TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 09/2025/HNGĐ – ST.
Ngày: 05/6/2025
V/v : Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN - TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Ngọc Trọng
Ông Nguyễn Viết Mai.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Khánh Linh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân Thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang- Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 20/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 về việc: Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn M - Sinh ngày 10/10/ 1965 “Vắng mặt”
Địa chỉ: TDP T, phường T, Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa
(Ông M có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Bà Hà Thị T - Sinh ngày 06/8/1964 “ Vắng mặt”
Địa chỉ : TDP T, phường T, Thành phố S,tỉnh Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Lê Văn M trình bày:
Về hôn nhân: Ông và bà Hà Thị T kết hôn với nhau năm 1985 trên cơ sở tự nguyện, tìm hiểu có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, quan điểm sống khác nhau, không có tiếng nói chung dẫn tới vợ chồng thường xuyên cãi vã . Do mâu thuẫn nên ông bà đã sống ly thân nhau nhiều năm nay, không còn ai quan tâm đến ai nữa. Nay ông xét thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T
Về con: Ông bà có 02 con chung: Anh Lê Nhữ S, sinh ngày 07/2/1986 và cháu Lê Nhữ V, sinh ngày 27/5/1987 . Hiện nay các con ông bà đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi dân sự nên ông bà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Ông M không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai bị đơn bà Hà Thị T trình bày:
Về hôn nhân: Bà T thống nhất với ông M về thời gian kết hôn của ông bà vào năm 1985 và có tổ chức cưới hỏi theo phong tục tập quán tại địa phương nhưng hiện nay không có giấy đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn ông bà chung sống hạnh phúc đến năm 2008 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông M có quan hệ ngoài luồng với người phụ nữ khác, liên tục về yêu cầu bà phải đưa tiền để phục vụ những thú vui của ông, từ đó dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt. Do mâu thuẫn căng thẳng nên mặc dù chung sống trong một nhà nhưng ông bà đã sống ly thân về mặt tình cảm từ năm 2022 đến tháng 02/2025 và từ tháng 02/2025 đến nay ông M đã chuyển ra ngoài sống, từ đó ông bà sống ly thân hẳn với nhau. Nay ông M có đơn xin ly hôn, bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nhưng không cần thiết phải ly hôn vì con cái đã lớn. Do đó bà không đồng ý ly hôn, đề nghị Tòa giải quyết theo quy định của pháp luật
Về con: Ông bà có hai con chung như ông M trình bày là đúng. Hiện nay các con ông bà đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi dân sự nên bà không yêu cầu Tòa giải quyết.
Về tài sản, công nợ: Không yêu cầu Tòa giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho theo quy định của pháp luật nhưng bà T không đến Tòa án tham gia phiên họp và hòa giải cũng như phiên tòa.
Tại phiên tòa hôm nay ông M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành của nguyên đơn, kể từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông M, bà T để tham gia phiên tòa nhưng ông M có đơn xin xét xử vắng mặt, bà T vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Tòa án tiến hành xử vắng mặt ông M, bà T là đúng quy định của pháp luật.
- Về nội dung: Quan hệ hôn nhân của ông M, bà T được xác lập trước ngày 03/01/1987 nên ông bà vẫn được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp (hôn nhân thực tế). Đại diện VKS đề nghị Tòa án căn cứ vào Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2016; khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án ly hôn, bị đơn cư trú tại thành phố S, tỉnh Thanh Hóa. Do vậy Tòa án thành phố S thụ lý, giải quyết là đúng quy định theo khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Mặc dù đã được tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2 để tham gia phiên tòa nhưng bà T vắng mặt không có lý do, ông M có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của BLTTDS giải quyết vắng mặt ông M, bà T là đúng quy định.
[2] Về hôn nhân: Ông Lê Văn M và bà Hà Thị T kết hôn với nhau trên tự nguyện, tìm hiểu, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương nhưng không có đăng ký kết hôn vào năm 1985. Căn cứ vào điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2016 ông M và bà T xác lập quan hệ vợ chồng với nhau từ trước ngày 03/01/1987 nhưng chưa đăng ký kết hôn được công nhận là hôn nhân thực tế và hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án ông M, bà T khai vợ chồng chung sống đã xảy ra mâu thuẫn và đã sống ly thân nhau. Kết quả thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện: Ông M bà T kết hôn với nhau, có tổ chức cưới hỏi vào năm 1985 nhưng chưa có đăng ký kết hôn. Quá trình ông bà chung sống với nhau có mâu thuẫn, nhưng mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm rõ, chỉ biết rằng hiện nay ông M và bà T không chung sống với nhau nữa.
Mặc dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà T lên Tòa án để hòa giải nhưng bà T đều vắng mặt. Điều đó cho thấy bà không có thiện chí để giải quyết mâu thuẫn vợ chồng. Trong quá trình giải quyết vụ án ông M tha thiết xin ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn của ông bà cũng đã kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, nếu có về đoàn tụ thì cuộc sống vợ chồng cũng khó có thể cải thiện được. Do đó căn cứ Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 1959; khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP xử cho ông M được ly hôn với bà T là phù hợp.
[3] Về con : Ông bà có 02 con chung là anh Lê Nhữ S, sinh ngày 07/2/1986 và cháu Lê Nhữ V, sinh ngày 27/5/1987. Hiện nay các con ông bà đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi dân sự nên ông bà không yêu cầu Tòa giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về tài sản, công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[5] Về án phí: Ông M phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật tại khoản 4 Điều 147 BLTTDS; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/QH14.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Điều 11 Luật Hôn nhân gia đình năm 1959; khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; điểm a khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 ngày 09/6/2000 của Quốc hội; điểm b khoản 4 Điều 2 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 06/1/2016; khoản 1 Thông tư liên tịch số 01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP ngày 03/1/2001 ; Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 238; khoản 1 Điều 273 BLTTDS. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí lệ phí Tòa án.
Về hôn nhân: Xử cho ông Lê Văn M được ly hôn với bà Hà Thị T
Về con: Công nhận ông bà có 02 con chung là anh Lê Nhữ S, sinh ngày 07/2/1986 và cháu Lê Nhữ V, sinh ngày 27/5/1987 . Hiện nay các con ông bà đã trưởng thành, có đầy đủ sức khỏe và năng lực hành vi dân sự nên ông bà không yêu cầu Tòa giải quyết. Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về tài sản, công nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Án phí: Ông Lê Văn M phải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông đã nộp theo biên lai số 0001376 ngày 31/3/2025 tại chi cục Thi hành án dân sự Thành phố Sầm Sơn (ông M đã nộp đủ án phí).
Ông M, bà T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết.
Nơi nhận
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hà Thị L |
Bản án số 09/2025/HNGĐ – ST ngày 05/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA về ly hôn
- Số bản án: 09/2025/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ông M được ly hôn bà T
