Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÔ LƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 09 – 4 – 2025

“V/v ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Hà.

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Trần Văn Hải.

- Bà Trần Thị Minh Hợi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Trúc Hà – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam – Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 37/2025/HNGĐ-ST ngày 26 tháng 02 năm 2025 về việc “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 25/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị L. Sinh năm 200x. Địa chỉ xóm A, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Công H. Sinh năm 198x. Địa chỉ xóm A, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/4/202x. Từ khi kết hôn đến năm 2023 vợ chồng sống hạnh phúc. Từ năm 2024 đến nay hai người sống ly thân. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống và ông Nguyễn Công H thường xuyên có hành vi đánh đập bà Phạm Thị L. Đến nay bà Phạm Thị L thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho bà Phạm Thị L được ly hôn ông Nguyễn Công H.

- Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H có 01 (Một) con chung là Nguyễn Công D – sinh ngày 23/10/202x. Hiện nay bà Phạm Thị L không mang thai. Ly hôn thì bà Phạm Thị L đề nghị Tòa án giao con chung cho bà Phạm Thị L được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Thị L đề nghị Tòa án buộc ông Nguyễn Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định pháp luật.

- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bị đơn trình bày như sau: Ông Nguyễn Công H đồng ý với ý kiến trình bày của bà Phạm Thị L về thời gian đăng ký kết hôn, thời gian ly thân, nguyên nhân mâu thuẫn, con chung. Đến nay ông Nguyễn Công H thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông Nguyễn Công H đồng ý ly hôn với bà Phạm Thị L.

- Về con chung: Ly hôn thì ông Nguyễn Công H đề nghị Tòa án giao con chung là Nguyễn Công D – sinh ngày 23/10/202x cho ông Nguyễn Công H được quyền chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Nếu Tòa án giao cho ông Nguyễn Công H được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con chung thì ông Nguyễn Công H không đề nghị Tòa án buộc bà Phạm Thị L phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung

- Về tài sản chung, nợ chung: ông Nguyễn Công H không yêu cầu Tòa án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn.

Tại phần tranh luận: Nguyên đơn rút một phần yêu cầu khởi kiện, cụ thể là không yêu cầu ông Nguyễn Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.

Bị đơn đồng ý ly hôn và đề nghị giao con chung cho ông Nguyễn Công H chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An sau khi nhận xét, đánh giá việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, các đương sự và phân tích nội dung vụ án; đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng các Điều 51, 55, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H.

- Về con chung: Giao con chung chưa thành niên là Nguyễn Công D, sinh ngày 23/10/202x cho bà Phạm Thị L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi.

- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Phạm Thị L không yêu cầu ông Nguyễn Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên không xem xét.

- Về án phí: Buộc bà Phạm Thị L, ông Nguyễn Công H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được xem xét, thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là ông Nguyễn Công H có đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An. Bà Phạm Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con với ông Nguyễn Công H, do đó đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con chung. Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ ý kiến trình bày tại Công văn số 09 ngày 17/3/2025 của Ủy ban nhân dân xã TS và ý kiến trình bày của các đương sự, căn cứ các tài liệu chứng cứ do các đương sự cung cấp, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ xác định bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H làm thủ tục đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã TS, huyện ĐL, tỉnh Nghệ An cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 16/4/202x; việc kết hôn của hai người là trên tinh thần tự nguyện, không bị ai ép buộc, do đó hôn nhân giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H là hợp pháp. Bà Phạm Thị L có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn, nuôi con chung với ông Nguyễn Công H nên cần được xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H đều thống nhất thuận tình ly hôn. Xét việc các đương sự tự thống nhất thỏa thuận với nhau về việc ly hôn không vi phạm điều cấm của pháp luật nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, ghi nhận sự thuận tình ly hôn của bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H.

[4] Về con chung: Căn cứ các tài liệu chứng cứ do các đương sự, Ủy ban nhân dân xã Trung Sơn cung cấp và ý kiến trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử xác định trong thời kỳ hôn nhân bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H có 01 (Một) con chung là Nguyễn Công D – sinh ngày 23/10/202x.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H đều có nguyện vọng được chăm sóc, nuôi dưỡng con chung: Hội đồng xét xử thấy nguyện vọng được chăm sóc nuôi dưỡng con chung của các đương sự là chính đáng nhưng xét từ trước đến nay cháu Nguyễn Công D sống cùng với bà Phạm Thị L và ông bà ngoại. Để đảm bảo sự ổn định, hạn chế sự xáo trộn môi trường sống, giáo dục của cháu Nguyễn Công D, vì vậy Hội đồng xét xử thấy cần giao con chung Nguyễn Công D cho bà Phạm Thị L được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi đủ 18 tuổi là phù hợp.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Tại phiên tòa, bà Phạm Thị L không yêu cầu ông Nguyễn Công H phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về tài sản chung, nợ chung: Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều không yêu cầu Toà án giải quyết việc chia tài sản chung, nợ chung trong thời kỳ hôn nhân khi ly hôn nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7] Về án phí: Các đương sự tự nguyện ly hôn nên căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H mỗi người phải chịu 25% án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 55, Điều 58, Điều 71, Điều 72, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; khoản 3 Điều 11 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H
  2. Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị L được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Nguyễn Công D, sinh ngày 23/10/202x cho đến khi đủ 18 tuổi.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Không xem xét.

    Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Bên không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

    Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
  5. Trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  6. Về án phí: Buộc bà Phạm Thị L phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) do bà Phạm Thị L đã nạp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003585 ngày 26/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An. Trả lại cho bà Phạm Thị L số tiền tạm ứng án phí còn lại là 225.000đ (Hai trăm, hai mươi lăm nghìn đồng).

    Buộc ông Nguyễn Công H phải chịu 75.000₫ (Bảy mươi lăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thâm trong vụ án ly hôn.

  7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Đô Lương;
  • - Chi cục THADS huyện Đô Lương;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã TS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hồng Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 09/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔ LƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án giải quyết việc ly hôn, nuôi con giữa bà Phạm Thị L và ông Nguyễn Công H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger