Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 09/2025/HNGĐ-ST

Ngày 04-4-2025

V/v: "Ly hôn, con chung giữa anh H

và chị A”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Văn Tùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Trọng Đại

Bà Nguyễn Thị Anh Quế.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thu Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Đặng Thị Phương Nhung - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 02 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982; Nơi thường trú: Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam.

Bị đơn: Chị Vũ Thị Hồng A, sinh năm 1985; Nơi thường trú: Số nhà D, H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.

Hiện đang cư trú và làm việc tại Nhật Bản.

- Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1955; Nơi thường trú: Số nhà D, H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam Định.

(Tại phiên tòa vắng mặt anh Nguyễn Văn H, chị Vũ Thị Hồng A, bà Nguyễn Thị M).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2025, bản tự khai nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H kết hôn với chị Vũ Thị Hồng A trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 5 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Sau khi kết hôn thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa hợp, hạnh phúc. Sau đó cuộc sống vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Khoảng năm 2018 chị Hồng A đi lao động tại Nhật Bản do khoảng cách xa nên vợ chồng không có thời gian quan tâm chia sẻ với nhau. Nay anh H nhận thấy tình trạng hôn nhân đã rất trầm trọng, không thể cứu vãn nên anh H làm đơn này đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Nam Định xem xét, giải quyết cho anh H được ly hôn với chị Vũ Thị Hồng A để chấm dứt tình trạng trầm trọng như hiện nay để anh sớm ổn định cuộc sống của mình.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có hai con chung cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 05-4-2010 và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B, sinh ngày 25-6-2012. Hiện nay hai con đang ở cùng anh H tại Thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Khi ly hôn anh H có nguyện vọng được nuôi dưỡng và chăm sóc cả 2 con chung. Chị Vũ Thị Hồng A hiện đang ở nước ngoài, từ thời điểm chị Hồng A đi nước ngoài thì không liên lạc và cũng không gửi tiền về cho anh H để chăm sóc các con, nên anh H đề nghị Tòa án giao cả 2 con cho anh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Anh H không yêu cầu chị Hồng A cấp dưỡng nuôi con cho anh.

Về tài sản chung: Anh H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết. Về công nợ: Hiện nay vợ chồng anh không vay nợ của ai và không cho ai vay nợ nên anh H không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết.

Nay anh H xác định tình cảm không còn, không có khả năng hàn gắn đoàn tụ. Do hiện nay chị Vũ Thị Hồng A đang cư trú và lao động tại Nhật Bản nên anh H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để vợ chồng đoàn tụ theo quy định của pháp luật.

* Tại đơn không đồng ý ly hôn ngày 06-3-2025 của chị Vũ Thị Hồng A Trình bày: Chị A và anh H quen và gặp nhau ở bên Hàn Quốc. Sau đó kết hôn và tiếp tục làm việc bên Hàn Quốc. Đến 09-12-2011 mẹ anh H chết, chị đã về Việt Nam trước vừa để thay anh H làm tròn chữ hiếu vừa để chăm con. Thời gian đầu về vợ chồng chị vẫn liên lạc cho đến giữa năm 2014 chị đã xây nhà trên mảnh đất của bố chồng cho xây. S đầu năm 2015 chị phát hiện anh H đã ngoại tình với một người phụ nữ lấy chồng H1 và có quốc tịch Hàn Quốc. Khi đó vợ chồng đã lời qua tiếng lại và kể từ sau đó vợ chồng đã cắt liên lạc với nhau và anh Nguyễn Văn H đã không gửi một đồng nào về phụ với chị nuôi con và chăm lo cho bố chồng, anh cũng không hề liên lạc cho ai ngoài em trai là Nguyễn Văn H2. Hai con chị ngày càng lớn, chi phí học hành cũng như chi phí sinh hoạt hàng ngày càng nhiều. Một mình chị không thể lo cho bố chồng và hai con đầy đủ. Vì vậy nên chị đã xin phép bố chồng cho chị sang Nhật Bản để kiếm tiền lo cho hai con và phụng dưỡng bố chồng. Bố chồng đã mang giấy tờ đất đi vay cho chị 100.000.000đ và mẹ đẻ của chị cũng đã cầm giấy tờ nhà đi vay cho chị thêm 100.000.000đ. Đến 01-10-2019 chị A sang Nhật Bản làm việc đến bây giờ mới trả hết tiền đã vay để sang Nhật Bản. Trong thời gian chị làm việc bên Nhật Bản chị vẫn liên lạc về cho các con và bố chồng, hàng tháng bố chồng chị vẫn về nhà mẹ đẻ chị lấy tiền sinh hoạt cho ba ông cháu, tiền học của hai cháu do mẹ đẻ chị trả, các vật dụng đồ dùng gia vị sinh hoạt hàng tháng và đồ ăn của hai con chị là do mẹ đẻ chị mua và làm cho hai cháu. Bố chồng chị về lấy tiền cũng sẽ mang về cho ba ông cháu sử dụng. Còn anh Nguyễn Văn H đã không liên lạc và không chăm lo cho các con chị đến tháng 10 năm 2024 anh H mới về Việt Nam. Nay chị làm đơn này xin Tòa án nhân dân tỉnh Nam định xem xét giải quyết cho mẹ con chị còn về hai con các cháu đã lớn tự mình có quyền tự quyết định ở với ai.

* Tại biên bản làm việc ngày 15 tháng 01 năm 2025 với bà Nguyễn Thị M (mẹ chị Vũ Thị Hồng A) trình bày: Bà Nguyễn Thị M là mẹ đẻ của chị Vũ Thị Hồng A đăng ký thường trú 47, đường H, phường Q, thành phố N, tỉnh Nam định hiện nay chị Vũ Thị Hồng A là thực tập sinh đang cư trú tại Nhật Bản nhưng bà Nguyễn Thị M vẫn thường xuyên liên lạc với chị Vũ Thị Hồng A qua mạng xã hội Zalo. Vì vậy bà nhất chí nhận thay cho chị Vũ Thị Hồng A các văn bản tố tụng của Tòa án liên quan vụ án hôn nhân và gia đình do có đơn khởi kiện của anh Nguyễn Văn H, bà M cam đoan sẽ có trách nhiệm thông tin lại nội dung văn bản tố tụng được nhận của Tòa án và chụp gửi lại qua mạng xã hội Zalo cho chị Hồng A được biết để thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà hôm nay, anh Nguyễn Văn H xin được vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, chị Vũ Thị Hồng A, bà Nguyễn Thị M vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nam Định phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 21; Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, thông qua việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán đã tiến hành thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, tống đạt các quyết định tố tụng theo quy định tại các Điều 170, 171, 175, 177, 220 BLTTDS năm 2015. Từ khi thụ lý vụ án, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71 BLTTDS như cung cấp chứng cứ. Bị đơn không tham gia phiên họp, phiên tòa của Tòa án là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70, Điều 72 BLTTDS. Về nội dung vụ án, theo quy định tại Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có đủ căn cứ xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A. Con chung đề nghị giao cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 05-4-2010 và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B, sinh ngày 25-6-2012 cho anh Nguyễn Văn H nuôi dưỡng, chăm sóc. Chị Hồng A không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H mà được quyền đi lại chăm sóc, thăm nom con. Tài sản chung, công nợ của anh H, chị Hồng A không đề nghị Toà án giải quyết nên không cần đề cập, giải quyết. Án phí anh H phải nộp theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Vũ Thị Hồng A đã được Tòa án thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ 2 thông qua bà Nguyễn Thị M (mẹ đẻ chị Hồng A) nhưng chị Hồng A vẫn vắng mặt. Anh Nguyễn Văn H có đơn xin xét xử vắng mặt nên theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H, chị Hồng A.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tìm hiểu, có đăng ký kết hôn vào ngày 15 tháng 5 năm 2010 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam như vậy cuộc hôn nhân này là hợp pháp.

[3] Trong quá trình chung sống giữa anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận nguyện vọng xin ly hôn của anh H để giải phóng cho hai bên là phù hợp với quy định tại Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Vợ chồng anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A có hai con chung cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 05-4-2010 và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B, sinh ngày 25-6-2012. Hiện nay hai con chung đang do anh H nuôi dưỡng, chăm sóc tại thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam. Khi ly hôn, anh H nhận trách nhiệm nuôi dưỡng chăm sóc hai con chung, anh không yêu cầu chị Hồng A phải cấp dưỡng tiền nuôi con cho anh.

[5] Xét nguyện vọng của anh Nguyễn Văn H trong việc nuôi con chung thì thấy: Cháu Nguyễn Thị Hồng N và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B đang do anh H nuôi dưỡng, chăm sóc, các cháu vẫn đang được ăn ở, cư trú ổn định, có môi trường sống tốt nhất để cho các cháu được phát triển lành mạnh cả về thể chất và tinh thần, Chị Hồng A đang cư trú và lao động tại Nhật Bản ở xa nhà. Xét thấy, việc anh H nhận trách nhiệm nuôi dưỡng, chăm sóc cháu N và cháu B là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật nên được chấp nhận, các con chung của vợ chồng anh, chị hiện nay còn nhỏ rất cần sự chăm sóc của người thân. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển mọi mặt của con chung nên cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Thị Hồng N và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B cho anh H tiếp tục được nuôi dưỡng là phù hợp với Điều 71, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

[6] Về cấp dưỡng tiền nuôi con: Trong quá trình giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn H không yêu cầu chị Vũ Thị Hồng A phải cấp dưỡng tiền nuôi con. Do đó trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra giải quyết.

[7] Về tài sản chung và công nợ: Anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A không đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[8] Về án phí ly hôn sơ thẩm anh Nguyễn Văn H phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 71 ; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử ly hôn giữa anh Nguyễn Văn H và chị Vũ Thị Hồng A.
  2. Về nuôi con chung: Giao con chung cháu Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 05-4-2010 và cháu Nguyễn Vũ Ngọc B, sinh ngày 25-6-2012 cho anh Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành và có khả năng lao động tự lập được hoặc có tài sản để tự nuôi mình. Chị Vũ Thị Hồng A không phải đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H mà được quyền chăm sóc, thăm nom con nhưng không được lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Nguyễn Văn H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ tại biên lai số 0002610 ngày 12-02-2025 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nam Định, anh Nguyễn Văn H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ, chị Vũ Thị Hồng A được quyền kháng cáo trong hạn một tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Cục THADS tỉnh Nam Định;
  • - UBND xã An Ninh;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 09/2025/HNGĐ-ST ngày 04/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH về ly hôn, con chung

  • Số bản án: 09/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, con chung giữa anh H và chị A
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger