TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 13-02-2025
V/v ly hôn giữa bà T và ông H
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trịnh Thị Kim Quyên.
- Ông Nguyễn Văn Út.
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 692/2024/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 12 năm 2024 về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Hồ Thị Thanh T, sinh năm: 1990;
- Bị đơn: ông Đặng Quốc H, sinh năm: 1990;
Địa chỉ: Ấp D, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
(Bà T có mặt; ông H có đơn xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và bản tự khai đề ngày 02/12/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T trình bày:
Về hôn nhân: bà T và ông H cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/2017 ngày 30/5/2017, hôn nhân tự nguyện. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi con được 08 tháng tuổi thì phát sinh mâu thuẫn, bà T về nhà mẹ ruột sinh sống, vợ chồng cũng sống ly thân và từ năm 2021 đến nay thì không còn liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do cả hai không có tiếng nói chung, không hợp nhau về tính cách lẫn lời nói, cả hai thừa nhận với nhau không còn tình cảm, không còn nói chuyện được với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tạo cơ hội cho nhau nhưng không hòa hợp được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H.
Về nuôi con chung: vợ chồng có 01 con chung tên Đặng Hồ Nhã P, sinh ngày 30/7/2017, hiện nay đang sống chung với bà T. Khi ly hôn, bà T yêu cầu tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
- Tại bản tự khai đề ngày 15/01/2025, bị đơn ông Đặng Quốc H trình bày:
Về hôn nhân: ông và bà T có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C vào ngày 30/5/2017. Nay bà T yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
Về nuôi con chung: có 01 con chung tên Đặng Hồ Nhã P, sinh ngày 30/7/2017. Ông H đồng ý để bà T tiếp tục nuôi con và ông H không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Bà Hồ Thị Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Đặng Quốc H. Ông H là bị đơn hiện đang cư trú tại xã L, huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện C.
[1.2] Ông Đặng Quốc H có đơn đề nghị giải quyết vụ án vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Về hôn nhân: bà T và ông H cưới nhau năm 2016, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C và được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 41/2017 ngày 30/5/2017 nên xác định hôn nhân giữa bà T và ông H là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nguyên đơn bà T trình bày sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khi con được 08 tháng tuổi thì phát sinh mâu thuẫn, bà T về nhà mẹ ruột sinh sống, vợ chồng cũng sống ly thân và từ năm 2021 đến nay thì không còn liên lạc với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn do cả hai không có tiếng nói chung, không hợp nhau về tính cách lẫn lời nói, cả hai thừa nhận với nhau không còn tình cảm, không còn nói chuyện được với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tạo cơ hội cho nhau nhưng không hòa hợp được. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T yêu cầu được ly hôn với ông H. Bị đơn ông H trình bày đồng ý ly hôn với bà T. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông H đã trầm trọng, không thể hàn gắn được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông H.
[2.2] Về nuôi con chung: bà T và ông H có 01 con chung tên Đặng Hồ Nhã P, sinh ngày 30/7/2017. Hiện nay, bà T đang trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Bà T yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, ông H đồng ý. Hội đồng xét xử xét thấy, con chung Đặng Hồ Nhã P hiện đang sống chung với bà T, cuộc sống ổn định và cháu P có nguyện vọng được chung sống với bà T. Điều này phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đặng Hồ Nhã P. Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, bà T trình bày không yêu cầu ông H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản chung và nợ chung: bà T và ông H xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về án phí: bà Hồ Thị Thanh T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 85 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Hồ Thị Thanh T về việc yêu cầu ly hôn đối với bị đơn ông Đặng Quốc H.
- Về hôn nhân: bà Hồ Thị Thanh T được ly hôn với ông Đặng Quốc H.
- Về nuôi con chung: bà T và ông H có 01 con chung tên Đặng Hồ Nhã P, sinh ngày 30/7/2017. Bà Hồ Thị Thanh T được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung Đặng Hồ Nhã P. Ông Đặng Quốc H không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn, cha mẹ có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về án phí: bà Hồ Thị Thanh T phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp theo biên lai thu số 0012876 ngày 06 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, bà T đã nộp đủ.
- Về quyền kháng cáo bản án sơ thẩm: đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/02/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
