|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 11-4-2025
V/v tranh chấp “Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Vũ Khắc Quế
- Bà Lê Thị Thanh Nhàn
- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Anh Đào- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Linh- Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số 324/2024/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2025/QĐST-HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
+ Nguyên đơn: Bà Hà Thị Hạnh L, sinh năm 1982; Địa chỉ: Hẻm A L, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
+ Bị đơn: Ông Vũ Đình Thanh A, sinh năm 1979; Địa chỉ: Hẻm B đường L, Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn nộp ngày 05/8/2024 và những lời trình bày của nguyên đơn bà Hà Thị Hạnh L thể hiện như sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Vũ Đình Thanh A tự quen biết nhau từ khoảng năm 2004, sau đó hai bên tìm hiểu đến năm 2007 thì tổ chức lễ cưới và chung sống cùng nhau, việc chung sống là tự nguyện và được gia đình hai bên đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 99/2007 quyển 01/2007, ngày 26/9/2007.
Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống bình thường, từ năm 2010 thì vợ chồng sống không hạnh phúc nguyên nhân do ông A không có sự quan tâm đến bà L và gia đình bà, vợ chồng cũng ít nói chuyện, không chia sẻ cuộc sống thường ngày với nhau. Đến khoảng năm 2015 thì ông A không đi làm mà tụ tập bạn bè đi đá gà thỉnh thoảng cũng có đưa cho bà L một vài trăm ngàn, còn lại bà L phải lo kinh tế trong gia đình từ việc trả tiền thuê nhà, tiền ăn uống sinh hoạt của gia đình và tiền học của con. Đến khoảng cuối năm 2021 do cuộc sống vợ chồng ngày càng khó khăn về kinh tế, tình cảm vợ chồng cũng lạnh nhạt nên không ai nói chuyện gì với nhau kể cả các công việc trong gia đình và con cái, ông A cũng không có công ăn việc làm gì ổn định mà chỉ đi đá gà nên không phụ giúp kinh tế cho gia đình, không lo được cho các con. Do vậy từ tháng 8/2024 bà L và ông A đã sống ly thân, ông A có qua gặp bà L, vợ chồng cũng nói chuyện nhưng bà L thấy cuộc sống không mang lại hạnh phúc nên bà L không đồng ý về chung sống với ông A.
Nay do tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Vũ Đình Thanh A.
- Về con chung: Bà L và ông A có 02 con chung là Vũ Hà Trúc L1, sinh ngày 19/02/2008 và Vũ Hà Hải Đ, sinh ngày 07/4/2012. Ly hôn bà L đồng ý giao cả 02 con chung cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng.
- Về tài sản chung: Bà L xác nhận không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L cam kết vợ chồng không vay nợ chung ai nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Tại bản tự khai, trong quá trình làm việc bị đơn ông Vũ Đình Thanh A trình bày:
-Về quan hệ hôn nhân: Ông A thừa nhận ông và bà L đăng ký kết hôn năm 2007 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, hôn nhân tự nguyện. Sau khi chung sống vợ chồng ở trọ nhiều nơi đến năm 2022 về sống với nhà nội. Giữa ông và bà L không xảy ra mâu thuẫn gì nhưng ông và bà L cũng không còn chung sống cùng nhau từ tháng 08/2024, bà L bỏ về nhà ngoại sống cũng không nói gì với ông, còn ông sống cùng mẹ đẻ, ông có qua nói chuyện với bà L 02 lần nhưng bà L không đồng ý quay về chung sống cùng ông.
Nay do ông còn tình cảm với bà L nên ông không đồng ý ly hôn.
-Về con chung: Ông A trình bày ông và bà L có 02 con chung là Vũ Hà Trúc L1, sinh ngày sinh ngày 19/02/2008 và Vũ Hà Hải Đ, sinh ngày 07/4/2012. Trường hợp nếu bà L cương quyết yêu cầu ly hôn thì ông A có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông A xác nhận vợ chồng không có tài sản chung, không vay nợ chung ai.
Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn bà L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông A được tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
- Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ và hợp lý nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 51; Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà L về việc ly hôn với ông Vũ Đình Thanh A; căn cứ Điều 81 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 giao 02 con chung là cháu Vũ Hà Trúc L1 và Vũ Hà Hải Đ cho ông A tiếp tục nuôi dưỡng; về cấp dưỡng nuôi con ông A không yêu cầu nên không đề cập giải quyết, về tài sản chung, nợ chung: Không đề cập giải quyết;
- Về án phí: Đề nghị buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
-
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
-
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là tranh chấp về hôn nhân gia đình được pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
-
Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn cư trú tại Phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng, nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
-
-
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Hà Thị Hạnh L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông Vũ Đình Thanh A vắng mặt lần thứ hai không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Theo quy định tại khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
-
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Hà Thị Hạnh L và ông Vũ Đình Thanh A chung sống với nhau từ năm 2007, việc chung sống là tự nguyện, có tổ chức lễ cưới và được hai bên gia đình đồng ý. Vợ chồng có đăng ký kết hôn lại tại UBND phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng ngày 26/9/2007. Đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án bà L trình bày vợ chồng xảy ra mâu thuẫn từ năm 2010 do ông A không quan tâm đến bà L và gia đình bà, không có công việc ổn định, không phụ giúp về kinh tế với bà L, vợ chồng cũng không nói chuyện, chia sẻ công việc với nhau nên từ tháng 08/2024 bà và ông A đã sống ly thân, ông A có qua nói chuyện nhưng bà L nhận thấy vợ chồng không mang lại hạnh phúc nên không đồng ý quay về chung sống cùng ông A.
Do bà L không còn tình cảm gì với ông A, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Vũ Đình Thanh A.
Còn ông A cho rằng lý do ly hôn của bà L là không chính đáng, bà L đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở nên ông và bà L đã sống ly thân từ tháng 08/2024, mặc dù ông có thuyết phục bà L nhưng không thành, tuy nhiên ông vẫn còn tình cảm với bà L nên không đồng ý ly hôn.
Hội đồng xét xử thấy rằng qua lời trình bày của các đương sự và kết quả xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy giữa bà L và ông A có xảy ra mâu thuẫn trong thời gian chung sống nên vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 08/2024, ông A có tác động hàn gắn tình cảm nhưng bà L không đồng ý. Tòa án đã triệu tập ông A nhiều lần để hòa giải hàn gắn tình cảm nhưng ông A không đến Tòa án làm việc vì vậy xét thấy ông A cố tình kéo dài thời gian gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Đồng thời ông A cũng không có phương án hàn gắn tình cảm nên bà L và ông A vẫn sống ly thân điều đó chứng tỏ mâu thuẫn hôn nhân giữa bà L và ông A đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, cần áp dụng khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Điều 39 Bộ luật dân sự, xử cho bà L và ông A được ly hôn là có cơ sở và đúng pháp luật.
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Qua lời thừa nhận của bà L và ông A cùng các tài liệu, chứng cứ do các bên xuất trình xác định bà L và ông A đã có với nhau 02 con chung tên là Vũ Hà Trúc L1, sinh ngày 19/02/2008 và Vũ Hà Hải Đ, sinh ngày 07/4/2012.
Xét thấy, qua xem xét nguyện vọng của cháu L1 và cháu Đ cùng ý kiến trình bày của bà L, ông A thì thấy rằng từ khi bà L và ông A sống ly thân thì cháu L1 và cháu Đ lúc sống cùng ông A có lúc sống với bà L, cả bà L và ông A vẫn có trách nhiệm lo cho các con, nay ông A có nguyện vọng được nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con, còn bà L cũng đồng ý giao 02 con chung cho ông A nuôi dưỡng nên cần căn cứ Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình cần giao 02 con chung là cháu L1 và cháu Đ cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về việc cấp dưỡng nuôi con ông A không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà L, ông A xác định không có tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
-
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, cần buộc bà L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn theo quy định của pháp luật.
-
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 238, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 19, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình;
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hà Thị Hạnh L đối với ông Vũ Đình Thanh A.
Cho bà Hà Thị Hạnh L ly hôn với ông Vũ Đình Thanh A.
-
Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao 02 con chung là Vũ Hà Trúc L1, sinh ngày 19/02/2008 và Vũ Hà Hải Đ, sinh ngày 07/4/2012 cho ông A trực tiếp nuôi dưỡng đến khi con chung thành niên. Ông A không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con.
“Quyền đi lại thăm nom con, chăm sóc nuôi dưỡng, giáo dục con; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi con; thay đổi mức cấp dưỡng được thực hiện theo quy định của luật hôn nhân và gia đình”.
-
Về án phí: Buộc bà Hà Thị Hạnh L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm xin ly hôn, được trừ vào số tiền 300.000 đồng bà L đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tiền số 0006603 ngày 03/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án (hoặc trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết), để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa |
|
Vũ Khắc Quế |
Lê Thị Hòa |
|
Lê Thị Thanh Nhàn |
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thị Hòa |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/04/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà L yêu cầu ly hôn với ông A
