Ngọc D. Sau khi cưới vợ chồng T-D chung sống cùng với vợ chồng bà tại thôn T-xã P (theo chế độ mẫu hệ thì chồng phải về ở rể bên nhà vợ). Vợ chồng T-Da chung sống thường xảy ra cải vả. Da không lo làm ăn, ham chơi bài bạc nợ nần. Mỗi khi T khuyên thì vợ chồng lại to tiếng. Trong tháng 5 năm 2024, thấy con rể đối xử tệ với con gái nên bà có khuyên can thì D lại có hành động đánh bà bị chảy máu miệng. Sau đó D bỏ đi cho đến nay. Nay bà đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát huyện N phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử (HĐXX) nghị án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và thư ký phiên tòa luôn tuân theo pháp luật tố tụng; Nguyên đơn luôn chấp hành pháp luật. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa nhưng Tòa án đã thực hiện tống đạt thủ tục tố tụng theo quy định và xét xử vắng mặt bị đơn là đúng pháp luật. Về nội dung: đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về hôn nhân bà Đàng Nữ T được ly hôn với ông Thạch Ngọc D. Về con chung có 01 người con nên giao cho bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu giải quyết. Về án phí ly hôn sơ thẩm bà T phải chịu theo pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên. HĐXX sơ thẩm nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Đàng Nữ T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn ông Thạch Ngọc D, yêu cầu được nuôi con. Đơn kiện đảm bảo về nội dung, hình thức. Bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện N. Căn cứ Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của BLTTDS, HĐXX xác định đây là vụ án Dân sự loại Hôn nhân gia đình về việc “ly hôn, tranh chấp nuôi con” và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đối với bị đơn ông Thạch Ngọc D vắng mặt trong suốt quá trình từ khi thụ lý vụ án, tiến hành phiên hòa giải, đến khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa, mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng theo quy định của BLTTDS, nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 BLTTDS, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đàng Nữ T và ông Thạch Ngọc D tự nguyện chung sống với nhau, có giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 93, ngày 19/5/2023 tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện N, nên xác định là hôn nhân hợp pháp. Quá trình sống chung vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không hợp nhau. Vợ chồng đang sống ly thân, không quan tâm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng T-Da có sự xác nhận của chính quyền địa phương và bà Đàng Thị C-là mẹ ruột của T.

Xét thấy, hôn nhân của giữa bà T và ông D đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, căn cứ Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.

[3] Về con chung: Bà T và ông D có 01 người con chung tên Thạch Linh Đ (con gái)-sinh ngày 21/4/2023. Hiện con đang sống cùng với bà T. Khi ly hôn bà T yêu cầu được nuôi con, không yêu cầu ông D cấp dưỡng.

Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử ông D vắng mặt, không có ý kiến gì đối với yêu cầu nuôi con của bà T, từ khi vợ chồng sống ly thân chính bà T đã trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung.

Xét thấy, hiện con đang sống cùng với bà T và bà T chăm sóc con tốt, ông D không quan tâm đến con, không chu cấp tiền nuôi con. Xét yêu cầu nuôi con của bà T là cần thiết để đảm bảo cho con phát triển được tốt và phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên muốn sống cùng với mẹ (T). Vì vậy HĐXX căn cứ Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận giao 01 người con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu, nên HĐXX không xét.

[5] Về án phí: Bà T phải chịu án phí theo pháp luật.

[6] Căn cứ vào những phân tích trên, xét thấy quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước là phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39; Khoản 4 Điều 147; Điểm a, b Khoản 2 Điều 227 và Khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Khoản 1 Điều 6, Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  1. Về hôn nhân: Bà Đàng Nữ T được ly hôn với ông Thạch Ngọc D.
  2. Về con chung: Bà Đàng Nữ T có quyền và nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục 01 người con chung tên Thạch Linh Đ (con gái)-sinh ngày 21/4/2023. Ông Thạch Ngọc D không phải cấp dưỡng nuôi con chung do bà Đàng Nữ T không yêu cầu.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí: Bà Đàng Nữ T phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0004650 ngày 17/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước-Ninh Thuận. Bà Đàng Nữ T đã nộp đủ án phí.
  5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm có mặt nguyên đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt bị đơn-quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày niêm yết bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • -TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND tỉnh Ninh Thuận;
  • -VKSND huyện Ninh Phước;
  • -Chi cục THADS huyện Ninh Phước;
  • -Các đương sự;
  • -UBND xã Phước Hữu;
  • -Lưu (hồ sơ, án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thị Xuân Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger