TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST
Ngày : 06 - 3 - 2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hữu Trọng;
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Phan Quang Sơn;
2. Bà Nguyễn Thị Lệ Thanh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Ngọc Trà My-Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Kim Trâm-Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 234/2024/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Tô Ngọc H, sinh năm: 1980; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Lâm Văn K, sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo Đơn khởi kiện ngày 17/10/2024, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn bà Tô Ngọc H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Ngọc H và ông Lâm Văn K tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2004 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận. Quá trình sống chung, thời gian đầu vợ chồng có cuộc sống hạnh phúc. Đến năm 2022, ông K không lo làm ăn, chỉ ham chơi và nhậu nhẹt. Cuộc sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, ông K có hành vi đánh đập bà H. Ngoài ra, ông K còn không quan tâm chăm lo đến vợ con, gia đình.
Hiện nay, bà không còn tình cảm với ông K nữa nên bà yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Lâm Văn K.
Về con chung: Bà Tô Ngọc H và ông Lâm Văn K có với nhau 02 con chung là Lâm Thị Thảo N, sinh năm: 2004 và Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008. Khi ly hôn, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng cháu K1. Đối với cháu N đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Về cấp dưỡng: Dù được Tòa án giải thích người trực tiếp nuôi con chung quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung để bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên, nhưng bà H vẫn không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Lâm Văn K trình bày:
Ông Lâm Văn K thừa nhận giữa ông và bà Tô Ngọc H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 22/11/2004 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận như bà H trình bày. Quá trình chung sống, vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn gì đáng kể. Vì ông K làm ăn sa sút nên bỏ đi, ông K và bà H không sống chung với nhau đến nay khoảng 03 năm. Nay ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà H.
Ông Tô Ngọc H thừa nhận giữa ông và bà Tô Ngọc H có có với nhau 02 con chung là Lâm Thị Thảo N, sinh năm: 2004 và Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008. Ông đồng ý giao cháu K1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông không cấp dưỡng nuôi con chung. Cháu N đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không yêu cầu giải quyết.
Ông K không yêu cầu Tòa án giải quyết tài sản chung, nợ chung.
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Tô Ngọc H có đơn đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải. Do vậy, Tòa án lập biên bản xác nhận vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Tại phiên tòa, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trình tự, thủ tục giải quyết vụ án được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo đúng quy định của pháp luật. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Ngọc H: Cho bà Tô Ngọc H được ly hôn với ông Lâm Văn K. Giao con chung Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Con chung Lâm Thị Thảo N, sinh năm: 2004 đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên không xem xét. Về cấp dưỡng, tài sản chung, nợ chung, do các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xem xét tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
- Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Tô Ngọc H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Lâm Văn K; yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008. Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án ly hôn, tranh chấp nuôi con, do bị đơn có nơi cư trú tại thôn S, xã T, huyện H nên Tòa án nhân dân huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận thụ lý, giải quyết là đúng quy định tại Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Tô Ngọc H, bị đơn ông Lâm Văn K vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Ngọc H và ông Lâm Văn K kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện H, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 58/2004 ngày 22/11/2004. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, bà H và ông K đủ điều kiện kết hôn nên quan hệ hôn nhân giữa bà H, ông K là hợp pháp.
- Xét yêu cầu khởi kiện của bà Tô Ngọc H về việc ly hôn với ông Lâm Văn K, Hội đồng xét xử thấy: Bà H yêu cầu ly hôn với ông K vì cho rằng vợ chồng bà phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống. Nguyên nhân do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn trong thời gian dài, ông K không quan tâm, chăm lo đến gia đình, con cái, chỉ ăn chơi và nhậu nhẹt. Ông K còn có hành vi đánh đập bà. Quá trình giải quyết vụ án, ông K cũng thừa nhận vì ông làm ăn sa sút mà vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và không sống chung với nhau khoảng 03 năm nay. Ông K đồng ý ly hôn theo yêu cầu ly hôn của bà H. Với những chứng cứ trên, có đủ cơ sở để khẳng định quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
- Về con chung: Bà Tô Ngọc H và ông Lâm Văn K có với nhau 02 con chung là Lâm Thị Thảo N, sinh năm: 2004 và Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008. Khi ly hôn, bà H yêu cầu Tòa án giao con chung Lâm Vĩ K1 cho bà trực tiếp nuôi dưỡng và được ông K đồng ý, điều này phù hợp với nguyện vọng của cháu K1. Do đó, cần giao cháu K1 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Đối với cháu Lâm Thị Thảo N đã đủ 18 tuổi và có khả năng lao động nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về cấp dưỡng: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã giải thích quyền yêu cầu cấp dưỡng của người trực tiếp nuôi con để bảo vệ quyền lợi cho con chưa thành niên nhưng nguyên đơn không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
- Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 235, Điều 264, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Điều 8, Điều 9, Điều 19, Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- Điểm a Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Tô Ngọc H:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Tô Ngọc H được ly hôn với ông Lâm Văn K;
- Về con chung: Giao con chung Lâm Vĩ K1, sinh ngày: 01/3/2008 cho bà Tô Ngọc H trực tiếp nuôi dưỡng.
Ông Lâm Văn K có quyền thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Vì quyền lợi của các con chung, các đương sự có quyền yêu cầu Toà án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn.
- Về án phí: Bà Tô Ngọc H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí mà bà H đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010980 ngày 23/10/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Hàm Tân. Bà Tô Ngọc H đã nộp đủ án phí.
- Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hữu Trọng |
Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM TÂN, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn
